Thứ Năm, 1 tháng 11, 2018

Trịnh Tráng nghiêm cấm quan lại cai trị hà khắc

Chúa Trịnh nào yêu cầu quan lại xử trí công việc phải lấy dân làm gốc
Trịnh Tráng (1577-1657) là con của Bình An Vương Trịnh Tùng - chúa đầu tiên của họ Trịnh. Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi chép, từ trẻ ông đã tham gia cầm binh, giúp cha dẹp giặc tứ phương. "Tháng 8 năm 1613, sai thái phó Thanh quận công Trịnh Tráng đi dẹp các xứ Yên Quảng để mở rộng bờ cõi. Đi đến đâu, nhân dân quy phụ đến đấy"; "Tháng 2 năm 1618 sai Thái phó Thanh quận công Trịnh Tráng đem thuộc tướng... đánh Khánh vương họ Mạc và bọn Trí Thủy ngụy. Đẳng giặc nghe tin đều trốn xa", sách viết. 
Với những chiến công lớn, năm 1623 khi chúa cha Trịnh Tùng bệnh nặng, Trịnh Tráng được các triều thần đề nghị giữ binh quyền. Vua Lê sau đó tiến phong Trịnh Tráng làm tiết chế các xứ thủy bộ chư dinh kiểm tổng nội ngoại bình chương quân quốc trọng sự Thái úy Thanh quốc công, được giao cho xử quyết mọi chuyện quốc gia.  
Tháng 11/1623, Trịnh Tráng được sách phong làm Nguyên soái thống quốc chính Thanh Đô Vương, chính thức trở thành chúa thứ hai của họ Trịnh.
"Thái úy Thanh quốc công Trịnh Tráng, đức nghiệp giống như người trước, anh hùng hơn hẳn đời xưa. Khi cầm quân thì trăm trận ra oai, dẹp yên bờ cõi, lúc lập kế thì lòng người đều phục, dựng lại nước nhà...", sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại lời kim sách phong tước vương cho Trịnh Tráng.

Trịnh Tráng quy định chỉ tịch thu tài sản của gia đình, thân quyến phạm nhân

Sau nhiều năm chiến tranh giữa Lê - Mạc, nước Đại Việt đi vào thế ổn định, kinh tế phát triển, mối quan hệ giữa các giai tầng xã hội trở nên phức tạp hơn. Thanh đô vương Trịnh Tráng - người nắm thực quyền cai quản đất nước - đã cho sửa một số điều luật để điều chỉnh những mối quan hệ này. Ông đặc biệt chú trọng đến bình ổn lòng dân, tạo công bằng trong xã hội. 
"Tháng 4 năm 1639, định rõ lại việc kiện tụng nhân mạng... phạm nhân chỉ bị tịch thu ruộng đất, tài sản của bản thân và vợ con. Nếu không đủ thì cho khai lấy ruộng đất, tài sản của cha mẹ, anh em làm tiền đền mạng, không được bắt đền cả họ hàng, làng xóm; coi đó là điều luật lâu dài", Đại Việt sử ký toàn thư viết.
Quan tâm đến đời sống nhân dân, chúa Trịnh Tráng cho xá một nửa thuế đinh trong nước để đỡ gánh nặng cho người dân sau chiến tranh. Ông đồng thời ra các điều luật yêu cầu người dân trung thực, chấp hành tốt việc nước. "Cấm nhân dân không được làm thư nặc danh lưu truyền chuyện không đâu để làm mê hoặc lòng người", "cấm dân gian không được mạo nhận càn chức tước để trốn binh", "trừ bỏ thói kiện cáo gian lận của bọn tiểu thương", sách Đại Việt sử ký ghi lại những thay đổi trong điều luật mà chúa Trịnh đề ra

Trịnh Tráng nghiêm cấm quan lại cai trị hà khắc, phải lấy dân làm gốc

Trong việc cai quản đất nước, chúa Trịnh Tráng rất chú trọng nhắc nhở quan lại làm việc công bằng, thanh liêm, chăm chỉ. Năm 1635, ông định ra 12 điều cấm quan cai trị hà khắc, răn cấm nha môn tra xét để đọng việc kiện tụng. Ông còn nhiều lần cho người đi nhắc nhở các quan thi hành 12 điều nghiêm răn này, để họ hiểu rõ việc chức vụ và lấy dân làm gốc.
"Vương bàn với các quan giúp việc, cho là hiện nay kỷ cương của thiên hạ cốt ở việc công bằng khám xét kiện tụng và dẹp bắt trộm cướp...", sách Đại Việt sử ký toàn thư chép. 
Chúa Trịnh Tráng cấm nhà quan trưởng, các công sở cho người ra chợ uy hiếp lấy không hàng hóa, đồ vật của khách thương mại. Nếu trái phép, quan môn có đủ chứng cứ, tang vật, sẽ phạt nặng.

Trịnh Tráng mở cửa giao thương với phương Tây

Giữa thế kỷ 17, người Bồ Đào Nha và Hà Lan mở rộng buôn bán ở Đàng ngoài. Chúa Trịnh Tráng khi đó đã mở cửa cho họ giao thương. Ông cho phép người Hà Lan và sau đó là người Nhật, Bồ Đào Nha... được mở các cửa hàng kinh doanh ở phố Hiến (Hưng Yên), khiến nơi này trở thành trung tâm mua bán sầm uất. Câu ca "thứ nhất Kinh kỳ, thứ nhì phố Hiến" ra đời bởi lẽ đó. 
Thời Trịnh Tráng, cuộc xung đột giữa Đàng trong do các chúa Nguyễn nắm quyền và Đàng ngoài do họ Trịnh cai quản (vua Lê không có thực quyền) bắt đầu. Dựa vào mối quan hệ với phương Tây, chúa Trịnh đã nhờ người Hà Lan trợ giúp thuyền, binh lính và đại bác để chống lại chúa Nguyễn. Trong cuộc chiến giữa hai Đàng những năm 1641-1644, quân đội phương Tây đã giúp sức cho họ Trịnh, nhưng bị chúa Nguyễn phá tan.

Ngọc Trúc lớn tuổi hơn vua, từng kết hôn với bác họ của vua

Đại Việt sử ký toàn thư viết, năm 1630 vua Lê Thần Tông lấy con gái của Thanh đô vương Trịnh Tráng là Trịnh Thị Ngọc Trúc, lập làm hoàng hậu. 
"Trước đây, Ngọc Trúc đã lấy bác họ vua là Cường quận công Lê Trụ, sinh được 4 con. Khi ấy, Lê Trụ bị giam trong ngục. Vương đem Ngọc Trúc gả cho vua, vua lấy vào cung. Triều thần là bọn Nguyễn Thục, Nguyễn Danh Thế nhiều lần dâng sớ can. Vua không nghe và nói: Xong việc thì thôi, lấy gượng vậy", sách viết.
Việc Trịnh Tráng ép vua lấy người hơn 12 tuổi, từng kết hôn và có con, được cho là cách để vị chúa này thâu tóm quyền lực. Ông ngoài ra giao cho các con trai mỗi người coi giữ một trấn lớn (tương đương một tỉnh), vừa để giữ yên việc nước, vừa để giữ vững quyền lực gia đình. 
Dù lạm chức để gây dựng và ổn định quyền lực của dòng họ, nhưng về cơ bản chúa Trịnh Tráng vẫn được lòng người vì làm được nhiều điều tốt, giữ yên việc nước. 
"Chúa tính trời hiếu thảo, thân ái mọi người, rộng lòng khoan thứ; khi mới cầm quyền, tuổi đã 47. Bình xong nội nạn, hòa hợp nhân dân, trong nước yên ổn, tín nhiệm nho thần, giảng cầu chính trị, chấn cử kỷ cương, mọi việc đều giao cho triều đường công luận, chúa cung kính khiêm nhường, cẩn thận giữ gìn pháp độ, ba lần đánh Thuận Hóa, chỉ dùng văn cáo để mở bảo, không muốn dụng binh đến cùng, lặn lội ở nơi xa... Cho nên cái phúc nuôi dưỡng yên ổn hòa bình thật là dày lắm...", Đại Việt sử ký toàn thư bản kỷ tục biên của Phạm Công Trứ viết.
Năm 1657, Thanh Đô vương Trịnh Tráng chết, thọ 81 tuổi, cầm quyền 34 năm, được truy tôn là Nghị Vương.

Quỳnh Trang

Chúa có nhiều cải cách giúp bình ổn, phát triển nước Đại Việt.

Trịnh Tạc (1606-1682) là con trai thứ hai của Thanh đô vương Trịnh Tráng, em của Trịnh Kiều. 9 tuổi Trịnh Tạc được ông nội là chúa Trịnh Tùng phong làm Tây quận công rồi lên tước Thái Bảo, Thái úy. Ông nhiều lần cầm binh đánh trận với nhà Nguyễn ở Đàng trong, để giữ vững bờ cõi nước Đại Việt cho nhà Lê trung hưng. Trịnh Tạc cũng được chúa cha cho tham gia bàn việc nước, giao trấn giữ xứ Sơn Nam - một trong 4 trấn quan trọng khu vực đồng bằng Bắc Bộ.
Năm 1642, con cả của chúa Trịnh Tráng là Thái úy Sùng quốc công Trịnh Kiều chết. Con trai của Kiều là Trịnh Hoành tuổi còn nhỏ nên Trịnh Tạc được cho nối ngôi thế tử. Trịnh Tạc sau đó được tiến phong làm Khâm sai tiết chế các xứ thuỷ bộ, tả tướng Thái uý Tây quốc công, cho mở phủ Khiêm Định, mọi công việc của nhà nước đều giao cho xử quyết.
10 năm sau khi chúa Trịnh Tráng vẫn đương quyền, Trịnh Tạc tiếp tục được quan lại triều đình xin tiến phong tước vương và nhà vua đồng ý cho làm Nguyên soái chưởng quốc chính Tây Định Vương. Ông trở thành vị chúa thứ ba của họ Trịnh.
Việc con thứ Trịnh Tạc được ưu ái nối ngối vương khiến một số con cháu họ Trịnh bất bình. Khi Trịnh Tạc mới được giao làm Thái úy, cho xử quyết mọi việc quốc gia, anh em của ông là Thái bảo Phù quận công Trịnh Lịch - người được giao trấn giữ xứ Sơn Tây và Hoa quận công Trịnh Sầm - trấn giữ xứ Hải Dương "hận vì bất đắc chí, liền nổi quân làm loạn", theo Đại Việt sử ký toàn thư. 
Năm 1657, khi chúa cha Trịnh Tráng chết, người con út của ông là Ninh quốc công Trịnh Toàn đang trấn giữ xứ Nghệ An và được nhiều người tín phục, cũng mưu đồ làm phản, chống lại anh trai Trịnh Tạc. Toàn sau đó bị tống giam trong ngục. 
Ổn định xong việc nhà, Trịnh Tạc sau đó được tôn lên làm Đại nguyên soái chưởng quốc chính Thượng sư Tây vương. Ông chuyên tâm chấn chỉnh quốc gia, cho cải cách kinh tế, xã hội, giáo dục, đưa nước Đại Việt đi lên. Giai đoạn Trịnh Tạc cầm quyền cũng là thời trịnh trị của họ Trịnh.

Một quan ngự sử ăn đút lót đã bị Trịnh Tạc xử tội chết


Dưới thời Trịnh Tạc, kỷ cương phép nước được làm rất nghiêm. Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại rất nhiều lần chúa Trịnh mạnh tay xử lý các quan làm sai việc nước. Trong đó, tội ăn đút lót bị Trịnh Tạc áp mức hình cao nhất - xử tử. 
"Thiêm đô ngự sử Phùng Viết Tu bẻ cong phép nước, ăn của đút lót. Việc phát giác, xử tội thắt cổ chết... Án có liên quan đến đồng tri phủ Trương Văn Lĩnh, khi còn trị nhậm ở phủ Quốc Oai có nhận của đút, phải xử tử. Văn Lĩnh đã ngoài 70 tuổi cũng đem hành hình, người đương thời ai cũng thương", Đại Việt sử ký toàn thư viết.
Nhiều quan to triều đình như Tể tướng Hình bộ Thượng thư, Đông các hiệu thư, Lại bộ hữu thị lang, Binh bộ hữu thị lang... cũng bị bãi chức tước, giáng cấp vì tự tiện sắc chỉ, cấp bằng phê cho lại điểm nha môn làm việc không đúng chức trách. 
Thậm chí, con rể của Trịnh Tạc là Nguyễn Đức Trung vì làm điều phi pháp, lạm chức, tàn nhẫn với người khác cũng bị chúa Trịnh nghiêm trị. Nguyễn Đức Trung vì có công đánh giặc nên chỉ bị bãi tước quan, tha cho tội chết, nhưng 3 người con thì bị xử tử.
"Có lệnh chỉ rằng các quan quản binh không được giữ binh lính ở nhà để xoay lấy tiền của"; "Tướng hiệu cai quản phải chăm sóc quân lính, nếu có người ốm đau thì cấp cho thuốc thang nuôi nấng"; "Khi trưng thu tiền thuế hoặc vâng mệnh đi mua hàng hóa để cung dụng, không được yêu sách ngoài lệ và mua hiếp giá rẻ để dẹp lòng dân"... Đại Việt sử ký toàn thư ghi lại một số quy định về quan chế dưới thời Trịnh Tạc.
Nghiêm trị các quan lại làm càn, chúa Trịnh Tạc đồng thời ban thưởng cho quan làm tốt việc nước. Năm 1674, ông ra một lệnh chỉ gồm hơn 10 điều răn dạy các chức ty, trong đó có yêu cầu: không được lấy lòng riêng mà xét việc nước; phải biết can gián và trình báo người làm sai; khi xử án nếu thấy án nặng phải cùng nhau xét xử để ra được bản chất vấn đề, tạo công bằng cho người dân..
.

Trịnh Tạc thu thuế đinh theo tài sản thực tế của mỗi người dân

Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết, năm 1669 chúa Trịnh Tạc quy định lại việc thu thuế đinh của nhân dân. Thay vì bổ đều mức thuế, ông cho quan đi khắp nước kiểm tra tài sản thực tế của mỗi người dân "xem nhiều hay ít, ruộng đất tốt hay xấu", rồi căn cứ vào đó thu của mỗi người mức thuế khác nhau. Quan và dân mỗi bên giữ một bản kê khai tài sản, thuế khóa để làm bằng chứng, lệ này được áp dụng lâu dài.
Là người quan tâm đến đời sống người dân, chúa Trịnh Tạc nhiều lần đi thực tế thăm dân gian. Ông lệnh cho dân xã thôn các xứ rằng: "Nếu xã thôn nào có lệnh phú dịch nặng thì khai lên, giao cho quan giám đốc bình lệ xét thực, sẽ lượng giảm bớt cho, chia san cho các xã trong huyện cùng chịu, để việc phú dịch được công bằng", Đại Việt sử ký toàn thư viết. 
Khi lũ lụt làm tổn hại nông nghiệp của 4 trấn trong nước, chúa Trịnh cho giảm tiền thuế đinh. Ông đồng thời cấm quan khuyến nông và quan hà đê đòi tiền của dân.
Những điều lệnh của Trịnh Tạc được "thiên hạ gần xa ai cùng mừng", sách Đại Việt sử ký toàn thư viết.

 Trịnh Tạc cho phúc khảo 3 khóa thi khi dư luận xôn xao có gian lận

Năm 1644, triều đình Lê - Trịnh tổ chức thi hội các nhân sĩ trong cả nước, lấy được 13 người. Kỳ thi này được tổ chức một năm sau thi Hương, thi Hương 3 năm một lần.
Khi dư luận xôn xao về việc thi cử gian lận, chúa Trịnh Tạc ngay lập tức cho phúc khảo lại các sinh đồ. "Trước đây phép thi lỏng lẻo, còn cho mang sách. Từ năm Canh tý đến nay, tuy đã cấm chỉ, nhưng vẫn chưa được chặt chẽ, người thi đỗ phần nhiều dốt dát, nhờ người làm bài, dư luận xôn xao. Đến đây, sai quan phúc khảo sinh đồ ba khoa Đinh Dậu (1657), Quý Mão (1663) và Canh Tý (1660)... Người nào đỗ vẫn được là sinh đồ, người nào hỏng phải ở lại 3 năm học tập, cho miễn tạp dịch. Nếu thi lại lần nữa vẫn không đỗ mới trở về làm dân, chịu tạp dịch. Bấy giờ hỏng đến quá nửa", sách Đại Việt sử ký toàn thư viết. 
Chúa Trịnh đồng thời nghiêm trị các quan làm sai chuyện thi cử. Ông giáng chức của Hữu đô đốc Lại quận công Trịnh Bách, đô đốc đồng tri toản quận công Trịnh Sâm vì cùng làm đề thi nhưng không biết cấm giữ thủ hạ để họ ăn đút vàng bạc, làm thi sai. Cùng năm đó, Trịnh Tạc ra lệnh "cấm tự tiện cho chức tước". Khi ấy, những kẻ được tin yêu, nhiều người xin bừa chức tước và phong tặng khiến quan tước nhũng nhiễu, nên chúa Trịnh ra lệnh này. 

Trịnh Tạc đã thuận theo ý nguyện của nhà vua trong việc đưa ai lên nối ngôi

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, năm 1662, vua Lê Thần Tông bệnh nặng đã chỉ dụ nhờ chúa Trịnh Tạc giúp đỡ, đưa con ruột của ông là Lê Duy Vũ (9 tuổi) nối ngôi. Trước đây vua chưa có con nên lấy người khác họ là Duy Tào lập làm Thái tử, nay muốn phế đi. 
Thay vì tự ý sắp đặt việc lên ngôi của vua Lê như các đời trước, Trịnh Tạc đã gọi các quan văn võ vào nhận cố mệnh. Chúa - quan sau đó đồng lòng làm theo ý nguyện của nhà vua, phế Duy Tào làm thứ dân cho theo về họ mẹ và tôn Duy Vũ làm hoàng thái tử. Cùng năm đó Lê Thần Tông chết, Duy Vũ được đưa lên làm vua, hiệu là Lê Huyền Tông. 
Vua Huyền Tông ở ngôi được 9 năm thì chết, khi ấy 18 tuổi, không có con nối dõi. Trịnh Tạc lại đưa Duy Cố - người con được vua Lê Thần Tông trước khi chết đã khẩn khoản nhờ chúa Trịnh chăm nuôi ở phủ chúa, dạy dỗ nên người.
"Ta vâng lời ký thác, chăm nom nuôi dưỡng trong phủ, giúp đỡ dạy bảo nghe lời ngay, theo đạo chính, hàng ngày cho nghe cho làm việc nước. Nay 11 tuổi, đã lớn, đức đã thành, sớm nổi tiếng hiền tài hiếu thảo, có thể nối được nghiệp lớn, nên tôn lập lên ngôi hoàng đế để thỏa lòng trông đợi của thần dân trong nước..." Đại Việt sử ký toàn thư chép lại lời bố cáo của Trịnh Tạc với quan văn võ triều đình về việc lập vua. 
Duy Cối nối ngôi được người đời ca ngợi "khoan hòa, có đức độ của người làm vua" nhưng khi 15 tuổi lại bệnh chết. Trịnh Tạc lần nữa đưa người con mà Lê Thần Tông nhờ ông chăm sóc là Lê Duy Cáp lên ngôi, trở thành vua Lê Hy Tông. Dưới sự dìu dắt của Trịnh Tạc, Hy Tông được người đời ca ngợi là vị vua anh minh đức độ bậc nhất thời Lê Trung Hưng.
Tại vị ngôi chúa 25 năm, giúp vua Lê dẹp sạch tàn dư họ Mạc ở Cao Bằng, tạo nhiều thành tựu trong cuộc cải cách kinh tế - xã hội - văn hóa, được người dân ca tụng, năm 1682 Tây Định vương Trịnh Tạc qua đời, thọ 76 tuổi.
Quỳnh Trang

Người Khmer có tục xuất gia tu hành

Theo tài liệu về văn hóa các dân tộc của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, những người con trai Khmer từ tuổi 12 trở lên sẽ được gia đình cho vào chùa tu để được học giáo lý nhà Phật, học chữ, học nghề, báo hiếu cha mẹ...và rèn luyện thành người có tri thức, đạo đức để xứng danh với gia đình và xã hội. Đi tu được coi như một nghĩa vụ xã hội của nam giới Khmer. 
Nếu chàng trai nào không qua giai đoạn tu trong chùa sẽ bị xã hội và gia đình cho là bất hiếu, lớn lên khó lấy vợ. Bởi vì người con gái Khmer đến tuổi lấy chồng thường chọn những chàng trai đã qua tu luyện trong chùa, hoàn tục. Họ quan niệm, những người này đã hoàn thành nghĩa vụ và học được cách làm người, biết chữ nghĩa, được xã hội trọng vọng.
Người Khmer Nam Bộ có tập tục xuất gia đi tu để học chữ, giáo lý nhà Phật, báo hiếu cha mẹ.
Người Khmer Nam Bộ có tập tục xuất gia đi tu để học chữ, giáo lý nhà Phật, báo hiếu cha mẹ.
Theo cuốn Người Khmer ở Nam Bộ, Việt Nam (nhà xuất bản Thông tấn, năm 2011) người con trai Khmer sau lễ thọ thập giới sẽ mặc áo cà sa và trở thành người tu hành bậc Sadi. Từ đây, cha mẹ phải lạy khi gặp mặt, khi về nhà chơi cha mẹ phải dâng cơm vì Sadi là đại diện của Phật chứ không là con trai họ nữa. 
Tu đến năm 20 tuổi, các Sadi sẽ được làm lễ để tu tiếp lên hoặc xin hoàn tục trở về đời thường lấy vợ, làm ăn nếu thấy mình đã hết phước tu. Thời gian tu học cũng được coi là điều kiện để một chàng trai lọt vào mắt xanh của những cô gái đến tuổi kén chồng, một dấu hiệu trưởng thành để bước vào hôn nhân. Những thanh niên xuất gia tu học, am hiểu thuần thục đạo lý, thông thạo chữ nghĩa, nhất là tiếng Phạn được xã hội Khmer trọng vọng và được liệt vào hàng ngũ trí thức.

 Người Khmer có mặt ở vùng đất Nam Bộ từ thế kỷ 12

Người Khmer là tộc người thiểu số trong cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam. Theo số liệu thống kê năm 2009, dân số của tộc người này hơn 1,2 triệu, phân bố ở nhiều tỉnh thành thuộc Nam Bộ nhưng tập trung tại đồng bằng sông Cửu Long. Tỉnh có nhiều người Khmer cư trú là: Sóc Trăng, Trà Vinh, Kiên Giang, An Giang, Bạc Liêu, Vĩnh Long, Tây Ninh, TP HCM. 
Theo cuốn Người Khmer ở Nam Bộ, Việt Nam (nhà xuất bản Thông tấn, năm 2011), tổ tiên của người Khmer Nam Bộ là lớp cư dân cổ ở Đông Nam Á cư ngụ tại vùng hạ Lào, đông bắc Campuchia ngày nay. Tộc người này từ thế kỷ 5-6 đã tạo dựng được một quốc gia với tên gọi Bhavapura, thư tịch cổ Trung Quốc gọi là Chân Lạp.
Sau sự tàn lụi của nền văn hóa Óc Eo và quá trình biển tiến (cuối thế kỷ 7), vùng đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và Nam Bộ nói chung trở nên hoang vu. Tình trạng đó kéo dài nhiều thế kỷ. Đến thế kỷ 12 khi biển rút dần làm nổi lên những giồng đất cao màu mỡ ở vùng Sóc Trăng, Trà Vinh, Đồng Tháp Mười..., thu hút cư dân Khmer trốn chạy sự bóc lột hà khắc của triều đại Ăngko đến đây cư trú.
Người Khmer trong trang phục truyền thống. Ảnh: Cinet.
Người Khmer trong trang phục truyền thống. Ảnh: Cinet.
Cuối thế kỷ 15 đầu thế kỷ 16, người Khmer đã có mặt đông đúc ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Họ lập thành 3 vùng dân cư tập trung lớn là: vùng Sóc Trăng - Bạc Liêu, An Giang - Kiên Giang và vùng Trà Vinh. Người Khmer ở Nam Bộ Việt Nam và người Khmer ở Campuchia do đó có chung nguồn gốc lịch sử tộc người, chung tiếng nói, gần gũi về những đặc trưng văn hóa.
Tại vùng đất mới Nam Bộ, cứ 5-7 gia đình Khmer trong mối quan hệ chặt chẽ về huyết thống quy tụ gần nhau tạo thành một đơn vị gọi là phum. Một số phum như vậy quần tụ xung quanh một ngôi chùa tạo thành một điểm cư dân lớn hơn gọi là sóc. Các phum/sóc này là đơn vị xã hội tự quản không phải đơn vị hành chính nhà nước, không nằm dưới quyền kiểm soát của bất cứ quốc gia nào.
Từ thế kỷ 17, những lớp cư dân người Việt từ vùng Ngũ Quảng - Trung Bộ thuộc vương triều của chúa Nguyễn bắt đầu đến khai khẩn đất hoang ở vùng Nam Bộ và nhanh chóng phát triển cộng đồng. Để quản lý cư dân, năm 1698 nhà Nguyễn đã thiết lập một hệ thống chính quyền nhà nước ở đây.
"Với những chính sách mềm dẻo của triều Nguyễn, công cuộc khai khẩn vùng đất phương Nam của người Việt đến tận mũi Cà Mau được hoàn tất năm 1757. Người Khmer Nam bộ trở thành bộ phận không thể tách rời trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam từ đấy", tác giả cuốn Người Khmer ở Nam Bộ, Việt Nam viết.

Người Khmer không thờ tổ tiên tại gia

Phần lớn người Khmer Nam Bộ là tín đồ của Phật giáo Nam Tông. Họ quan niệm trần sao âm vậy, chết chưa phải là hết mà chết là sống ở một thế giới khác. Người Khmer do đó thờ cúng tổ tiên ông bà rất chu đáo.
Cư dân Khmer cho rằng người chết không thể trực tiếp thụ hưởng những gì người sống cúng tế, mà phải hồi hướng qua sư sãi. Vì vậy, họ không lập bàn thờ tổ tiên tại gia đình mà chỉ thờ Phật ở nơi trang trọng nhất trong nhà. Tro cốt những người đã khuất đều được gửi vào chùa, việc thờ cúng là đem đồ cúng vào chùa dâng lên đức Phật và các vị sư sãi.
Hàng tháng vào các ngày mùng 8, 15, 23, 30 âm lịch, mỗi gia đình Khmer đều tới chùa dâng cơm, bánh trái, vật dụng cho sư sãi để gián tiếp gửi đến những người thân ở thế giới bên kia. Họ cũng có những nghi lễ tưởng nhớ, cầu siêu, cầu phước cho người đã khuất như: lễ dâng phước lành cho người quá cố diễn ra vào 7 ngày sau khi chết; lễ giỗ để tưởng nhớ cầu siêu, tạo phước cho người quá cố, được tổ chức sau ngày chết 100 ngày hay tròn một năm; lễ cầu siêu..

Hoa cau là lễ vật không thể thiếu trong đám cưới người Khmer

Theo tài liệu của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, mùa cưới truyền thống của người Khmer Nam Bộ vào khoảng tháng 1-3 âm lịch, khi mùa màng đã thu hoạch xong. Những tập tục trong lễ cưới mang tính đặc thù của dân tộc mặc dầu ngày nay đã được đơn giản hóa và mỗi địa phương có cách thể hiện khác nhau, nhưng cái hồn của chúng vẫn được gìn giữ và lưu truyền qua nhiều thế hệ.
Trong ngày cưới, cô dâu người Khmer đa phần vẫn mặc trang phục truyền thống là chiếc xăm pốt hôl (váy hình ống) màu tím sẫm hay màu hồng cánh sen, áo dài tầm pông màu đỏ thắm. Cô dâu quàng khăn ngang người và đội mũ pkál plac - loại mũ hình tháp nhọn nhiều tầng, bằng kim loại hoặc bằng giấy bồi, được trang trí bằng cánh con kim quýt màu xanh biếc. Chú rể người Khmer mặc xà rông và áo ngắn bỏ ngoài màu đỏ, quàng khăn truyền thống lên vai trái và đeo dao kampach với ý nghĩa bảo vệ cô dâu.
Lễ cưới của người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long. Ảnh: Cinet.
Lễ cưới của người Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long. Ảnh: Cinet.
Cuốn Người Khmer ở Nam Bộ, Việt Nam viết, lễ cưới của người Khmer kéo dài trong 3 ngày với lễ chính là ngày thứ hai. Lúc này, nhà trai phải đem mâm cơm cúng và đưa chú rể sang nhà gái. Khi nhà trai đến, nhà gái đã rào cổng, nhà trai phải đặt hai mâm cơm cúng trước cổng và thực hiện nghi lễ múa mở cổng rào để được nhà gái cho vào làm lễ trình báo các lễ vật mang sang làm cưới.
"Hoa cau là lễ vật không thể thiếu trong đám cưới của người Khmer. Hoa cau tượng trưng cho sự trong trắng của người con gái, vừa biểu thị lòng biết ơn đối với cha mẹ, anh chị. Mẹ cô dâu là người được mở bông cau trong lễ mở buồng cau", sách viết.
Sau các nghi thức, người Khmer sẽ làm lễ cột chỉ tay cho cô dâu, chú rể để cầu phúc cho đôi vợ chồng trẻ.

Người Khmer ở chùa trong những ngày Tết

Người Khmer có ba lễ hội lớn và đặc trưng nhất là: Lễ (Tết) vào năm mới Chol Chhnam Thmey; lễ cúng ông bà Donta có ý nghĩa giống lễ Vu lan của người Việt; lễ cúng trăng Ok om bok để tạ ơn thần Mặt trăng đã giúp mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt...
Người Khmer tập trung vào chùa dịp Tết Chol Chhnam Thmey. Ảnh: Cinet.
Người Khmer tập trung vào chùa dịp Tết Chol Chhnam Thmey. Ảnh: Cinet.
Theo tài liệu của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, Tết Chol Chhnam Thmey của người Khmer mang ý nghĩa là đón mừng năm mới, hy vọng năm mới đến sẽ đem lại những điều may mắn, tương tự Tết Nguyên đán của người Việt. Tết ngoài ra còn có ý nghĩa chấm dứt thời kỳ nắng hạn, bước sang thời kỳ có nước trời dồi dào để chuẩn bị cho vụ mùa tới.
Tết Chol Chhnam Thmey được tổ chức vào tháng 3 âm lịch, thường kéo dài 3-4 ngày để con cháu khắp nơi tụ họp. Trong những ngày này, mỗi gia đình Khmer chuẩn bị bánh trái, hoa quả vào chùa cúng Phật và dâng chư tăng.
Theo cuốn Người Khmer ở Nam Bộ, Việt Nam (nhà xuất bản Thông tấn, năm 2011), mọi nghi lễ trong Tết Chol Chhnam Thmey đều diễn ra ở khuôn viên chùa, vì vậy các gia đình thường ở chùa dịp Tết để làm công quả, vừa để dự lễ, vui chơi, ăn uống. Một số nghi lễ thường được tổ chức như: tắm tượng Phật, tắm cho sư sãi cao niên; dâng cơm cho sư sãi ở chùa vào sáng sớm và trưa; đắp núi cát cầu mưa cầu phúc..
Sau 3 ngày Tết ở chùa, người Khmer sẽ trở về nhà lạy tạ ông bà, cha mẹ rồi tắm cho ông bà, cha mẹ để bày tỏ lòng hiếu thảo. 

Quỳnh Trang - Tổng hợp

Trang phục truyền thống của dân tộc

Khăn Piêu của dân tộc Thái

Piêu là loại khăn đội đầu truyền thống của phụ nữ người Thái, phổ biến nhất là người Thái Đen vùng Tây Bắc. Theo Từ điển hiện vật văn hóa các dân tộc Việt Nam, khăn này thường được các cô gái Thái tự may dệt thủ công từ vải sợi bông, có chiều rộng là một khổ vải, dài hơn sải tay, màu đen hoặc chàm, hai đầu thêu hoa văn gọi là nả piêu (mặt piêu).
Khăn Piêu của người Thái Đen ở Yên Châu (Sơn La).
Khăn Piêu của người Thái Đen ở Yên Châu (Sơn La).
Nả piêu được viền bằng vải đỏ và đính các cút piêu hình tròn cuộn bằng các sợi chỉ màu. Hoa văn nả piêu thêu bằng sợi tơ tằm hoặc chỉ màu. Các họa tiết thường thấy gồm: hình răng cưa, quả núi, đường song song, quả trám, hình cây cỏ, côn trùng... Nả piêu của người Thái Đen ở vùng Yên Châu (Sơn La) gồm một lớp hoa văn dày đặc, phủ kín mặt vải. Ngược lại, ở những vùng khác, nả piêu thường có bố cục thoáng, gồm các đường thêu thanh mảnh.
"Người Thái tự hào khi đội một chiếc khăn piêu thêu đẹp. Từ bé gái ở tuổi tới trường cho đến các bà cụ già đều có thể đội piêu. Những dịp đi hội, đi chơi, xuống chợ, họ đội những chiếc piêu mới. Khi đội, một đầu khăn (nả piêu) phủ lên đỉnh đầu rồi trải trùm xuống trán, đầu kia buông thõng ra sau, có khi xuống đến ngang lưng... Piêu là vật làm tin của các đôi trai gái, quà của cô gái biếu gia đình nhà chồng khi về làm dâu. Piêu còn được sử dụng làm tài sản chia cho người quá cố khi về thế giới bên kia", Từ điển hiện vật văn hóa các dân tộc Việt Nam nêu giá trị, ý nghĩa của trang phục này với người Thái.
Năm 1956, nhạc sĩ người Hà Nội - Doãn Nho - tác giả của những ca khúc nổi tiếng như: Người con gái sông La, Năm anh em trên một chiếc xe tăng... đã lấy cảm hứng từ chiếc khăn đặc trưng của người dân tộc Thái, sáng tác ca khúc cùng tên và sau này được ca sĩ Tùng Dương thể hiện thành công.

Áo đính những quả len đỏ là đặc trưng trang phục của dân tộc Dao đỏ

Chiếc áo truyền thống của người Dao đỏ dài gần chấm đất, xẻ ngực, không có khuy cài, xẻ tà đến tận ngang hông, có tay dài, may bằng vải sợi bông nhuộm chàm. Thắt dây lưng là một phần không thể thiếu của chiếc áo. Khi mặc, người phụ nữ sẽ để vạt trái áp ra ngoài vạt phải và thắt dây lưng ra phía ngoài.
Chính xác, áo có đính những quả len đỏ là đặc trưng trang phục của dân tộc Dao đỏ
Áo của người Dao đỏ được trang trí bằng cách thêu chỉ màu và ghép vải. Dọc theo mép cổ áo thêu hình dấu chân mèo, hình chữ thập... đính những hạt cườm và nổi bật lên là các quả len đỏ.
Họa tiết trang trí ở tay áo là hình hoa lá xen với những mảnh vải ghép có màu đỏ hoặc trắng. Phần lưng áo thêu mảng hoa văn hình vuông với hình chìa khóa ở giữa. Đuôi áo thêu những hình cây thông với các đường diềm bao quanh.
Áo do chính phụ nữ dân tộc Dao tự may, thêu vào lúc rảnh rỗi. Bởi cầu kỳ trong họa tiết, trang trí nên có khi cả năm họ mới hoàn thành được một chiếc. 

Chiếc váy của người phụ nữ H'Mông

Chính xác, áo có đính những quả len đỏ là đặc trưng trang phục của dân tộc Dao đỏ - 1

Chiếc váy xòe xếp ly là bộ phận y phục quan trọng của nữ giới dân tộc H'Mông. Tùy từng nhóm như H'Mông đỏ, H'Mông Hoa, H'Mông đen, H'Mông trắng, hoa văn họa tiết trang trí trên váy khác nhau.
Chính xác, đó là chiếc váy của người phụ nữ HMông
Theo Từ điển hiện vật văn hóa các dân tộc Việt Nam, loại váy xếp ly của người H'Mông được may bằng vải lanh nhuộm chàm. Váy được ghép từ các mảnh vải với kích cỡ, họa tiết khác nhau, để làm cạp, thân trên, thân dưới, chân váy.
Chiếc váy của người H'Mông được đánh giá là cầu kỳ nhất trong họa tiết thêu trang trí. Hoa văn trên váy chủ yếu là chấm tròn xen lẫn đường kẻ thẳng, hoặc hình xoắn ốc xen lẫn hình hoa lá; hình vết chân trâu, chó nằm ngủ, hay đường sọc dọc và hình chữ nhật tạo bằng kỹ thuật ghép vải... Các hoa văn họa tiết này đều ẩn chứa ý nghĩa là sự gắn kết giữa đời sống con người với thiên nhiên.
Người H'Mông đánh giá tài năng, vẻ đẹp của người phụ nữ qua khả năng thêu, dệt và bộ trang phục. Vì vậy, trên những rẻo đường vùng cao, bạn không khó bắt gặp hình ảnh người phụ nữ H'Mông ngồi trước cửa nhà, trên mỏm đá, cần mẫn may thêu - công việc gắn bó mật thiết suốt cuộc đời của họ.

Váy của người Mường dạng hình ống, dài từ nách đến gót chân

Theo Từ điển hiện vật văn hóa các dân tộc Việt Nam, chiếc váy truyền thống của người Mường có dạng hình ống, dài từ nách đến gót chân, được gọi là wải. 
Chính xác, váy của người Mường dạng hình ống, dài từ nách đến gót chân
Từ chân váy đến ngang eo là chất liệu vải bông nhuộm đen, cạp váy dệt bằng sợi tơ tằm với nhiều hoa văn màu sắc. Họa tiết trên cạp váy được chia theo 3 phần, phần sát nách là hình quả trám, ngôi sao; phần giữa là hình con rồng, công, cá, rùa, chim, nhện...; phần dưới cùng dệt những sọc dọc nhiều màu sắc.
Váy này được phụ nữ người Mường sử dụng hàng ngày, lồng đè lên chiếc yếm bên trong và khoác thêm bên ngoài chiếc áo trắng dài tay thân ngắn. Khi mặc, váy được lồng vào thân người, phần còn rộng được quấn sang một bên rồi giắt vào cạp váy. Phụ nữ Mường bẻ một phần cạp váy cho hoa văn lộ ra bên ngoài và dùng thắt lưng may bằng vải bông hoặc vải tơ tằm màu xanh, quấn ngang lưng váy.
Trước kia, theo quan niệm của người người Mường, chỉ con gái gia đình quyền quý mới được mặc váy có cạp dệt hình công, phượng, rồng. Ngày nay, không còn sự phân biệt này và cạp váy cũng được thêu dệt đơn giản hơn, thậm chí nhiều người không dệt phần cạp nữa mà sử dụng tấm vải phin hoa tách rời để thay thế.

Sường xám là trang phục của người Hoa

Sường xám (hay sườn xám) là loại áo dài nữ, may theo kiểu xẻ tà, chiết eo, hò áo có một khuy vải hình hoa cúc và ở nách bên phải có 6 khuy bằng vải, không có ống tay hoặc ống tay ngắn, cổ áo đứng, cao khoảng 4cm.
Chính xác, sường xám là trang phục của người Hoa
Có 2 loại sường xám là áo dài quá mông, tà xẻ cao đến ngang hông và loại dài trùm đến gót chân, xẻ tà một bên trái tới quá đầu gối. Áo may bằng vải tơ tằm, sa tanh... màu xanh ngọc bích hoặc đỏ, hồng vàng. Riêng loại áo ngắn còn có một lớp lụa hay vải phin màu trắng lót bên trong.
Sường xám là trang phục thường ngày và mặc trong dịp lễ Tết của phụ nữ người Hoa. Tuy nhiên hiện nay, nữ giới dân tộc này chỉ mặc trang phục truyền thống trong dịp hội hè, yến tiệc, ngày thường họ mặc đồ như người Kinh.

Quỳnh Trang

Dân tộc Bru-Vân Kiều có tục thờ linh hồn sống

Bru-Vân Kiều là tộc người thiểu số cư trú tại vùng Trường Sơn - Tây Nguyên, thuộc miền núi phía Tây của các tỉnh Thanh Hóa, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế. Theo kết quả điều tra dân số và nhà ở năm 2009, cộng đồng này có 74.506 người, đứng thứ 22 về dân số trong tổng số 54 dân tộc Việt Nam.
Theo cuốn Người Bru-Vân Kiều ở Việt Nam (nhà xuất bản Thông tấn, năm 2018), dân tộc Bru-Vân Kiều theo tín ngưỡng đa thần, quan niệm vạn vật hữu linh, tức mọi vật trong thế giới tự nhiên đều có linh hồn. Họ do đó có tục thờ thần bản mệnh - linh hồn sống.
"Đồng bào dân tộc Bru-Vân Kiều có tục thờ linh hồn sống, bất cứ đứa trẻ nào sinh ra cũng được gia đình làm lễ cúng, lập bàn thờ linh hồn sống và việc thờ linh hồn sống chỉ kết thúc khi người đó chết đi", sách viết.
Bàn thờ linh hồn sống đặt trong nhà người Bru-Vân Kiều. Ảnh: Nhà xuất bản Thông tấn.
Bàn thờ linh hồn sống đặt trong nhà người Bru-Vân Kiều. Ảnh: NXB Thông Tấn.
Cụ thể, khi đứa trẻ được sinh ra, trong lần ốm nặng đầu tiên, với sự chỉ bảo của thày bói, cha mẹ sẽ lập đan bi bầu - một đồ đan nhỏ hình người treo lên khu vực thờ cúng của gia đình để cúng thần, hẹn khi đứa trẻ khỏi bệnh sẽ tiến hành lễ cúng chính thức để tạ ơn thần linh. Buổi cúng chính thức diễn ra, những đứa trẻ sẽ được cha mẹ hoặc anh chị làm cho dụng cụ cúng hồn. Đó là những đồ đan có hình chóp nón lật ngược (aruông) với con trai và hình lập phương (t'râng kia) với con gái. Phía trong mỗi dụng cụ cúng hồn để một chiếc bát ăn cơm với một vài miếng trầu, cau được têm sẵn.
Bi bầu
Bi bầu - đồ đan bằng tre có hình người, là dụng cụ cúng hồn đầu tiên của mỗi người dân tộc Bru-Vân Kiều. Ảnh: NXB Thông Tấn.
Những dụng cụ cúng hồn này được đặt trong khu thờ cúng của gia đình, giáp mái nhà, ở nóc bên trái. Trong suốt quá trình phát triển của mỗi người, những khi đau ốm, họ tiếp tục được gia đình (khi còn nhỏ) hoặc bản thân (khi đã lớn) làm bi bầu cúng hẹn và làm lễ vật cúng thật (nhưng không làm dụng cụ cúng hồn mới).
Khi một người chết, dụng cụ cúng hồn của họ nếu chưa được làm lễ cúng trâu sẽ được người thân trong gia đình đem ra suối vứt bỏ. Những người đã được tổ chức lễ cúng trâu, dụng cụ giữ hồn của họ sẽ được để nguyên trên bàn thờ gia đình/dòng họ, được con cháu cầu cúng và coi như một thế lực siêu nhiên đem lại những điều tốt đẹp cho gia đình, dòng tộc và cộng đồng.
Nét đặc trưng văn hóa khác của người Bru-Vân Kiều là tục cưới ba lần. Cộng đồng dân tộc này quan niệm, mỗi người đàn ông phải cưới (cùng một người vợ) ba lần mới được bản làng coi là đã có vợ và vợ chồng sống với nhau mới hạnh phúc mãi mãi. Nghi lễ cưới lần 2-3 giống lần 1, thời gian không cố định mà phụ thuộc vào điều kiện kinh tế của nhà trai có đủ tiền sắm lễ vật. Do đó mới có chuyện, nhiều người đàn ông Bru-Vân Kiều phải chờ đến mấy chục năm sau mới cưới xong vợ.

Người Bru-Vân Kiều chôn ống tre có 8 hạt gạo để chọn đất lập bản, làm nhà

Cuốn Văn hóa dân gian người Bru-Vân Kiều ở Quảng Trị (nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, năm 2011) do GS Tô Ngọc Thanh chịu trách nhiệm nội dung, cho biết, người Bru-Vân Kiều đặc biệt coi trọng khâu chọn đất để dựng bản, làm nhà. Họ quan niệm, bản làng/gia đình hưng thịnh hay suy vong đều do yếu tố đầu tiên này.
Luật tục người Bru-Vân Kiều quy định già làng có quyền quyết định việc dời làng hay chọn đất lập bản. Việc chọn đất phải đảm bảo thuận lợi cho sản xuất, cư trú, sinh hoạt như: gần rừng, gần nguồn nước, đặc biệt phải có sự đồng ý của thần linh (Yang). 
Nếp nhà sàn truyền thống của người Bru-Vân Kiều. Ảnh: Cinet.
Nếp nhà sàn truyền thống của người Bru-Vân Kiều. Ảnh: Cinet.
Trong vai trò người chủ đất, già làng có nghĩa vụ thay mặt người dân giao tiếp với Yang để xin ý kiến. Việc xin ý kiến đầu tiên bằng cách xin quẻ (cúng gà, bói chân gà trống tơ) để xem đất lành hay dữ. Nếu thẻ thuận tức là được Yang đồng thuận, già làng sẽ làm lễ cúng lần thứ hai.
"Ở lễ cúng này, già làng chọn 8 hạt gạo tốt (hạt gạo nguyên, lành lặn, không sứt mẻ) bỏ vào một ống tre chôn nằm ngang xuống mảnh đất đã chọn. Sau 3 ngày đêm đào lên, nếu 8 hạt gạo còn nguyên vẹn, không xê dịch có nghĩa Yang báo cho biết đây là vùng đất tốt, không có ma quỷ quấy phá, mới tiến hành xây dựng bản làng được. Ngược lại, nếu 8 hạt gạo kia không nguyên vẹn có nghĩa sự việc xảy ra theo chiều không thuận, Yang báo cho biết là đất rất độc, nhiều ma lắm quỷ, phải bỏ đi tìm vùng đất khác", sách viết.
Sau khi tìm được vùng đất mong muốn, già làng làm lễ cúng Yang Sup (thần thổ địa) trước khi xây dựng làng bản. Các thành viên trong làng có nghĩa vụ đóng góp lễ vật (lợn, gà, rượu, gạo nếp...) vì đây vừa là quyền lợi vừa là nghĩa vụ. Ai không đóng góp dân làng không cho dựng nhà trong bản làng mới. 
Bản làng người Bru-Vân Kiều không ở trên núi cao, đồi cao mà đa phần dựa vào các triền núi, triền đồi, ven suối, ven sông, các thung lũng đất đai bằng phẳng tiện cho việc sản xuất, sinh hoạt, đảm bảo độ thoáng mát.
Người Bru-Vân Kiều sống trong những nếp nhà sàn được làm từ nguyên liệu chủ yếu là gỗ, mây, tre, nứa, lá tranh... Độ lớn nhỏ của của ngôi nhà tùy thuộc vào số lượng/các thế hệ người sinh sống. Nhà sàn được kết cấu bởi bộ khung áp vào 8 cột gỗ chịu lực. Cột cái là cây cột đầu tiên được dựng lên và không thay đổi vị trí trong suốt thời gian ngôi nhà tồn tại. 
Cách chọn gỗ của người Bru-Vân Kiều, theo tài liệu của Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch, là rất độc đáo. Điển hình, khi chọn cây gỗ làm cột nhà chính, người dân sẽ chặt một nhát rìu vào thân cây, rồi để nguyên rìu ở đó. Sáng hôm sau, người Bru-Vân Kiều quay lại chỗ cây gỗ, nếu thấy rìu rơi ra, nghĩa là thần linh không đồng ý cho chọn cây gỗ này, họ phải tìm cây khác.
Nhà của người Bru-Vân Kiều có 8 cột gỗ lớn đóng dưới đất làm trụ. Ảnh: Làng văn hóa Việt Nam.
Nhà của người Bru-Vân Kiều có 8 cột gỗ lớn đóng dưới đất làm trụ. Ảnh: Làng văn hóa Việt Nam.
"Một nét phong tục khác là khi gặp cây gỗ to trong rừng, tối đến người Vân Kiều sẽ xin thần linh báo mộng. Nếu có giấc mơ tốt thì ngay ngày mai họ sẽ chặt cây gỗ đó", tài liệu viết.
Nhà sàn của người Bru-Vân Kiều trên nóc thường trang trí một cặp sừng trâu châu vào nhau, gọi là tăng-coi-đung với ý nghĩa khẳng định thế vững chãi của ngôi nhà trước thiên nhiên và báo hiệu gia chủ đã hoàn tất thủ tục cúng trâu trước linh hồn người đã khuất cũng như các thần linh cai quản.

Hút thuốc tẩu là đặc trưng của người dân Bru-Vân Kiều

Theo cuốn Người Bru-Vân Kiều ở Việt Nam, trong xã hội truyền thống, hút thuốc là thói quen của đa số người Bru-Vân Kiều, từ già đến trẻ, từ nam đến nữ. Họ thường hút thuốc bằng tẩu, sử dụng loại tẩu phổ biến là kết hợp giữa lõ tẩu (nơi nhồi thuốc) bằng đất nung và ống hút bằng tre hoặc lồ ô. Họ thường nhồi đầy thuốc lá khô và đã được thái thành sợi nhỏ vào trong lõ tẩu rồi châm lửa, hút nhiều lần cho đến khi thuốc cháy hết thì loại bỏ tàn thuốc bằng thuốc mới. Thuốc lá do người Bru-Vân Kiều tự trồng, chế biến. 
Hút thuốc tẩu là hình ảnh đặc trưng của người Bru-Vân Kiều. Ảnh: Réhahn.
Hút thuốc tẩu là hình ảnh đặc trưng của người Bru-Vân Kiều. Ảnh: Réhahn.
Ngày nay người hút thuốc tẩu trong cộng đồng người Bru-Vân Kiều đã giảm nhiều, chủ yếu còn lớp người già. Người trẻ đã chuyển sang hút thuốc lá có bán sẵn trên thị trường.

Quỳnh Trang - Tổng hợp