Thứ Năm, 1 tháng 11, 2018

KHÁM PHÁ NÚI NGŨ ĐÀI- CHÍ LINH

Lên núi Đống Thóc, thăm chùa Bát Hương


VHO- Hít thở sâu giữa bao la trời đất, tôi đã nghĩ rằng: Biết đâu đấy trong tương lai không xa, Quần thể di tích lịch sử văn hóa- danh thắng núi Ngũ Đài (xã Hoàng Tiến, thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương) với cả một hệ sinh thái tự nhiên đa dạng phong phú, sẽ trở thành nơi đón đợi bước chân du khách tới thưởng ngoạn, thảnh thơi đắm mình vào phong cảnh kỳ thú, tìm hiểu thêm về một dòng Thiền thuần Việt và nghe những câu chuyện cổ khá ly kỳ, mang tính nhân văn sâu sắc.
Thị xã Chí Linh miền núi của tỉnh Hải Dương, nằm giữa miền rừng núi phía đông bắc Bắc Bộ và miền đồng bằng của châu thổ sông Hồng với nhiều cảnh quan thiên nhiên t­ươi đẹp, đã đi vào văn thơ, sử sách các thời đại.

Vùng đất địa linh nhân kiệt với phong cảnh kỳ thú, nổi tiếng với “Chí Linh bát cổ”, với một hệ thống đậm đặc những đền chùa cùng những di tích danh thắng nổi tiếng như: Côn Sơn- Kiếp Bạc, Đền Cao, Đền Sinh- Đền Hóa, núi Ngũ Nhạc, Phượng Hoàng. Không những thế Chí Linh còn nổi tiếng với thắng cảnh trong quần thể Di tích núi Ngũ Đài- nơi tương truyền có một hệ thống chùa chiền do thiên tạo và nhân tạo từ rất xa xưa.

Mong muốn được khám phá, “mục sở thị” quần thể di tích này, chúng tôi đã có cuộc thượng sơn mà càng đi tôi càng thấy như ở trong mơ. Điểm đến đầu tiên của hành trình khám phá là ngôi chùa Ngũ Đài (tên chữ là Kim Quang tự). Nhân dân địa phương lấy tên làng Ngũ Đài để gọi cho dễ nhớ. Và cái tên ấy đã gắn liền với lịch sử tồn tại hàng trăm năm, đồng thời đi vào tiềm thức của lớp lớp thế hệ người dân trong và ngoài vùng.

Chùa Ngũ Đài trên núi
Theo tư liệu của Viện Hán- Nôm, chùa cổ Ngũ Đài được xây dựng vào thời vua Trần Minh Tông (1320), thờ Phật theo Thiền phái Trúc Lâm, nằm trong hệ thống chùa cổ Yên Tử- Quỳnh Lâm- Thanh Mai- Sùng Nghiêm, nổi tiếng linh thiêng và tồn tại qua nhiều triều đại phong kiến… Chùa tọa lạc trên một khu đất cao, nằm dưới chân núi Đống Thóc, tựa vào núi Vua Bà, núi Chóp Chài sừng sững, giữa bạt ngàn cây xanh của rừng nguyên sinh hùng vĩ. Bốn mùa vân tản- thông reo- suối hát. Xung quanh có những dãy núi hình cánh cung ôm lấy ngôi chùa.
Lời bài minh khắc trên bia đá của ngôi chùa lưu truyền rằng:
Lớn thay! Huyện Phượng.
Đẹp quá! Hoàng hương.
Núi Đài trùng điệp.
Suối nước mênh mang.
Một cung chùa Phật.
Hòa thượng thập phương
Còn đây di tích
Người đời không  quên…
Cảnh đẹp Ngũ Đài Sơn là vậy, nhưng chiến tranh và thời gian đã làm hủy hoại hoàn toàn các di tích cả quần thể, trong đó có chùa. Ngôi chùa hiện hữu do nhân dân địa phương và phật tử công đức xây dựng lại vào những năm 2003- 2004, thấp hơn vị trí cũ, nhỏ hơn quy mô cổ rất nhiều.
Vùng núi Ngũ Đài còn ôm trong mình những truyền thuyết lịch sử, những huyền thoại cùng sự tích ra đời hệ thống những di tích trên dãy núi phía sau chùa. Tương truyền, ở khu vực Đài Sơn xưa, có nhiều ngôi chùa lớn nhỏ, linh thiêng, với hàng trăm gian nằm rải từ chân núi lên tới đỉnh núi. Trong đó có những chùa hoàn toàn do thiên nhiên tạo ra từ thuở “khai thiên lập địa” và nhân tạo như: chùa Ngũ Đài, Hàm Long, Bát Hương, hang Pheo, “Công viên đá” với muôn hình, như Thỏ, Rùa, Ông Cóc. Sự lạ kỳ của Bàn chân Phật, Cổng Trời, Giếng Trời, Nậm Rượu...

Núi Ngũ Nhạc chìm khuất trong mây
Sau khi tham quan chùa Ngũ Đài, chúng tôi đã lên núi bằng chính con đường mòn phía sau chùa.
Núi Đống Thóc có độ cao khoảng gần 300m so với mực nước biển. Nhiều đời người từ xưa truyền lại, đây là đỉnh núi thiêng, nơi luôn mang đến sự ấm no cho mọi người. Vì vậy mà người ta đều tin rằng nếu muốn phong điều vũ thuận- mùa màng tươi tốt, cứ tới núi mà cầu là ứng nghiệm. Có lẽ, người dân ở đây nghìn đời gắn bó với núi với rừng, sống- thác đều nhờ vào rừng mà truyền tụng vậy chăng! Hay bởi núi Đống Thóc sừng sững như bức bình phong lớn, che chở cho làng mạc, ruộng đồng nơi đây, mỗi khi đất trời nổi phong ba!
Trên đỉnh núi Đống Thóc không có chùa chiền, nhưng tại đây đã dựng pho tượng lớn Văn Thù Bồ Tát bằng đá trắng, từ dưới núi đã có thể nhìn thấy, tôn thêm vẻ đẹp cho không gian linh thiêng chốn sơn lâm này…
Từ đỉnh núi Đống Thóc, chúng tôi lại tiếp tục hành trình để đến với những điều kỳ diệu và lý thú đang ở phía trước.
Theo các vị cao niên trong làng, đời nọ truyền đời kia, vị trí tương truyền có tồn tại ngôi chùa Hàm Long là nơi giấu binh lương của quân dân nhà Trần trong các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên- Mông. Những người mang vũ khí, lương thực lên đây xong, họ đều tuẫn tiết để đảm bảo bí mật. Sau này đất nước thái bình, triều đình và nhân dân đã lập chùa để thờ Phật và ghi nhớ công ơn những người vị quốc vong thân…Thực hư điều này, rất cần các nhà chuyên môn về lịch sử và khảo cổ vào cuộc.

Vị trí được cho là đã từng tồn tại chùa Hàm Long
Ai cũng muốn nấn ná với cảnh đẹp ở khu vực Hàm Long, song phía trước vẫn còn những điều kỳ thú thôi thúc…Chúng tôi, những du khách hiếm hoi đến với Ngũ Đài lại tiếp tục theo chân các “hướng dẫn viên du lịch” địa phương tìm rãnh nước chảy làm đường lên một ngôi chùa khác có tên gọi là Bát Hương.
Điểm đến này nằm phía trên chùa Hàm Long, leo mất khoảng gần nửa giờ. Chùa ở vị trí có độ cao khoảng trên 500m so với mực nước biển. Đây là chùa Thiên tạo, được tạo thành bởi 3 khối đá lớn chồng lên nhau, chênh vênh, vậy mà vẫn trường tồn cùng năm tháng. Nhân dân trong vùng cho biết đây cũng là nơi rất linh thiêng. Họ thường tới cầu nguyện cho mưa thuận gió hòa, làm rừng hiệu quả. Giữa không gian mênh mông, con người nhỏ bé bị chìm vào trong mây, ngập trong cây cỏ và lẫn trong bãi đá muôn hình kỳ thú.
Giữa không gian u tịch, thanh tịnh, chùa như nét chấm phá của một bức tranh thủy mặc. Có lẽ, ai tới đây cũng không muốn về, bị mê hoặc bởi cảnh sắc ấy.

Theo Ông Cóc lên Cổng Trời


VHO- Tiếp tục hành trình chinh phục núi Ngũ Đài (Chí Linh- Hải Dương), chúng tôi háo hức đi về nơi tương truyền Ông Cóc đã qua đây lên kiện Trời.
Đường đi lúc này còn khó khăn hơn rất nhiều. Giữa mênh mông của núi là bạt ngàn cỏ tranh như nguyên sinh ngập ngang người. Sẽ không ai đoán được phía dưới những trảng cỏ tranh dày đặc này là những gì. Không những nguy hiểm mà đường còn rất dốc. Mây gần như phủ kín đỉnh núi. Vậy nên, việc giữ cự ly và bám đuổi nhau là cực kỳ quan trọng. Thế nhưng, thi thoảng có đoạn núi như nằm ngang ra, như giúp người ta lấy đà để lên dốc tiếp. Phải chăng, tạo hóa cố tạo ra những cung bậc kiểu này cho non cao Ngũ Đài để trêu ngươi hay là để cuốn hút những người ưa khám phá?
Đi mãi mà chưa tới nơi cần tới, ai cũng bảo hình như núi cao thêm. Núi như gối đầu vào mây để ngủ và phủ trên mình chiếc chăn mây bồng bềnh. Chúng tôi thoắt ẩn thoắt hiện, cứ vừa đi vừa dò tìm, vạch cỏ tranh để tạo đường lên núi an toàn nhất. Người trước làm lối cho người sau đi theo.
Đã hình thành một “đường mòn” sau khi chúng tôi đi qua để đánh dấu lối về. Biết đâu đó, đây có thể sẽ là con đường ghi dấu chân đầu tiên của những người chinh phục đỉnh núi Ngũ Đài. Và cũng biết đâu đấy, sau chuyến đi này của chúng tôi sẽ có một con đường đẹp được làm để nhiều người hơn có cơ hội lên núi, lên với chốn linh thiêng và ngoạn mục này!
Lên cao hơn, cả cánh rừng cỏ tranh bây giờ lại tiếp tục trải ra trước mắt mọi người, mênh mông, bát ngát. Nếu như có thể từ một vị trí cao hơn nhìn xuống nơi này, chắc người ta dễ nhầm đây là một cánh đồng lúa đang chín, hứa hẹn một mùa bội thu. Cũng có lúc, trời như vén bớt mây đi để chúng tôi dễ quan sát hơn. Giữa cái mênh mông của đất của trời ấy, chúng tôi đi như vô định trong một không gian vừa huyền ảo, vừa thanh thản lạ kỳ.
Ông Cóc trên đỉnh Ngũ Đài
Nơi những người địa phương không nói trước mà dẫn chúng tôi đến là một khối đá có hình thù rất lạ, xù xì. Ai cũng rất dễ hình dung đó là một chú cóc khổng lồ. Mọi người ai nấy đều trầm trồ trước bàn tay khéo léo của tạo hóa. Ông Nghị, người dẫn đường cho chúng tôi nói đây là Ông Cóc và lưu ý mọi người phải gọi theo ông như thế, bởi đây cũng là linh vật của vùng Ngũ Đài này. Và thế là, câu chuyện cổ về Ông Cóc đi kiện ông Trời như được sống lại trong mỗi chúng tôi, mà ở đây Ông Cóc đang hiện hữu.
Ông Nghị kể, từ nhiều đời truyền tụng đến nay câu chuyện về Ông Cóc này: Ngũ Đài Sơn là một đoạn đường trong hành trình Ông Cóc đi kiện Trời. Bãi đá nhấp nhô, thiên hình vạn trạng phía dưới rừng cỏ tranh kia được hình thành sau mỗi bước nhảy của Ông lên Trời. Sau khi lên Trời rồi thắng kiện, Ông Cóc trở lại vị trí này, ngay phía dưới Cổng Trời để có thể theo dõi thường xuyên, xem Ngọc Hoàng có thực hiện đúng cam kết là hàng năm đem mưa thuận gió hòa đến cho nhân gian. Và, Ông ngự ở trên cao, “trơ gan cùng tuế nguyệt”, giữa bao la đất trời đã ức vạn năm, để che chở cho mọi người, mọi nhà.
Không ai bảo ai, tất cả mọi người trong đoàn đều tới gần, chạm tay vào Ông Cóc, rồi thì thầm gì đó.
Mang theo những sở nguyện chung- riêng, chúng tôi lại tiếp tục tìm đường đến Cổng Trời. Đường vẫn rất nguy hiểm. Có lẽ ông Trời vẫn như muốn thử thách quyết tâm của người đời nếu như muốn đến nơi này chăng? Tuy nhiên, những điều cầu khấn của mỗi người hình như ứng nghiệm, nên chúng tôi đi nhanh hơn, chân bước nhẹ nhàng hơn, cảm thấy Cổng Trời như gần lắm, bởi ẩn hiện trong mây là hình ảnh của Cổng Trời lung linh, huyền ảo. Mỗi người đều tự tìm cho mình một con đường gần nhất để chạy lên Cổng Trời.

Cổng Trời trên núi Ngũ Đài
Sau hành trình khá vất vả, Cổng Trời hiện ra trước mặt chúng tôi, như ở trong mơ. Điểm cao nhất của hành trình khám phá đã được chúng tôi chinh phục. Trên gương mặt rạng rỡ của mỗi người đều ánh lên niềm vui khôn tả và xen lẫn niềm tự hào. Trời lạnh hơn và gió cũng thổi mạnh hơn.
Cổng Trời ở đây được tạo thành bởi các khối đá xếp chồng lên nhau, như một tác phẩm nghệ thuật kiến trúc kết hợp điêu khắc khổng lồ. Cổng có thể đủ hai người đi qua mỗi lượt. Và tất cả đủ chỗ cho 15- 20 người. Ở đây, người đời có thể thỏa sức tưởng tượng về miền cổ tích, giữa mây trời. Đẹp quá! Ai cũng phải thốt lên như vậy. Không thể diễn tả hết được cảnh đẹp nơi đây nếu như ai đó chưa một lần leo núi Ngũ Đài và lên Cổng Trời. Vẻ đẹp huyền diệu ấy càng được tôn thêm lên bởi không chỉ của trời đất, mà còn là cả sự linh thiêng của ngàn năm tụ lại nơi này.
Gần khu vực Cổng Trời có “Giếng Trời”. “Giếng” nằm ngay trên mặt của một phiến đá của Cổng Trời, chênh vênh, phía dưới là vực sâu thăm thẳm, như không cùng.
Không thể tưởng tưởng được đây lại là Giếng! Chỉ là một hõm trên bề mặt phiến đá mấy mét khối, khá độc lập, gác lên các phiến đá khác của Cổng Trời, vậy mà nước ở đâu cứ chắt ra mãi, trong vắt, chẳng bao giờ cạn. Chả thế mà cả đoàn chúng tôi hơn mười người chuyền tay nhau, mỗi người uống vài cốc, vậy mà nước vẫn lại ra đầy ngay tức khắc. Đặc biệt, nước rất ngọt, như tinh hoa của trời đất.
Niềm vui đã xua hết mệt nhọc trước đó, mọi người tranh thủ ghi lại những hình ảnh từ Cổng Trời như sợ khó có dịp quay lại hoặc nếu không nhanh mọi thứ sẽ tan biến mất như trong truyện cổ tích.
Cổng Trời chìm trong mây
Cách Cổng Trời vài trăm mét có một điểm rất đặc biệt- Nậm Rượu. Chỉ là một hõm đá độc lập và nhìn từ trên xuống, hình dáng giống như cái nậm nằm ngang và “rượu” thì giống như nước ở Giếng Trời, không bao giờ cạn. Xung quanh phiến đá có Nậm Rượu phong cảnh rất hữu tình, kỳ thú. Hàng trăm đời người dân vùng này truyền tụng nhau đã từng được uống nước ở Giếng Trời và Nậm Rượu để lại sức mỗi khi đi rừng và mong trường thọ.
Tại khu vực Cổng Trời, chúng tôi còn được những người địa phương dẫn tới một nơi linh thiêng nữa, đó là một phiến đá hiện còn khắc in hình một dấu chân lạ, lớn hơn bàn chân người thường. Theo những người địa phương, họ được các cụ truyền lại rằng đó là dấu tích bàn chân của Phật Hoàng. Ngài đã đặt chân trái ở Ngũ Đài, lấy đà để bước chân phải sang Yên Tử!
Chẳng biết có phải vậy không, hay chỉ là dân gian sáng tạo ra để ngợi ca quê hương mình. Nhưng quan sát khu vực này phong cảnh trở nên hữu tình, không những cỏ cây hoa lá tốt tươi, mà đá cũng nở hoa. Trên các phiến đá, có loài hoa đá sinh sôi, phát triển, như những bức gấm thêu hoa của những thợ thủ công khéo tay. Chắc chắn, bất kỳ ai, bất kỳ du khách nào đặt chân tới vùng địa linh này, sẽ đều cảm nhận được đầy đủ và trọn vẹn điều chúng tôi kể.

Tới Hang Pheo, Khe Ổ Lợn và thác Bò Đái


VHO- Chúng tôi chọn ngày chủ nhật để tiếp tục hành trình khám phá Ngũ Đài sơn, với mục đích đoàn lên núi đông vui hơn. Cũng mất công tổ chức một chuyến đi, có thêm người cho khí thế và sẽ nhiều người hơn có cơ hội được trực tiếp thưởng ngoạn phong cảnh núi Đài Sơn.

Chuyến đi này, chúng tôi có mời cụ Nguyễn Văn Ngoạn, ông Ngô Quang Vinh, một số cán bộ địa phương và các em sinh viên, các cháu học sinh trong thôn, trong xã cùng cả mấy cô giáo trẻ trường làng.

Theo cụ Ngoạn, nếu muốn khám phá kỹ Ngũ Đài Sơn thì cần phải có nhiều ngày. Tuy nhiên, vẫn phải leo lên núi Đống Thóc, qua Cổng Trời, từ đó định vị để tới những nơi đã chọn là: Hang Pheo, Công viên đá Khe Ổ Lợn và thác Bò Đái. Những người chưa leo núi nghe vậy thì hào hứng lắm. Chúng tôi cũng mừng vì thêm một lần được đến những nơi đã qua.

Những gì hứa hẹn lý thú và quyến rũ của Ngũ Đài Sơn như vẫn đang đợi chúng tôi ở lưng trời. Vẫn con đường dốc đứng lên núi những ngày trước, đã trở nên quen với chúng tôi, nhưng lại gợi sự tò mò cho những người lần đầu leo núi, nhất là các bạn trẻ. Cụ Ngoạn vẫn cố gắng leo núi cùng mọi người. Gió hun hút thổi, nhìn cụ già gần 90 tuổi bước đi, vững chãi từng bậc, chúng tôi cảm nhận thấy đó thực sự là sức mạnh phi thường của niềm tin.

Do thời tiết tốt, tầm nhìn được mở rộng thêm nhiều so với những ngày trước của hành trình khám phá. Những bạn trẻ vui lắm. Quê hương đẹp đến vậy mà lần đầu tiên trong đời mới họ được nhìn ngắm một cách khá trọn vẹn từ trên cao. Rồi chúng tôi cùng mọi người cũng lên tới đỉnh Đống Thóc và các vị trí đã tới những ngày trước đó, trong đó có Cổng Trời. Theo hướng tay chỉ của ông Vinh, chúng tôi nhìn thấy một chú thỏ đá khổng lồ. Có lẽ chú ngồi đấy đã ngàn vạn năm để đón đợi những du khách tới chiêm ngưỡng.   

Lúc này, đoàn chúng tôi chia làm 2 nhóm. Một nhóm theo ông Vinh xuống hang Pheo. Nhóm còn lại sẽ ở lại tham quan khu vực Cổng Trời. Hang Pheo ở sườn núi dưới chân Cổng Trời. Theo ước lượng của ông Vinh, cả nhóm cứ cắt chéo sườn núi mà men dần xuống. Đây là sườn phía Đông Triều- Quảng Ninh, hứng gió nên quanh năm ẩm thấp, cây cối phát triển với nhiều tầng lớp. Đường đi rất nguy hiểm, luôn tiềm ẩn những điều bất trắc xảy ra. Có đoạn chúng tôi đi qua toàn cây nứa. Những bụi nứa đã khai thác, gốc nhọn hoắt chĩa lên như bàn chông, như sẵn sàng xuyên thủng bất cứ bàn chân nào nếu sơ ý. Chưa hết, phần ngọn nứa còn lại phía trên những tán lá cũng sắc lẹm, nếu có tác động mạnh, sẽ lao thẳng xuống như một mũi giáo…


Luồn lách mãi rồi chúng tôi cũng tới được Hang Pheo, nằm cách vực sâu không xa, chả thế mà mất khá nhiều thời gian. Hang Pheo gồm nhiều tầng, được tạo thành từ nhiều tảng đá sỏi kết lớn xếp chồng lên nhau. Tương truyền, đây là nơi cư ngụ người xưa. Tại đây, chúng tôi đã đào tìm được dụng cụ như cối xay đá, đồ gốm. Ngay bên dưới còn có khe nước trong vắt, đủ điều kiện sống. Ông Vinh còn dẫn chúng tôi tới xem một hõm đá tròn hằn sâu vào vách đá- đó là Mắt Thần, nghe nói thiêng lắm, đáng để mọi người tới thỉnh cầu và chiêm nghiệm.
         
Khám phá xong Hang Pheo, trên đường ra, vừa đi ông Vinh vừa kể về những sản vật khác của núi rừng Ngũ Đài, đó là những cây thuốc quý, chữa bệnh gan thận, đau nhức, thần kinh, rồi cả cây hương bài để sản xuất hương đốt không độc. Ông nói, rừng núi thiêng tất có thuốc quý. Thảo nào mà ông Vinh mang theo cả chiếc ba lô to và chiếc thuổng để lấy lá thuốc, một công đôi việc.

Chúng tôi lại bắt đầu ngập vào bạt ngàn cỏ tranh để sang Khe Ổ Lợn. Hôm nay, những đám mây lang thang đâu đó chưa về, nên chúng tôi nhìn được xa và rõ hơn. Vì thế cánh đồng cỏ tranh hôm nay như có phép màu rộng thêm nhiều lần. Đứng trên cao phóng tầm mắt xuống núi mới cảm nhận rõ phong cảnh tuyệt vời. Dưới núi vẫn vương vấn màn sương mờ mờ ảo ảo, xa xa là bức tranh vùng sơn cước với nhiều mảng màu, thấp thoáng ngôi chùa nhỏ Ngũ Đài tạc vào sườn non. Đường sang Khe Ổ Lợn qua một “Công viên đá”. Chúng tôi bị choáng ngợp trước vẻ đẹp vừa hoang sơ, vừa có vẻ dữ dằn ở đây. Đá bạt ngàn, đá ở khắp nơi. Cả một công viên đá được dựng lên trên nền thảm cỏ tranh ngút tầm mắt. Nơi đây mở cánh cửa đi vào thế giới của đá mang vẻ đẹp lạ thường.
         
Chúng tôi len lỏi qua các “khu trưng bày” những tác phẩm của đá, những tác phẩm bon sai khổng lồ nhiều dáng vẻ. Màu xám sù sì của đá giao duyên với sắc màu của cỏ cây hoa lá, tạo nên sự tương phản độc đáo của một thiên đường ở lưng trời. Liền “Công viên đá” là Khe Ổ Lợn với mảng màu xanh đến mê mải. Các cán bộ địa phương kể rằng: Vài chục năm trước, tại khu vực Khe Ổ Lợn, vẫn còn khá nhiều thú quý, đặc biệt là lợn rừng. Hàng đàn lợn thường lên đây để kiếm ăn. Rừng cỏ tranh là nơi chúng dễ kiếm được nhiều thức ăn nhất. Cái tên Khe Ổ Lợn ra đời từ đó. Bao đời qua người dân nơi đây kiên trì đối mặt với thiên nhiên, giữ gìn vườn đá này, tạo nên nét độc đáo cho một vùng đất.

Có thể nói, nếu khai thác “Công viên đá” và Khe Ổ Lợn để phát triển du lịch khám phá, trải nghiệm, phượt... thì chắc chắn sẽ tạo ra sản phẩm du lịch độc đáo cho thị xã Chí Linh và tỉnh Hải Dương. Rời Công viên đá và Khe Ổ Lợn, tâm hồn như rộng mở và cảm xúc dâng trào, chúng tôi hào hứng tìm đường tới khe suối và Thác Bò Đái.

Đi qua quãng đường có thể được coi là nguy hiểm nhất của cả hành trình, cái cảm giác rùng mình bất chợt đến khi đứng ở trên nhìn xuống phía dưới cứ ngun ngút, thăm thẳm. Mấy “hướng dẫn viên” địa phương dẫn chúng tôi tạt ngang sườn núi để tìm khe Bò Đái. Cả đoàn đã lấy được nước ở khe này để giải cơn khát. Xong xuôi, mọi người tiếp tục tìm vào thác Bò Đái- Điểm đến cuối của hành trình. Không ai có thể tưởng tượng được, ẩn sâu trong núi, giữa bạt ngàn rừng cây lại có một ngọn thác lãng mạn đến thế. Không lộng lẫy, mà ẩn chứa nét duyên của núi, của rừng. Do không phải mùa mưa nên thác ít nước, nhưng từ trên cao 2, 3 tầng đá, nước vẫn miệt mài chảy. Theo những cán bộ địa phương, vào mùa mưa, nước sẽ tạo nên sự bề thế cho ngọn thác này. Tiếng thác đổ sẽ tạo nên âm thanh mang âm hưởng riêng của Ngũ Đài sơn. Và đây cũng là khởi nguồn của con suối có tên Đá Mài, nơi người đi rừng thường nghỉ ngơi và mài dao.

Con suối trong mát, ngàn đời nay mang dòng nước ngọt lành tới cho nương rẫy, ruộng đồng, làm cho xóm làng trù phú, cây trái bốn mùa sum suê. Từ thời Pháp, nơi này đã là điểm đến của nhiều người. Ngày nay, những ngày hè nóng nực, người dân trong vùng cũng thường tìm đến để tắm mát và nghỉ ngơi. Hiện, nhiều nhà đã làm hệ thống lấy nước từ con suối này về dùng cho ăn uống, sinh hoạt. Đây cũng sẽ là điểm đến du lịch lý tưởng ở tỉnh Hải Dương.
Cửa rừng, nơi con suối Đá Mài lộ diện cũng là điểm kết thúc hành trình khá gian nan lần đầu khám phá Ngũ Đài sơn của chúng tôi…

Chốn linh thiêng, mỗi chiều hoàng hôn buông, chuông chùa âm vang vọng vào vách núi, hòa với tiếng chim muông ríu rít gọi nhau ở non ngàn, những âm thanh thanh tao, nguyên thủy của rừng ấy sẽ vẫn còn mãi, đọng mãi nơi này.
P.V
*Bài viết này có sự hợp tác với Trung tâm thông tin, xúc tiến du lịch Hải Dương

Kinh Môn - Miền du lịch đồng quê hấp dẫn

VHO-  Kinh Môn là huyện lớn thứ ba trong số 12 đơn vị huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Hải Dương, với diện tích là 163,5km2. Đây là một trong hai huyện thị được công nhận là huyện miền núi và cũng là huyện đầu tiên được công nhận là huyện nông thôn mới của Hải Dương. Đối với khách du lịch thì đất Kinh Môn cũng vô cùng hấp dẫn vì có nhiều nét độc đáo và mới lạ.
 Bức phù điêu ở khu vực đền Cao An Phụ
Kinh Môn có vị trí độc đáo và thế đất phong thủy rất đẹp. Nằm giữa 3 tỉnh thành lớn (Hà Nội, Hải phòng, Quảng Ninh); nằm sát với quốc lộ 5 và rất gần quốc lộ 18, 10. Bất kỳ ở đâu về với Kinh Môn cũng thuận lợi và nhanh chóng. Hoặc từ Kinh Môn ra biển Đồ Sơn- Hải Phòng, đi vịnh Hạ Long, tới Móng Cái (Quảng Ninh) hoặc về thủ đô Hà Nội đơn giản và rất dễ dàng.
Theo phong thủy thì thế đất của Kinh Môn rất đặc biệt. Kinh Môn có hình con cá. Đầu cá ở phía tây bắc, thuộc đất xã Quang Trung, Phúc Thành. Đuôi cá ở phía Đông Nam, chõe ra hai nhánh thuộc đất thôn Tử Lạc (Minh Tân) và thôn Tam Đa Ngoại (xã Minh Hòa). Toàn bộ vùng đất hình con cá ấy được các sông lớn bao kín xung quanh. Như vậy là cá nằm trong nước, rất thuận với lẽ trời. Con cá ấy lại bơi từ hướng biển vào, mang của cải đến thì còn gì bằng. Trong phong thủy, con cá là biểu tượng cho sự mau lẹ, linh hoạt, vươn lên và thịnh vượng. Giữa vùng đất Kinh Môn lại có dãy núi An Phụ chạy hướng tây bắc - đông nam (từ đầu đến đuôi cá) thành cái xương sống vững chắc. Phía bắc và nam dãy núi là hai dòng sông lớn.
Các sông lớn tổng chiều dài tới 80km. Kinh Môn có cả núi đất, núi đá vôi, có hàng trăm hang động, nhiều đèo, nhiều rừng và đi theo đó là một hệ động thực vật phong phú. Trên mặt đất thì Kinh Môn có nhiều dạng địa hình: đồng bằng châu thổ, các bãi sa bồi chân núi, sa bồi giữa sông, thung lũng..., là nơi canh tác được nhiều loại nông sản cây trồng và vật nuôi độc đáo, quý giá vì chất lượng tuyệt vời như nếp cái hoa vàng, hành tỏi, sắn dây, rươi, ruốc, các loại tôm cá, cua, cáy, rạm, cà ra... tạo nên những đặc sản ẩm thực lạ và ngon.
Là vùng đất cổ nên Kinh Môn dày đặc dấu tích của lịch sử. Động Thánh Hóa bên chùa Nhẫm Dương xã Duy Tân, nơi lưu giữ nhiều hiện vật xương hóa thạch cách ta hàng vạn năm. Dòng sông Kinh Thầy, Đá Vách là trung lưu nối với sông Bạch Đằng nổi tiếng. Tại các dòng sông này, bao lần quân xâm lược vào cửa Bạch Đằng cũng là bấy nhiêu lần qua đất Kinh Môn để lên Thăng Long.
Bãi dầm thuyền ở Ninh Xá; núi Dương Nham với cuộc kháng chiến chống quân Mông Nguyên thế kỷ 13; Đống Ngô, đống Thảm và sông Vận (tức sông Kinh Môn) cùng địa bàn xã Long Xuyên, Hiến Thành trong công cuộc chống quân Minh thế kỷ 15 gắn liền với tên tuổi bảy anh em họ Phạm đều là tướng chỉ huy các trận huyết chiến với giặc Ngô.
Mảnh đất này còn xuất hiện bao danh nhân nổi tiếng như Phạm Sư Mạnh, Phạm Tông Mại, Phạm Tông Ngộ, Trần Khắc Chung, Nguyễn Húc, Nguyễn Đại Năng... với những dấu tích như thơ văn, bia ký, đền thờ... còn đó.
Trên đất Kinh Môn có cụm 3 di tích quốc gia đặc biệt: An Phụ, Kính Chủ, Nhẫm Dương. Cả huyện còn có 15 di tích cấp quốc gia, 14 di tích cấp tỉnh. Kèm theo các di tích là các lễ hội, đáp ứng nhu cầu tâm linh, hội hè của người dân. Điển hình là lễ hội An Phụ (còn gọi là đền Cao), hằng năm du khách Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Nội... lũ lượt trẩy hội. Có di tích còn giữ khá nguyên vẹn đó là cầu đá Hà Tràng - chiếc cầu đá lớn thứ hai của Việt Nam còn giữ được (cầu đá thuộc xã Thăng Long), hoặc đình Huề Trì (An Phụ) lớn nhất tỉnh Hải Dương.
Với tiềm năng du lịch phong phú, Kinh Môn có thể khai thác nhiều loại hình du lịch khác nhau, đặc biệt là du lịch sinh thái, du lịch đồng quê, du lịch văn hoá- lịch sử, du lịch tâm linh...
Mặc dù có tiềm năng nhưng để Kinh Môn trở thành điểm đến hấp dẫn đông đảo khách du lịch, mang lại lợi ích cho ngân sách nhà nước và thu nhập của người dân địa phương thì vẫn còn vô số thách thức, còn nhiều việc phải làm.
Hiện nay, các điểm tham quan vẫn mang tính nguyên sơ, ít có sự đầu tư, chủ yếu tự phát. Thậm chí một số hạng mục bị xuống cấp hoặc tu sửa tùy tiện, thiếu tính chuyên nghiệp. Sản phẩm du lịch nghèo nàn; quà tặng, đặc sản địa phương của Kinh Môn rất sơ sài. Ngoài ít gạo nếp đóng túi nilon, ít bột sắn dây, mấy túm hành tỏi, mấy quả trứng đà điểu, gói bánh lòng bán dịp tết thì Kinh Môn không còn sản phẩm gì hấp dẫn du khách. Đội ngũ thuyết minh ở các điểm du lịch không có; tờ gấp, sách, ảnh giới thiệu các điểm du lịch in ấn cũng mang tính nhỏ lẻ, thời vụ; Kinh Môn cũng chưa có những nhóm văn nghệ phục vụ du khách...
P.V

An Giang và những điều đặc biệt không thể bỏ qua

48 giờ ở An Giang có thể chưa đủ để bạn khám phá hết vùng đất này, nhưng đủ để bạn bắt đầu có cảm tình hẹn một ngày trở lạiAn Giang và những điều đặc biệt không thể bỏ qua  
An Giang, cách TP HCM khoảng 230 km, là một trong 5 tỉnh rộng lớn và đông dân cư nhất của đồng bằng sông Cửu Long, phía đông giáp Đồng Tháp, phía bắc và tây bắc giáp hai tỉnh Kandal và Takéo của Campuchia với đường biên giới gần 104 km, phía tây nam giáp Kiên Giang và phía nam giáp thành phố Cần Thơ. An Giang có nhiều cảnh đẹp và các món ăn ngon.
Trong ảnh là chùa Krăng Krốc (Hàng Cồng) thường được gọi là "Cổng trời Tri Tôn", thuộc xã Châu Lăng, huyện Tri Tôn, cách thị trấn Tri Tôn khoảng 5 km.
 
An Giang và những điều đặc biệt không thể bỏ qua  
Rừng tràm Trà Sư là điểm đến nổi tiếng không thể bỏ qua, với vẻ đẹp thiên nhiên tuyệt vời, màu xanh mướt mát mắt. Khu rừng thuộc xã Văn Giáo, huyện Tịnh Biên, tỉnh An Giang, nằm trên đường từ Tri Tôn về TP Châu Đốc, cách Tri Tôn khoảng 25 km.
 
An Giang và những điều đặc biệt không thể bỏ qua  
Rừng tràm Trà Sư đẹp nhất vào mùa nước nổi, khoảng từ tháng 9 đến tháng 11. Đến đây, bạn phải mua vé với giá 60.000 đồng/người bao gồm xuồng máy hoặc xuồng tay, tham quan đài quan sát cao 23 m.
 
An Giang và những điều đặc biệt không thể bỏ qua  
Tuyệt tình cốc miền Tây - hồ đá Tà Pạ nằm ở núi Tô, đây là một trong bảy ngọn núi tạo nên địa danh "Thất Sơn" huyền bí, cách thị trấn Tri Tôn khoảng hơn 2 km.
 
An Giang và những điều đặc biệt không thể bỏ qua  
Hồ là các mỏ khai thác đá từ lâu nên độ nông sâu khác nhau. Khi mưa xuống tạo thành hồ. Nước hồ màu xanh ngọc quanh năm. Mây trời soi bóng mặt hồ tạo nên hình ảnh như trong các câu chuyện cổ tích. 
 
An Giang và những điều đặc biệt không thể bỏ qua  
Từ hồ Tà Pạ tiếp tục đi thẳng về hướng khu du lịch Tức Dụp khoảng 7 km nữa bạn sẽ thấy bảng chỉ dẫn tới khu vực có cây thốt nốt hình trái tim thuộc xã An Túc, huyện Tri Tôn.
 
An Giang và những điều đặc biệt không thể bỏ qua  
Thốt nốt là một loại cây đặc trưng của An Giang và các tỉnh Campuchia giáp Việt Nam. Thốt nốt thuộc họ Cau, hình dạng giống cây dừa và lá cọ, giản dị, mộc mạc, chất phác như người dân miền Tây, có nhiều công dụng như: làm nước giải khát, đường, bánh bò, bánh gói, chè hoặc rượu...
 
An Giang và những điều đặc biệt không thể bỏ qua  
Ở An Giang còn có một điểm "sống ảo" rất được lòng giới trẻ, đó là hồ bơi ở khu du lịch Victoria Núi Sam, thành phố Châu Đốc. Không cần phải nghỉ ở đây, bạn cũng có thể vào check in chụp ảnh.
 
An Giang và những điều đặc biệt không thể bỏ qua  
Và tất nhiên không thể bỏ qua ẩm thực. Lẩu mắm với các loại rau chỉ có ở vùng đồng bằng sông Cửu Long.
 
An Giang và những điều đặc biệt không thể bỏ qua  
Hay món gà đốt đặc sản là những món ăn nếu đã thử qua một lần bạn không thể nào quên. 
 
Nhật Tân

Hấp dẫn du thuyền trên sông Hoạt

(VH&ĐS) Nga Sơn là một miền quê cổ tích với những điểm du lịch thú vị và hấp dẫn, sẽ không thể nào không kể tới dòng Hoạt Giang hiền hòa thơ mộng, nhưng đã chứng kiến nhiều sử tích thú vị. Du thuyền trên sông Hoạt đang là một hoạt động du lịch hấp dẫn đối với du khách khi đến với miền quê huyền thoại này.

Nhắc đến Nga Sơn, người ta sẽ nhớ ngay đến những đôi chiếu cói, nhớ đến dưa hấu đỏ và bài học về ý chí kiên cường của Mai An Tiêm, nhớ đến chuyện tình yêu giữa thần tiên và tục thế của chàng Từ Thức và nàng Giáng Hương thuở trước,…
 song hoat.jpg
Du thuyền trên sông Hoạt, du khách sẽ được tận hưởng sự thanh khiết của thiên nhiên và thư thái tâm hồn.
Ngay từ những khoảnh khắc đầu tiên du thuyền trên sông Hoạt, du khách sẽ có được những cảm thức rất quen thuộc nhưng cũng đầy lạ lẫm. Những ruộng cói xanh mướt một màu, những luỹ tre trải dài tít tắp, những mái nhà tranh đạm bạc thấp thoáng sau những gốc cây già, những cánh chim chấp chới bay ríu rít gọi nhau về tổ, những người thuyền chài thả lưới buông câu,… đó chẳng phải là làng quê Việt, là hồn quê tự ngàn xưa còn lại hay sao? Chỉ bình dị vậy thôi, nhưng chắc chắn du khách sẽ bồi hồi như được dẫn lối về miền cổ tích, về với ngày xửa ngày xưa trong tâm khảm mỗi người!
Xuôi thuyền theo dòng sông Hoạt, ta sẽ đến với Cửa Thần Phù, nơi vẫn được dân gian nhớ đến qua câu ca dao:
Lênh đênh qua cửa Thần Phù
Khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm
Đến cửa Thần Phù, ta như được sống lại một thời hào hùng của cha anh thưở trước, thấy được hào khí Đông A chảy trong huyết quản. Sóng nước cuồn cuộn chảy như dòng thời gian vô tận trôi, sông Hoạt mênh mông vẫn là một chứng tích thiêng liêng về một thời cha ông đi khai hoang mở cõi. Sử xưa có ghi, cửa Thần Phù là một cửa ngõ quan trọng từ Bắc vào Nam theo đường Thủy.
Thế nhưng nơi đây sóng to gió dữ, quan quân khó lòng đi qua. Vua quan Đại Việt đi đánh Chiêm Thành qua đây, đều phải thắp hương cầu khấn đất trời, sông núi,… mới có thể bình yên dẹp loạn. Đất trời vần vũ, bao biến thiên, thăng trầm lịch sử đã trôi qua, Thần Phù hôm nay đã hiền hòa hơn, lòng sông nay đã hẹp dần không còn mênh mông như thưở trước, nhưng Thần Phù vẫn mãi là chứng tích lịch sử quan trọng về một thời kỳ anh hùng dựng nước và giữ nước của cha ông.
Rời Cửa Thần Phù, Hoạt giang sẽ dẫn du khách đến với chùa Trúc Lâm ẩn mình giữa bốn bề sông núi. Để đến được chùa Trúc Lâm, du khách phải men theo đường mòn, qua những dãy đá sắc nhọn,… thế nhưng không uổng công lặn lội, Trúc Lâm chào đón du khách bằng sự trầm mặc, khiêm nhường, toát lên nét thanh tịnh, đến đây, du khách sẽ thấy lòng thư thái, nhẹ nhàng hơn.
Những chú Sóc chuyền cành nhẩy nhót vui tươi, hoa Đại rải đầy lối đi thơm ngát, trái Bưởi vàng ươm, tươi rói chín mọng trên cây, bạt ngàn màu xanh của lá, của trời, màu vàng của những cánh hoa dại. Trúc Lâm thử lòng du khách bằng chặng đường xa, nhưng đổi lại sẽ tặng cho những ai thành tâm đến với ngôi chùa này, bằng sự an lạc trong tâm hồn.
Chia tay Trúc Lâm tự, Hoạt giang lại dẫn du khách đến với Bia Thần – một chứng tích lịch sử thiêng liêng, nơi ghi nhận sự tài hoa, khả năng chinh phục thiên nhiên của cha ông. Sừng sững trên vách núi đá là một chữ Thần bằng tiếng Hán. Chiều ngang của chữ Thần khoảng 1m, chiều dài cao 2m. Dù đã có nhiều nghiên cứu nhưng cho đến nay, vẫn chưa thể xác định được chữ Thần chính xác được khắc vào thời gian nào.
 chữ Thần.jpg
Bia Thần, chứng tích lịch sử thiêng liêng.
Có ý kiến đó là bút tích của vua Lê Thánh Tông, cũng có ý kiến lại cho rằng đó là bút tích của chúa Trịnh Sâm lưu lại. Dù không thể xác định chính xác ai là tác giả của chữ Thần, nhưng đứng trước một tuyệt tác như vậy, du khách sẽ không khỏi trầm trồ ngưỡng mộ tài năng của các bậc tiền nhân.
Đá núi cheo leo, sừng sững, sông nước mênh mông cuồn cuộn sóng, vậy mà người xưa đã khéo léo điêu khắc nét chữ tài hoa. Chữ Thần trên vách đá, vẫn hiên ngang giữa đất trời, mặc cho mưa gió bào mòn, thời gian vần vũ, mãi là một minh chứng xác đáng nhất về tài năng, trí tuệ của người Việt Nam tự ngàn xưa.
Bên bờ sông Hoạt còn có tượng Lã Vọng Câu Cá, dựa theo tích xưa Lã Vọng Câu Cá đợi thời bên Trung Hoa. Hiên ngang giữa đất trời, sông núi là hình ảnh một người ngồi trên đỉnh núi cao, tay cầm chiếc cần câu, khuôn mặt toát lên sự an nhiên thế tục. Tượng cao và to như người thật, nổi bật trên đỉnh núi thuộc địa phận xã Nga Thiện. Đây thực sự là một kỳ tích của thiên nhiên.
Nét độc đáo trên chuyến du thuyền xuôi dòng Hoạt giang, không chỉ ở sự bình yên của cảnh quan đôi bờ sông Hoạt, cũng không phải chỉ ở những kỳ quan thiên nhiên tự ngàn xưa còn lưu lại, mà chính là ở sự giải phóng tâm hồn của bản thân du khách. Đặt chân xuống thuyền là lúc du khách tự thưởng cho chính mình một ngày nghỉ ngơi, không vướng bận lo toan, cạnh tranh, mọi muộn phiền, thị phi buông trôi theo dòng nước. Thức ăn của du khách có thể do chính du khách tự chuẩn bị, hoặc cũng có thể đặt những món đặc sản Nga Sơn như: Dê ủ trấu, gỏi nhệch,... Nhà hàng sẽ cho người đi theo để phục vụ món ăn trên thuyền cho các khách quan.
Thú vị hơn nữa du khách có thể ghé vào nhà dân sinh sống ven sông Hoạt. Họ là những hộ dân cư đi khai khẩn kinh tế ở những khu vực vùng sâu, vùng xa. Đời sống nơi đây hãy còn thiếu thốn, nhưng tình người vô cùng nồng hậu. Vào mùa mưa, người dân còn có thể chiêu đãi du khách món Ốc núi Nga Sơn do chính họ vừa lên núi bắt về.
Du lịch nghỉ dưỡng sông Hoạt đang là một trong những điểm đến hấp dẫn trong đề án phát triển ngành công nghiệp không khói tại Nga Sơn. Ông Mai Đình Hiếu - Phó Chủ tịch UBND huyện Nga Sơn cho hay “Sông Hoạt là một trong những điểm du lịch mang đậm giá trị lịch sử cũng như cảnh quan thiên nhiên vô cùng hấp dẫn.
Trong thời gian tới, huyện Nga Sơn sẽ tích cực đầu tư, cải tạo, khai thác mô hình du lịch nghỉ dưỡng này để có thể phục vụ nhu cầu du lịch của du khách nhiều hơn nữa”.  Hi vọng, du lịch sông Hoạt sẽ càng ngày càng mở rộng và phát triển, thu hút được sự quan tâm của du khách từ nhiều miền đất nước, để các di tích lịch sử và cảnh quan thiên nhiên được trân trọng đúng với giá trị vốn có.
Ngô Mai Nga

Khám phá Kho Mường

(VH&ĐS) Trên hành trình lên đỉnh Pù Luông hùng vĩ, có một thung lũng rất đỗi nguyên sơ và mộc mạc mang tên Kho Mường. Đây là một trong những bản vùng cao, khó khăn nhất của xã Thành Sơn, huyện Bá Thước nhưng lại có tiềm năng rất lớn về điều kiện tự nhiên và truyền thống văn hóa để phát triển du lịch cộng đồng.

Kho Mường là một thung lũng nằm sâu trong vùng lõi của khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, ít chịu ảnh hưởng tác động của con người nên vẫn giữ được những nét rất hoang sơ, thơ mộng vốn có. Đây là nơi sinh sống của 60 hộ dân tộc Thái, với 230 nhân khẩu. Bản Kho Mường nằm cách biệt với các bản khác trong vùng, cách UBND xã Thành Sơn chừng hơn 2km nhưng chặng đường vào bản không hề đơn giản. Đường đi lại gập ghềnh là thử thách đối với các “phượt thủ” thích khám phá nơi đây.
 Đường vào hang Kho Mường.jpg
Đường vào hang Kho Mường.
Nhìn từ trên cao xuống, Kho Mường hiện ra với vẻ đẹp hút hồn, những ngôi nhà sàn nằm sát dưới chân núi bên những ruộng lúa, nương ngô, nương sắn. Bao quanh bản là một màu xanh bạt ngàn của núi rừng. Tất cả hiện lên như một bức tranh của chốn “bồng lai tiên cảnh”. Người dân trong bản chủ yếu sinh sống bằng nghề trồng lúa, ngô, sắn... sản phẩm làm ra cũng chỉ phục vụ cho bữa cơm hằng ngày. Nhờ vào những gì thiên nhiên đã ưu ái ban tặng, người dân đã biết đầu tư xây dựng những ngôi nhà sàn khang trang để đón khách du lịch đến tham quan. Đến với Kho Mường, du khách có thể chiêm ngưỡng cảnh sắc thiên nhiên, trải nghiệm, tìm hiểu nét văn hóa, phong tục tập quán của người dân tộc Thái, hòa mình vào cuộc sống dân dã, thưởng thức những món ăn truyền thống đậm đà hương vị núi rừng như: Cơm lam, nộm hoa chuối rừng, canh đắng, rượu ngô, kiệu muối chua và thịt vịt luộc... Đến đây du khách còn được khám phá hang Kho Mường hay còn gọi là hang dơi kì vĩ.
Hang Kho Mường là một trong số hang động có vẻ đẹp hấp dẫn trong quần thể các hang động được phát hiện trong Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông. Những khối nhũ đá vôi được hình thành từ khoảng 250 triệu năm trước làm nên hang động này. Hang có mối liên hệ với hệ thống sông dưới lòng đất với chiều dài khoảng 2,5 km về phía Bắc và dẫn nước từ Kho Mường qua làng Pốn thuộc xã Lũng Cao. Hệ thống sông suối chảy trong lòng hang là đặc điểm chung được biết tới của các khu vực núi đá Kart, nó tạo ra sự kết nối giữa các thung lũng lòng chảo bằng sự liên kết của các dòng chảy. Hang Kho Mường còn là nơi trú ngụ của nhiều loài dơi, ít nhất có 4 loài dơi trú ngụ trong hang này ở các thời điểm khác nhau của năm. Càng đi sâu vào trong hang, du khách sẽ được phóng tầm mắt chiêm ngưỡng những khối đá, nhũ đá với những hình thù kì lạ như hình người, hình cây, mãnh thú... đủ các màu sắc khác nhau, mờ mờ ảo ảo, tất cả hiện lên vô cùng sống động và đặc sắc. Vào một ngách sâu trong hang còn có một bãi đất trống rất rộng trông như một sân bóng chuyền tự nhiên, đây là một trong những điểm nhấn của hang dơi.
 bản Kho Mường được bao quanh bởi màu xanh của núi rừng..jpg
Bản Kho Mường được bao quanh bởi màu xanh của núi rừng. (Ảnh: T.T)
Ông Ngân Xuân Đông, nguyên là Phó Chủ tịch UBND xã Thành Sơn, hiện là Chủ tịch Hội làm vườn và là người trông coi hang Kho Mường cho biết: “Những năm gần đây, khách du lịch trong và ngoài nước dần biết đến Kho Mường nhiều hơn, lượng lượt khách đến với bản ngày một tăng. Chúng tôi hi vọng một ngày không xa, con đường từ trung tâm xã Thành Sơn xuống Kho Mường được đầu tư, giúp du khách đi lại dễ dàng hơn, góp phần cho sự phát triển du lịch của huyện nhà.”
Hà Vân

Mía tiến Triệu Tường

 - Vào những ngày Thanh Hóa đang rầm rộ chuẩn bị cho kỳ bầu cử Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa non trẻ ra đời, nghe tin ông Vĩnh Thụy (vua Bảo Đại) về ứng cử đang ở Ủy ban lâm thời giải phóng tỉnh (tòa sứ cũ), các chức sắc hồi Pháp thuộc ở thôn Yên Vĩ, Triệu Tường đem 5 bó mía to xin vào gặp Chủ tịch Lê Tất Đắc. Họ là những người đã từng đem mía tiến vào Kinh để tiến vua.

Lệ này thôn Yên Vĩ đã bỏ cách đây 3, 4 năm trước khi chính phủ Trần Trọng Kim ra đời do Nhật dựng lên. Lần này, họ đem quà đến biếu Ủy ban cũng là tạo một dịp để xem mặt nhà vua, mà các lần vào tiến kinh có bao giờ được giáp mặt. Bác Lê Tất Đắc vui mừng giữ họ lại để ăn cơm với ông Vĩnh Thụy. Nói là mía tiến, nhưng tất cả liên danh ứng cử Quốc hội hôm đó, trừ ông Vĩnh Thụy, nào ai được thưởng thức và biết cái quý giá của loại đặc sản này.
Qua câu chuyện của các già làng Yên Vĩ kể lại, thôn Yên Vĩ - Gia Mô có nhiều đồi, nhưng chỉ có hai đồi Bạng và đồi Ông Phụ có diện tích khoảng 11 mẫu Trung Bộ trồng được mía tiến mà thôi. Với khí hậu môi trường và đất Bazan giàu khoáng chất, lại có thêm các chất vi lượng riêng biệt nào đó nên cũng giống mía đó, đem trồng trên đất khác dù gần hai quả đồi này, chất ngọt và hương vị vẫn khác xa. Ngược lại nếu mía Kim Tân có tiếng từ trước, đem trồng ở đất này lại vẫn cứ ngon hơn trồng ở đất sở tại - Thạch Thành. Nhân dân Thanh Hóa có câu ca: tháng 6 hội gai, tháng 2 hội mía. Hội gai là hội đền Hàn, trúng vào mùa dứa gai, ở bên bờ sông Mã phía giáp với hai huyện Vĩnh Lộc và Hà Trung. Dứa gai thì nơi nào chả có, ai dại mà đi hội lại vác về cho nặng. Còn hội mía tức là trẩy hội đền Sòng. Bất kỳ ở đâu, vào hội đền Sòng xứ Thanh về, thế nào con cháu cũng được ăn mía tiến Triệu Tường. Cây mía quý ấy theo khách thập phương lên tàu, lên xe tỏa về khắp các tỉnh, dù đường xa, bẹ lá có héo đi mà vẫn còn ngon lạ lùng. Một lần được nếm những lóng mía ấy cũng đủ sướng rồi. Nếu róc vỏ, tiện ra, đổ vào cái âu để trong tủ lạnh thì vị thơm ngon thanh khiết đặc biệt kia còn gấp mấy lần hơn thế.
Cây mía tiến Triệu Tường, Yên Vĩ có lóng mía mềm, mắt mía cũng mềm, dùng tay bẻ được thành từng phần ngắn mà không nhất thiết phải tiện bằng dao. Người già hàm răng yếu vẫn ăn được mía này. Bã mía lúc nhả ra chỉ còn một chút xíu, nhưng lập tức nó lại xòe bung ra, trông khá thú vị. Mật mía tiến óng ánh như mật ong, để lâu không bị chua, không chỉ để nấu chè, mà còn dùng làm thuốc quý chữa được nhiều bệnh. Cây mía tiến cũng còn được dùng trong hương liệu làm hương (nhang) quý. Thân mía tươi, thái mỏng, phơi khô và sao lên cùng với bã mía sau khi đã ép mật, tán thành bột trộn chung với mấy thứ nguyên liệu thuốc bắc khác nữa. Nén hương sẽ cháy đượm, tỏa hương thơm ngan ngát mà thanh tao, thêm cảm giác thành kính thiêng liêng trong ngày giỗ, ngày tết. Tháng Chạp thu hoạch mía, bà con thường dành lại số lớn cây tươi để bán cho khách thập phương, tháng 2 dự hội đền Sòng giá sẽ được gấp đôi lúc chính vụ. Muốn vậy phải bấng nguyên cả cụm đem về đặt xuống những hố đất trong vườn nhà mà vùi quanh gốc bằng cát ẩm. Thời còn phải tiến kinh, cây mía chở vào đến Huế vẫn còn giữ nguyên vẹn hương vị của nó là do người ta cũng theo cách này, chỉ khác là đặt trọn những cụm vào những thùng gỗ và cũng vùi với cát ẩm như vậy.
Câu chuyện nói đến đây, nét mặt của ông Vĩnh Thụy phảng phất một nỗi buồn xa xăm. Cảm giác hình như ân hận với việc chỉ biết hưởng thụ một thứ đặc sản xa xỉ phải vận chuyển từ đây vào Kinh (hơn 400 cây số) mà không biết người dân Yên Vĩ, Triệu Tường hàng năm phải vất vả đường trường để dâng hiến ra sao?
Lúc này nạn đói năm Ất Dậu vẫn hoành hành khắp nơi trong tỉnh. Dựa vào tình hình này, ông trình bày với ông chủ tịch tỉnh xin được góp một ít tiền cứu trợ vùng Triệu Tường, nơi quê gốc của các vua chúa triều Nguyễn kí thác mộ phần mà hàng năm triều đình vẫn cử người ra Thanh Hóa bái yết tiên linh. Lẽ nữa, nhân dịp này cũng là lúc trả nghĩa cho nhân dân Yên Vĩ, Triệu Tường đã bao năm lặn lội đường xa cung phụng cho một yêu cầu xa xỉ của vương triều.
Thấy đề nghị phù hợp với nguyện vọng chính đáng, lại có cử chỉ ân tình với quê hương bản quán, rất tốt cho sự ra mắt cử tri của ông ta nên đã được chủ tịch Lê Tất Đắc và Liên danh ứng cử Quốc hội chấp nhận.
Viết đến đây tôi thầm tiếc một sản phẩm quý của địa phương đã qua trên nửa thế kỷ, mà đất nước bây giờ đã sang thời mở cửa, vẫn chưa ai biết nắm lấy để phát triển thành một đặc sản cung cấp cho các khách sạn Á, Âu thành một loại giải khát đặc biệt, phục vụ cho người tiêu dùng, vì nó là một đặc sản giàu chất bổ, thực vật quý hiếm mà không có địa phương nào có.
Nếu đem xuất khẩu loại mía quý hiếm này thì chỉ hơn hai triệu người Việt ở nước ngoài được thưởng thức là một hạnh phúc ân tình với cội nguồn quê hương, thật khó mà diễn đạt thành lời.
Võ Thúc Loan

Không đỗ trạng nguyên nhưng vẫn được gọi là Trạng Bùng

Chân dung Trạng Bùng.

Trạng Bùng là Phùng Khắc Khoan

Phùng Khắc Khoan, tự là Hoằng Phu, hiệu là Nghị Trai. Ông sinh năm 1528 tại làng Phùng Xá (hay làng Bùng), huyện Thạch Thất, Hà Nội.
Được cha rèn cặp từ nhỏ, sau lại theo học Nguyễn Bỉnh Khiêm nên Phùng Khắc Khoan sớm nổi tiếng với tài văn chương và tinh thông thuật số. Mặc dù vậy, ông không tham gia các khoa thi dưới triều nhà Mạc.
Năm 1557, nhà Lê mở khoa thi Hương tại xã Đa Lộc, huyện Yên Định (Thanh Hóa), Phùng Khắc Khoan 29 tuổi lều chõng đi thi và đỗ thủ khoa. 23 năm sau (năm 1580), dưới đời vua Lê Thế Tông, triều đình mở thi Hội ở Vạn Lại (Thanh Hóa), ông xin dự thi và đỗ Hoàng giáp (sau Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa). Lúc này ông 53 tuổi, trải qua nhiều chức vụ quan trọng dưới triều Lê - Trịnh.
Phạm Đình Hổ viết trong Vũ trung tùy bút: "Đầu đời Trung Hưng có Phùng Khắc Khoan đã là bậc công thần, tham mưu chốn cơ mật, từng giữ trọng chức ở các bộ, các tự, mà còn hạ mình xuống chốn trường thi, cầu lấy đỗ đại khoa mới cho là vinh".
Nhà thơ Hữu Thỉnh viết trong cuốn Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan, thân thế - cuộc đời và sự nghiệp: "Trong lịch sử thi cử các triều đại phong kiến Việt Nam, hiếm có một ông quan tuổi ngoài 50 lều chõng đi thi và đỗ cao như Phùng Khắc Khoan".
Như vậy, Phùng Khắc Khoan đỗ Hoàng giáp chứ không đỗ Trạng nguyên. Tuy nhiên, dân gian phục tài, gọi ông là Trạng Bùng với hàm ý coi ông là trạng nguyên của làng Bùng.

Phùng Khắc Khoan từng giữ tới chức Thượng thư bộ Hộ

Cuộc đời làm quan của Phùng Khắc Khoan khá thăng trầm nhưng luôn thể hiện sự liêm chính cương trực vì nước vì dân, được các đời vua trọng dụng. Sau khi Phùng Khắc Khoan đỗ đầu kỳ thi Hương năm 1557, ông được Trịnh Kiểm biết đến là người có học thức, mưu lược nên đã cho tham dự việc triều chính, giữ chức ký lục ở ngự dinh, coi quân bốn vệ.
Từ năm 1558 đến năm 1571, ông giữ nhiều chức vụ quan trọng. Nhưng cũng trong thời gian này, vì làm trái ý vua, ông từng bị giáng chức, phải ra thành Nam, huyện Tương Dương, Nghệ An. Ít lâu sau, vua lại triệu ông về.
Sau khi đỗ Hoàng giáp kỳ thi Hội, ông liên tục được thăng chức vì có những đóng góp lớn cho triều đình. Năm 1593, sự nghiệp trung hưng của nhà Lê hoàn thành, Phùng Khắc Khoan được coi là công thần. Ở tuổi 69, khi đang làm Tả thị lang bộ Công, ông được cử làm Chánh sứ sang triều Minh (Trung Quốc). Ông từng giữ tới chức Thượng thư bộ Hộ (năm 1602) trước khi xin về quê.

Phùng Khắc Khoan dâng 30 bài thơ

Sau khi sự nghiệp trung hưng thành công, vua Lê về kinh đô. Cùng việc khôi phục kinh tế, triều đình phải lo một việc lớn là đối ngoại với nhà Minh bởi lúc bấy giờ, nhà Minh đã nhận hối lội của nhà Mạc nên không chịu nhận sứ thần của nhà Lê. 
Năm 1597, khi đang làm Tả thị lang bộ Công, Phùng Khắc Khoan được cử làm Chánh sứ sang nhà Minh. Trong Lịch triều hiến chương loại chí, phần Nhân vật chí, Phan Huy Chú viết; "Bấy giờ nhà Minh nhận hối lộ của con cháu nhà Mạc, không chịu nhận sứ. Ông (chỉ Phùng Khắc Khoan) còn đợi mệnh vua Minh, liền đưa thư cho Súy ty nhà Minh (tức quan coi cửa ải), kể rõ việc nhà Mạc cướp ngôi... Người Minh khen là có nghĩa mới cho sứ thần qua cửa quan".
Khi đến Yên Kinh, Lễ bộ đường của triều Minh trách việc nhà Lê cống sai mẫu nên không cho vào. Phùng Khắc Khoan đã có những lời biện bạch thuyết phục được vua Minh nên được vào trầu và lĩnh ấn sắc đem về nước.
Trong dịp này, gặp ngày sinh nhật vua Minh, ông dâng lên tập thơ gồm 30 bài khiến vua Minh Thần Tông nể phục. Chính sử chép: "Khắc Khoan đến Yên Kinh, vừa gặp tiết Vạn Thọ của vua Minh, dâng 30 bài thơ lạy mừng. Trương Vị đem tập thơ Vạn Thọ ấy dâng lên. Vua Minh cầm bút phê rằng Người hiền tài ở đâu mà không có. Trẫm xem thơ, thấy hết lòng trung thành của Phùng Khắc Khoan, rất đáng khen ngợi rồi sai đưa xuống khắc in để ban hành trong nước".

Phùng Khắc Khoan đem ngô về trồng 

Trong thời gian đi sứ ở Trung Quốc, Phùng Khắc Khoan đã đưa giống ngô, giống đậu tương (có tài liệu ghi ngô và vừng) về trồng ở quê nhà. Câu chuyện Trạng Bùng đem ngô từ Trung Quốc về Việt Nam được chép lại trong nhiều sách, truyện với nhiều cách kể, nhưng các tài liệu đều khẳng định ông là người đầu tiên mang giống cây trồng này về nước Việt.
Cũng trong chuyến đi sứ, Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan còn để tâm tìm hiểu và nắm bắt một số kỹ thuật sản xuất nhằm đưa về phổ biến trong nước. Theo cuốn Thần đồng xưa nước ta, trên đường đi, ông thấy nhiều xưởng dệt tơ bèn lân la làm quen, quan sát, nhớ mọi chi tiết rồi ghi chép lại. Khi về nước, ông đã truyền nghề dệt lượt mỏng (dân gian gọi là "Lượt Bùng") cho người dân.
Trong thời gian rời kinh về quê, Phùng Khắc Khoan hướng dẫn người dân làm nông. Ông viết nhiều bài thơ phổ biến trong dân gian về cây cỏ, rau quả, gia súc, gia cầm cùng cách nuôi, trồng và ích lợi của chúng. Ví dụ: "Trồng dưa chớ để mùa qua/ Ngăn phên mắt cáo kẻo gà đạp kê/ Quanh vườn thả dậu sừng dê/ Mướp trâu dưa chuột bốn bề leo dong".

thơ của Trạng Bùng có cả chữ Nôm và chữ Hán

Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan là thi sĩ tài hoa và được đánh giá xứng đáng tầm vóc một tác gia lớn của nền văn học Việt Nam. Giới sưu tầm đã xác định được trên 500 tác phẩm của ông bao gồm văn tế, văn bia, kinh truyện... nhưng đặc sắc hơn cả là thơ, bao gồm cả chữ Hán và chữ Nôm.
Bốn tập thơ chữ Hán tiêu biểu của Phùng Khắc Khoan còn lại đến ngày nay là Ngôn chí thi tập, Huấn đồng thi tập, Đa thức tập, Mai lĩnh sứ hoa thi tập. Nhà thơ Hữu Thỉnh đánh giá: "Chỉ riêng với bốn tập thơ trên đã khẳng định và tôn vinh tầm vóc Phùng Khắc Khoan".
Sáng tác chữ Nôm của Phùng Khắc Khoan phải kể đến như Ngư phủ nhập Đào nguyên, Lâm tuyền vãn...
Thơ văn của Phùng Khắc Khoan phản ánh thời thế, chí hướng, tâm trạng, thiên nhiên..., có giá trị lớn trong việc nghiên cứu xã hội. Ngoài ra, thơ văn của ông còn góp phần giải quyết công việc ngoại giao mà ông đảm nhiệm.

TP HCM có đường Phùng Khắc Khoan

Năm 1613, Phùng Khắc Khoan mất, thọ 86 tuổi, được truy tặng Thái phó. Để tưởng nhớ công ơn của ông, người dân Phùng Xá (Thạch Thất, Hà Nội) đã lập đền thờ.
Nhiều đường, phố, trường học ở các tỉnh, thành được đặt theo tên của ông, tiêu biểu là ở Hà Nội và TP HCM. Đường Phùng Khắc Khoan ở TP HCM nằm ngay quận 1 (quận trung tâm). Ở Hà Nội, đường này thuộc quận Hai Bà Trưng.

Dương Tâm

Hồng hà nữ sĩ : Đoàn Thị Điểm

Bà Đoàn Thị Điểm sinh năm 1705, hiệu là Hồng Hà nữ sĩ, người làng Giai Phạm, huyện Văn Giang, xứ Kinh Bắc (nay thuộc tỉnh Hưng Yên).
Theo Đoàn thị thực lục, bà nguyên họ Lê, tổ phụ là Lê Công Nẫm, võ quan triều Lê. Đến đời cha bà Đoàn Thị Điểm là Đoàn Doãn Nghi mới đổi thành họ Đoàn. Việc đổi họ này được cho là do ông Doãn Nghi muốn làm quan văn mà nhà họ Lê toàn quan võ.
Đoàn Thị Điểm là con thứ của ông Đoàn Doãn Nghi. Theo sách Hồng hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm, bà Điểm “dung sắc kiều lệ, cử chỉ đoan trang, lời nói văn hoa, sự làm lễ độ”. Bà theo cha và anh trai trau dồi nghiên bút nên sớm nổi danh tài sắc hơn người.

Đoàn Thị Điểm từng được tiến cử vào phủ chúa Trịnh

Năm 1720, khi 16 tuổi, bà Đoàn Thị Điểm được Thượng thư Lê Anh Tuấn đưa về làm con nuôi. Thấy bà thông minh, ông định tiến vào cung phủ của chúa Trịnh nhưng bà không chịu, liền trở về cùng anh theo cha tới trường dạy học ở làng Lạc Viên, huyện Yên Dương, tỉnh Kiến An (nay thuộc thành phố Hải Phòng).
Năm bà 25 tuổi, cha mất, bà cùng gia đình của anh dời đến làng Vô Ngại, huyện Đường Hào (nay thuộc huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên). Chẳng bao lâu sau, anh mất (năm 1735), Đoàn Thị Điểm phải vừa làm nghề bốc thuốc do anh trai truyền dạy, vừa dạy học để có tiền nuôi mẹ, giúp đỡ chị dâu nuôi các cháu.
Mặc dù từng từ chối khi được tiến vào cung phủ của chúa Trịnh nhưng bà Đoàn Thị Điểm cũng có thời gian vào cung làm giáo thụ, dạy học cho cung phi. Sau đó, nhân trong nước có loạn, bà xin từ chức rồi về ngụ ở xã Chương Dương, huyện Thượng Phúc (nay là Thường Tín) và tiếp tục bốc thuốc.

Bà Đoàn Thị Điểm từng mở trường dạy học

Năm 35 tuổi, mặc dù nghề bốc thuốc cũng tạm đủ nuôi gia đình nhưng bà ngẫm nghĩ rằng cái vốn học vấn và văn tài thì chưa có cách gì thi thố được. Bà thường nói “Xem qua các chuyện đàn bà con gái ngày xưa thì thấy không hiếm kẻ có tài hoa, nhưng chưa từng thấy có kẻ dạy học trò đậu đạt”.
Sách Hồng hà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm viết: “Dưới thời phong kiến, dù có tài năng uyên bác, người phụ nữ vẫn không được ra khỏi nhà, không được đi thi, không được làm nghề dạy học”.
Nhân thời nhiễu nhương, Đoàn Thị Điểm cho rằng mình đủ tư cách để vượt thói thường nên mở trường học tại nhà, vừa bốc thuốc, vừa truyền đạo thánh hiền (trước bà chỉ dạy học giúp cha và anh). Danh tiếng của bà đã thu phục được lòng người. Con em gần xa nô nức cắp sách đến trường bà Điểm.
Trong số học trò nhỏ của bà về sau có nhiều người thành đạt, như Đào Duy Doãn quê ở xã Chương Dương, đỗ tiến sĩ năm 1763. Trong lịch sử giáo dục Việt Nam, dường như vào thời trung đại, duy nhất có Đoàn Thị Điểm là nữ mở trường dạy học và trở thành danh sư
Bà Đoàn Thị Điểm tài sắc vẹn toàn nên có rất nhiều người đến cầu hôn, trong đó có cả người quyền quý, như hai người từng đỗ tiến sĩ là Nhữ Đình Toản và Nguyễn Công Thái. Tuy nhiên, bà đều từ chối.
Ở tuổi 37, khi không còn nghĩ đến hôn nhân nữa, muốn ở vậy suốt đời, bà khiến nhiều người bất ngờ vì quyết định lấy Nguyễn Kiều, một tiến sĩ nổi tiếng hay chữ đã góa vợ. Lý do khiến bà nhận lời phần vì thương xót hoàn cảnh của Nguyễn Kiều, phần vì mẹ bà nhận lời và nhiều học trò tán thành cuộc hôn nhân này.
Lấy Nguyễn Kiều, bà Đoàn Thị Điểm đã có những ngày hạnh phúc, vợ chồng tâm đầu ý hợp, thường xuyên xướng họa với nhau. Tuy nhiên, cưới chưa tròn tháng, Nguyễn Kiều phải đi sứ Trung Quốc ba năm.
Phải chịu cảnh ly biệt, bà Đoàn Thị Điểm buồn rầu thương nhớ chồng nơi đất khách. Nhiều nhà nghiên cứu khẳng định thời gian xa chồng, bà đã dịch tập thơ chữ Hán Chinh phụ ngâm của danh sĩ Đặng Trần Côn sang chữ quốc âm.

Truyền kỳ tân phả do Đoàn Thị Điểm sáng tác

Truyền kỳ tân phả (cuốn sách ghi chép những chuyện lạ) là tác phẩm bằng chữ Hán bao gồm nhiều truyện.
Theo Đoàn thị thực lục, Truyền kỳ tân phả có năm truyện là Hải khẩu linh từ (Đền thiêng ở cửa bể), Vân Cát thần nữ (Truyện nữ thần ở Vân Cát), An Ấp liệt nữ (Truyện người liệt nữ ở làng An Ấp), Yến anh đối thoại (Cuộc đối thoại giữa yến và anh), Mai huyễn.
Còn theo Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, Truyền kỳ tân phảgồm sáu truyện là Vân Cát thần nữ, An Ấp liệt nữ, Bích câu kỳ ngộ, Hoàng Sơn tiên cục, Mai huyễn và Nghĩa khuyển khuất miêu.
Ngoài Chinh phụ ngâm bản chữ quốc âm và Truyền kỳ tân phả, Đoàn Thị Điểm còn sáng tác nhiều bài thơ. Theo Đoàn thị thực lục: “Khi chưa lấy chồng, bà cùng cha và anh xướng họa. Trong khi nhàn nhạ ngâm lên thơ hay, câu đẹp, kể đến hàng chục hàng trăm; di cảo ấy chỉ có nhà quan Thượng thư làng Tiêu Điền Nguyễn Nghiễm là sưu tập đầy đủ hơn cả”.
Sau khi về nhà chồng, bà xướng họa với chồng và cùng chồng xếp đặt thơ văn thành tập. Đó là chưa kể không ít bài văn luyện thi bà đã soạn trong thời gian làm nhà giáo. Phần thơ văn nói trên đến nay chưa tìm thấy.

Đoàn Thị Điểm mất tại Nghệ An

Sau khi Nguyễn Kiều về nước, năm 1748, ông được cử đi làm Tham thị ở trấn Nghệ An. Đoàn Thị Điểm phải theo chồng. Trên đường đi, bà bị cảm nặng, dù đã chạy chữa nhưng không qua khỏi, cuối cùng mất ở Nghệ An, hưởng thọ 43 tuổi.
Thương cảm người bạn đời vắn số, Nguyễn Kiều đã viết bài văn tế hết lời ca tụng tài và đức hạnh của bà. Trong đó có câu “Đào chưa quả, đã vội khô/ Quế đang thơm mà đã rũ/ Rừng sâu, bể rộng. Nàng hỡi đi đâu? Ngọc nát, châu chìm, lòng tôi quặn nhớ”.
Ngày nay, nhiều tỉnh thành lấy tên bà đặt cho trường học, đường phố để tưởng nhớ.

Dương Tâm