Thứ Bảy, 1 tháng 6, 2019

Trải nghiệm họp chợ cá từ lúc bình minh ở Cửa Lò

(Baonghean.vn) - Là một trong những ngôi chợ đầu mối hải sản lớn ở Cửa Lò, chợ cá Nghi Thủy quanh năm nhộn nhịp cảnh bán - mua, đặc biệt, càng náo nhiệt hơn trong mùa du lịch. Chợ cá thường họp từ lúc 5h sáng, trở thành điểm đến không thể thiếu với mỗi một du khách khi về với thị xã biển xinh đẹp này.
Từ sáng sớm, bến cá Nghi Thủy đã tấp nập thuyền bè, mang theo nhiều loại hải sản tươi ngon. Khung cảnh "trên bến dưới thuyền" kéo dài gần nửa cây số khiến cho du khách lần đầu nhìn thấy không khỏi bất ngờ thích thú. Ảnh: Hồ Đình Chiến
Hải sản bốc dỡ từ tàu thuyền xuống rất đa dạng: cá thu, bạc má, cá nục, cá trích, tôm tít, ghẹ... Hầu hết các tiểu thương đều đã có thuyền quen, nên việc vận chuyển và giao dịch diễn ra rất khẩn trương để kịp giờ "mở chợ". Ảnh: Hải Vương
Chợ cá Nghi Thủy cách bến không xa. Từ rất sớm, từng đoàn xe điện chở khách du lịch đã đậu kín trước cổng chợ. Nhiều du khách cho biết, đi chợ cá là một trong những trải nghiệm đặc sắc khi đến với Cửa Lò, bởi không chỉ được tận tay lựa chọn hải sản tươi ngon, mà còn để chứng kiến khung cảnh lao động, bán mua nhộn nhịp, vui tươi. Ảnh: Hải Vương
Người bán người mua tấp nập cả một khu chợ. Nhiều tiểu thương "đón lõng" hải sản từ sớm, dùng xe máy chuyên chở đến nhiều ngôi chợ khác gần, xa. Ảnh: Hải Vương
Không khí chợ cá buổi sáng rất "hút" du khách. Người háo hức chụp ảnh, ghi lại những khoảnh khắc lao động miệt biển; người mải miết chọn hàng, ngã giá... Ảnh: Hải Vương
Những mẹt mực nháy, mực hấp, tôm nghệ, ốc, nghêu... tươi ngon nõn nà khó cưỡng, khiến ai đã "lạc" vào đều không ngừng tay xách, nách mang mua về. Ảnh: Hải Vương
 
Ngoài những sạp hàng cố định, chợ cá còn có nhiều tiểu thương đi bán lẻ, đon đả mời chào. Chợ cá Nghi Thủy ít diễn ra cảnh "ép mua" gây khó chịu cho du khách, mà đa phần tiểu thương đều khá vui vẻ khi trò chuyện. Ảnh: Hải Vương
Ở chợ cá có rất nhiều sạp hàng bán hải sản khô, nước mắm, ruốc... Các mặt hàng được bao bọc kỹ, hoặc đóng gói chân không, thuận tiện cho du khách mang về làm quà. Ảnh: Hải Vương
Xung quanh chợ có rất nhiều nơi nướng cá thu như thế này, du khách có thể trực tiếp tham gia quá trình nướng cá để có được trải nghiệm thú vị. Dù mua hay không, các hộ dân nơi đây vẫn sẽ rất đon đả đón chào. Ảnh: Hải Vương
 
Gần trưa, nhiều chuyến xe điện vẫn tiếp tục đưa khách đến với chợ cá Nghi Thủy. Nhiều người nói rằng, đến Cửa Lò ngoài tắm biển thì nếu không đến thăm chợ cá quả là điều đáng tiếc. Ảnh: Hải Vương

Điểm danh những món ngon không thể bỏ qua khi đến với Cửa Lò

(Baonghean.vn) - Đến với phố biển Cửa Lò, du khách không chỉ được tắm biển, thưởng ngoạn thắng cảnh hữu tình mà còn được thưởng thức những món ăn độc đáo của vùng đất xứ Nghệ.
Mực nháy hấp: Mực nháy hấp là một trong những hải sản góp phần tạo nên sức hút của ẩm thực phố biển Cửa Lò. Vào sáng sớm, hay khi đêm muộn, trở về sau một buổi lênh đênh biển cùng chiếc thuyền câu, ngư dân đem về những con mực tươi trong veo, mình dày và sẽ ngọt lịm khi được hấp cùng chút sả, gừng, rồi ăn kèm lá lốt.
Mực trứng nướng: Được nướng bằng than hoa, mực trứng nướng có hương vị thơm, bùi, ngậy, hấp dẫn thực khách ngay từ lần đầu tiên thưởng thức. Du khách có nhiều lựa chọn khi ăn món mực trứng nướng như mực trứng nướng chấm xì dầu trộn cùng mù tạt, hoặc chấm với nước mắm nguyên chất của ngư dân Cửa Lò, hoặc cũng có thể chấm với tương ớt.
Hàu nướng mỡ hành: Hàu nướng mỡ hành là món ăn bổ dưỡng, thơm ngon, hương vị rất riêng biệt, được nhiều du khách lựa chọn khi về với Cửa Lò.
Nộm sứa: Món nộm được làm từ sứa tươi, lạc, vừng trắng, cà rốt, ruốc thịt, mực khô, chanh, sả, dừa nạo, húng quế, đường, ớt, bột canh, dầu vừng (mè). Nộm sứa là món ăn mát, giải nhiệt, thích hợp cho cánh mày râu làm mồi nhậu. Nếu ai đã từng một lần ăn nộm sứa vào mùa hè chắc hẳn còn lưu giữ mãi hương vị thanh mát của món hải sản đặc trưng của bãi biển đẹp nhất Bắc Trung Bộ này.
Cua bể hấp sả: Cua bể hấp sả là món ăn có mùi thơm quyến rũ và giàu chất đạm của Cửa Lò. Cua bể Cửa Lò nổi tiếng bởi sự thơm ngon và màu sắc bắt mắt. Những con cua gạch đỏ tươi sau khi hấp là lựa chọn không thể bỏ qua trong kỳ nghỉ mát tại phố biển xứ Nghệ.
Xiên nướng từ thịt cá mu: Với đặc trưng là loài cá có thịt dai, thơm, xiên nướng từ thịt cá mú trở thành món ăn quen thuộc của nhiều du khách mỗi dịp về với biển Cửa Lò để nghỉ mát.
Cá mú hấp bia: Đây là món phù hợp cả việc làm thức ăn với cơm cũng như làm thực phẩm cho những bữa nhậu. Khi thưởng thức món cá mú hấp bia, du khách sẽ cảm thấy ngọt hơn, thơm ngon hơn là hấp thông thường.
Tôm hùm hấp bia: Tôm hùm là động vật chứa rất nhiều chất quan trọng như omega 3, giàu protein nạc. 100 gram thịt tôm hùm có chứa 98 calo, 21 gam protein, và chỉ 0,6 gram chất béo. Món tôm hùm cũng được nhiều du khách lựa chọn sau thời gian hòa mình trong dòng nước mát lạnh của biển Cửa Lò.
Cùng với nét đẹp về thắng cảnh, phong cách phục vụ, hệ thống nghỉ dưỡng thì những món ăn đang tạo nên một Cửa Lò làm say lòng những du khách trong và ngoài nước.

Về Nghệ An thưởng thức 'lộc trời'

(Baonghean.vn) - Nếu có dịp về Nghệ An, đặc biệt là miệt biển Quỳnh Lưu, thị xã Hoàng Mai... trong khoảng thời gian từ tháng Giêng đến tháng Năm âm lịch, bạn sẽ được thưởng thức một món rau góp phần làm nên “thương hiệu” của vùng đất này. Đó là rau nhót - "lộc trời" dành riêng cho người dân miền chân sóng.
Theo mẹ ra đồng rau nhót ven đê là hình ảnh quen thuộc với nhiều đứa trẻ ở một số vùng quê Quỳnh Lưu, thị xã Hoàng Mai... Ảnh: Nhật Thanh
Rau nhót là loại rau dại thường có thân màu tím, lá giống hoa mười giờ, mọc ven các cánh đồng muối, ven các đầm nuôi tôm cá nước lợ hoặc ven sông. Loại rau này có từ bao giờ cũng chẳng ai rõ. Chỉ biết rằng, khi lớn lên, chúng tôi đã thấy nó hiện diện tự thuở nào. Không ai trồng, ai chăm mà rau cứ mọc tốt tươi, thế nên nhân dân vùng đất địa đầu xứ Nghệ đều nghĩ đó là “lộc trời cho”. Phải chăng là đó là một sự bù đắp của thiên nhiên đối với vùng đất lắm mưa nhiều nắng này?
Rau nhót mọc thành từng khóm, phải cúi người nhẫn nại suốt cả giờ đồng hồ mới hái được đầy rổ rau mang về. Ảnh: Nhật Thanh
Có lẽ trong kí ức của nhiều người vùng đất Quỳnh Lưu, Hoàng Mai, rau nhót gắn liền với một thời kì xa khó. Những tháng ngày cuộc sống còn khó khăn, rất nhiều người đã đi hái rau nhót, mà đông nhất là phụ nữ và trẻ em. Một buổi đi học, thời gian còn lại có nhiều đưa trẻ đã gom lại niềm vui thơ trẻ mà ra những cánh đồng muối để hái rau vừa để ăn, vừa để bán.
Nhờ những rổ rau nhót được bán đi, gom góp suốt mùa mới có thể đủ tiền mua sách đi học hoặc một chút đồ dùng vì rau nhót thường rẻ. Với những gia đình thực sự khó khăn, bữa cơm có đĩa nộm rau nhót trộn chút lạc có thể làm cho những đứa trẻ thấy “đủ” hơn, có thể cùng nhau đi qua những ngày khó, để có thể tiếp tục giấc mơ được đến trường trong những ngày tháng ấy. 
Rau nhót có thể thu hoạch quanh năm, nhưng tốt nhất vào giữa xuân, đầu hè. Ảnh: Nhật Thanh
Sự đặc biệt của rau nhót không chỉ ở đặc điểm tự nhiên mà còn ở cách chế biến. Hầu như người ta không nấu canh, không xào mà chủ yếu dùng làm nộm. Mà cách làm nộm cũng thật lạ lùng. Rau làm sạch sẽ, phải luộc qua ít nhất 2 - 3 lần để rau chín và bớt mặn. Khi trộn nộm thì phải vắt bớt cho ráo nước, trộn cùng chút rau thơm, lá chanh, đường, ớt và chút lạc rang. Có hai điều cần chú ý là phải luộc rau và không được thêm muối.
Khi thưởng thức, có thể ăn kèm bánh đa, bánh mướt, bún hoặc đơn giản nó là một món sạch lành trong bữa cơm gia đình. Khi ăn, bạn sẽ cảm nhận thấy cái giòn giòn của rau nhót, vị thơm của các loại rau thơm, vị bùi bùi của lạc và chua chua cay cay không thể thiếu của món nộm chuẩn vị. Tất cả hòa quyện tạo nên sự đậm đà của món nộm đậm chất Nghệ này. Có lẽ sự đậm đà không chỉ bởi sự mặn mòi của nắng gió đọng lại trong từng cọng rau. Mà sự đậm đà đó còn gắn liến với sự nhọc nhằn của người dân nơi đây, gắn liền với kí ức vừa êm đềm vừa dữ dội của bao người sống ven những đồng muối. 

Vãn cảnh chùa thiêng trên đỉnh Tù Và

(Baonghean.vn) - Sau một thời gian khôi phục, chùa Hương hay còn gọi là chùa Đá ở xã Mỹ Thành, huyện Yên Thành đã dần lấy lại được nét đẹp xưa, trở thành điểm đến của phật tử và du khách muôn phương khi về lễ Phật và khám phá quần thể di tích cổ kính trên động Tù Và.
   
Chùa Hương, ngoài tên gọi chùa Đá (vì được xây dựng trên núi đá) còn có tên khác là chùa Mụ Châu để ghi nhớ công lao của người có công sáng lập chùa là bà Châu Nương – vợ của Thượng tướng, Thái sư Trần Quang Khải. Theo các cụ cao tuổi ở địa phương, tên gọi “chùa Mụ Châu” đã khẳng định chùa được xây dựng vào thời Trần với lịch sử xa xưa.
Chùa Hương tọa lạc trên đỉnh Trốc Xôi - một ngọn núi phía Tây Bắc của dãy Tù Và. Tương truyền lúc mới khởi dựng, chùa chỉ có hai gian nhà nhỏ thờ Phật, nhưng nổi tiếng linh thiêng, tao nhân mặc khách muôn phương mỗi lần lên Tù Và thưởng ngoạn phong cảnh đều ghé vào chùa chiêm bái. Sau này chùa được xây cất làm 2 tòa lớn, phía trước thờ Phật, phía sau thờ các vị Thánh nương. Trong kháng chiến chống Mỹ, chùa đã sụp đổ hoàn toàn. Hơn nửa thế kỷ chỉ còn lại dấu tích là sân nền và bàn thờ đá chông chênh trên đỉnh núi, năm 2017, UBND tỉnh đã chấp thuận khôi phục lại chùa Hương. Trong ảnh: Lầu Di Lặc xây dựng trên nền chùa cổ.
 
Nơi an tọa tượ̣ng Phật Di Lặc chính dấu tích bàn thờ đá từ xa xưa.
 
Hôm nay, về thăm chùa Hương, từ xa nhìn lên đỉnh Tù Và, du khách sẽ thấy những công trình kiến trúc mới đã mọc lên. Thấp thoáng trong màu xanh bạt ngàn của những đồi thông là đài Di Lặc, Ngũ Hành Sơn, niệm Phật đường...
 
Tồn tại qua hàng trăm năm, chùa Hương không chỉ là minh chứng sinh động cho bề dày trầm tích của một vùng đất cổ mà còn là niềm tự hào của người dân địa phương trong những năm đấu tranh cách mạng. Thời kỳ Xô Viết Nghệ Tĩnh, chùa Hương – nơi thâm nghiêm kín đáo trên đỉnh Tù Và là nơi nuôi dấu, chở che cán bộ, là cơ sở hoạt động bí mật của làng Trụ Pháp, hậu cứ của các Chi bộ Đảng ở địa phương. Trong kháng chiến chống Mỹ, với vị trí đặc biệt, chùa còn là nơi bộ đội, dân quân bố phòng trận địa pháo cao xạ, khống chế máy bay của địch…
 
Công trình Ngũ Hành Sơn dài 80 m không chỉ tôn tạo thêm cảnh quan đa dạng, mà còn góp phần chắn lở đất cho chùa.
Ngôi chùa trên núi còn có rất nhiều hoa, muôn loài được đem về đây chăm sóc, khoe sắc tỏa hương trong không gian thiền tịnh.
Sư cô Thích Nữ Huệ Tịnh làm phật sự tại chùa Hương cho biết: Từ dấu tích sân nền trên đỉnh núi cao, không điện, không nước, đi khảo sát lỡ tụt chân sẽ lăn xuống chân đồi, thi công vô cùng khó khăn, tốn kém… nhưng sau hơn 2 năm đồng tâm kiến thiết, chùa Hương đã dần thay đổi diện mạo, lấy lại được nét đẹp xưa. Đó là cả một sự nỗ lực, quyết tâm không ngừng nghỉ của mọi người vì sự hoằng dương Phật pháp

Nằm trong quần thể di tích động Tù Và với bề dày lịch sử lâu đời, cảnh sắc non thiêng hữu tình, lãng mạn, chùa Hương đã và sẽ là điểm đến hấp dẫn, níu chân du khách khi về quê lúa. Trong ảnh: Đứng trên sân chùa Hương có thể nhìn bao quát một vùng nước non mây trời xứ Nghệ
Sự tái thiết chùa Hương cùng với các hoạt động tu tập, thiện nguyện đã hướng người dân quanh vùng về với đạo pháp, về với tinh thần từ bi, hỉ xả, yêu thương của đức Phật. Hàng tháng vào những ngày sóc vọng hay lễ lớn (khai Xuân, Phật đản, Vu lan), phật tử và du khách muôn phương lại hoan hỉ về chùa lễ Phật, cầu an, tạo dựng nếp sống nhân hòa, thiện mỹ ở các xóm làng.

Nghệ thuật kiến trúc điêu khắc độc đáo của di tích Quốc gia đền Hữu

(Baonghean.vn) - Xây dựng từ thời Lê trung hưng, đền Hữu ở xã Thanh Yên, huyện Thanh Chương là một trong những công trình cổ có giá trị kiến trúc nghệ thuật độc đáo.
Đền Hữu tọa lạc ở làng Xuân Bảng, xã Thanh Yên, thờ Thái phó Tấn Quốc công Nguyễn Cảnh Hoan (1521 - 1576) một nhân vật lịch sử đã có nhiều công lao trong việc hộ quốc an dân ở thế kỷ XVI.
Đền Hữu là một công trình đô sộ, gồm có tam quan, nghi môn, hạ điện, trung điện, thượng điện… Trải qua hàng trăm năm, đền Hữu đã được trùng tu, tôn tạo nhiều lần nhưng vẫn giữ nguyên kiến trúc xưa. Trong ảnh: Tòa nghi môn ẩn mình dưới 2 hàng hoa sứ
Nghi môn là ngôi nhà 1 gian có diện tích khiêm tốn so với tổng thể đền Hữu, nhưng có kiến trúc đẹp. Quan sát từ dưới lên sẽ dễ dàng cảm nhân được vẻ đẹp kiến trúc của nghi môn.
Trên các kết cấu gỗ của nghi môn như xà, hạ, cột trốn, kẻ, đấu… đều được điêu khắc chạm trổ công phu, mang vẻ đẹp hài hòa, cân xứng.
Sau tòa hạ điện 3 gian 2 hồi đồ sộ là 2 tòa trung điện, thượng điện nối tiếp nhau. Trên 2 công trình này, nhìn phía ngoài, nổi bật với các mái hồi kép, các đường bờ được đắp hình lưỡng long chầu nguyệt bằng vôi vữa, mảnh sành sứ… khá uyển chuyển, các mái ngói đều được vuốt đầu đao.
Mật độ điêu khắc dày đặc, các đề tài truyền thống “tứ linh”, “tứ quý” như trúc hóa long, phượng hàm thư, cá chép hóa rồng, rùa đội hoa sen… được thể hiện đầy đủ ở trên thượng điện
Các đường kẻ trước, kẻ sau, nâng kẻ… đều được điêu khắc 2 mặt. Mỗi chi tiết gỗ ở thượng điện là một tác phẩm nghệ thuật đặc sắc. Đứng ở vị trí nào trong và trước thượng điện đều có thể cảm nhận được vẻ đẹp lung linh của nghệ thuật điêu khắc.
Phía trong thượng điện, trên 2 vì nóc có 2 đầu rồng chầu về trung tâm, mỗi đầu rồng là một tác phẩm độc đáo. So với nhiều ngôi đền cổ trong tỉnh, không gian nghệ thuật ở đền Hữu dường như khác hơn ở chỗ càng tiến về thượng điện, mật độ và nghệ thuật điêu khắc càng đậm đặc và tinh xảo hơn.
Tồn tại qua hàng trăm năm, đền Hữu không chỉ là một di tích kiến trúc nghệ thuật độc đáo, nơi sinh hoạt văn hóa tâm linh thể hiện truyện thống uống nước nhớ nguồn của nhân dân, mà còn là chứng tích của nhiều sự kiện lịch sử quan trọng. Những năm 1930 - 1931, đền là địa điểm hội họp bí mật của Chi bộ Đồng Sinh, cũng là nơi in ấn, cất giấu tài liệu của Đảng. Trong những năm từ 1968 - 1972, đền trở thành địa điểm tập kết vũ khí, đạn dược và là kho trung chuyển cho chiến trường miền Nam… Với những giá trị to lớn đó, đền Hữu đã được xếp hạng là Di tích Lịch sử - Kiến trúc nghệ thuật Quốc gia năm 2009.
Đền Hữu có khuôn viên ngập tràn cây xanh giữa một khu dân cư trù phú của xã Thanh Yên, huyện Thanh Chương. Ảnh google maps.

Nguyễn Trường Tộ - người Công giáo yêu nước xứ Nghệ với tư tưởng vượt thời đại

(Baonghean.vn) - Ông là nhà tư tưởng, nhà cải cách lớn của đất nước ta cuối thế kỷ XIX trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, ngoại giao, quân sự... Đến nay, nhiều tư tưởng đổi mới của ông vẫn còn nguyên giá trị.
Nguyễn Trường Tộ sinh năm 1828, trong một gia đình theo đạo Thiên chúa tại làng Bùi Chu, nay thuộc xã Hưng Trung, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. 
Sinh ra ở làng quê nghèo, là người thông minh từ nhỏ và ông cũng nhận được nền giáo dục tiên tiến từ rất sớm. Nhờ học thông Tứ thư, Ngũ kinh của Nho giáo, năm 27 tuổi, ông được giám mục Gauthier đưa vào chủng viện Tân Ấp thuộc xứ đạo Xã Đoài để dạy chữ Hán cho giám mục và được giám mục dạy lại cho chữ Pháp cũng như tri thức khoa học châu Âu.
Năm 1858, giám mục Gauthier đưa Nguyễn Trường Tộ sang học tập, nâng cao kiến thức nhiều mặt tại Pháp. Hơn 2 năm ở Paris, chẳng những ông hiểu biết nhiều về khoa học, kỹ thuật, nhất là về kiến trúc, khai mỏ, mà còn đọc rộng về các mặt chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao, pháp luật… và tìm hiểu được một số thành tựu công nghệ của phương Tây nhất là Pháp.
Trưởng thành trong một gia đình Công giáo đã giúp Nguyễn Trường Tộ có cơ hội được tiếp xúc với giáo dục phương Tây qua những vị giám mục người Pháp dạy dỗ ông từ nhỏ. Ảnh tư liệu
Trên đường đi sang Pháp và trở về nước, Nguyễn Trường Tộ có dịp ghé qua Rome, dừng chân ở Singapore và Hongkong.
Năm 1861, Nguyễn Trường Tộ trở về nước, khi Sài Gòn - Gia Định đã bị quân viễn chinh Pháp và Tây Ban Nha chiếm đóng. Nguyễn Trường Tộ phiên dịch các công hàm trao đổi giữa triều đình Huế với Soái phủ Pháp ở Gia Định. Không ít lần ông sửa bớt chữ nghĩa trong công hàm của đôi bên nhằm tránh những lời lẽ quá khích, xúc phạm tới triều đình hoặc phương hại cho việc “tạm hòa”. Ông còn tìm cách thông báo cho các sứ thần của triều đình như Nguyễn Bá Nghi, Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ một số ý đồ của phía Pháp.
Năm 1863, sau gần 3 năm sống trong lòng địch, bất đắc dĩ phải làm việc với quân Pháp, Nguyễn Trường Tộ tìm cách thoát ra khỏi vùng quân Pháp, liên hệ được với triều đình Huế. Từ đây cho đến lúc mất vào năm 1871, ông viết hàng loạt điều trần, luận văn, tờ bẩm, trình nhiều kiến nghị có tầm chiến lược nhằm canh tân đất nước, tạo thế vươn lên cho dân tộc để giữ nền độc lập một cách khôn khéo mà vững chắc.
Ngôi trường THPT vinh dự mang tên Nguyễn Trường Tộ tại TP Vinh. Ảnh tư liệu
Về mặt kinh tế, Nguyễn Trường Tộ quan tâm đến công, nông, thương nghiệp. Ông khuyên triều đình ra sức mở mang nghề nghiệp, mở mang buôn bán trong nước và giao thương với nước ngoài, tránh bế quan tỏa cảng, mời các công ty nước ngoài đến giúp ta khai thác tài lợi, để có thêm của cải và học cho được kỹ thuật cũng như cách làm ăn tiên tiến của họ, sửa đổi thuế khóa, đánh thuế nhà giàu nặng hơn nhà nghèo, đánh mạnh vào xa xỉ phẩm, làm sao cho “nước giàu dân cũng giàu”... Có như vậy mới giữ được độc lập trong tư thế làm chủ đón khách…   
Về mặt văn hóa - xã hội và giáo dục, Nguyễn Trường Tộ đề xuất cải cách phong tục, chủ trương coi trọng dân, sửa đổi chế độ thi cử mở mang việc học hành, thay đổi nội dung giáo dục. Ông khuyên triều đình tìm mọi cách nâng cao văn hóa đất nước theo hướng coi trọng khoa học, kỹ thuật, nhằm sớm nâng cao đời sống của nhân dân. Nguyễn Trường Tộ phê phán tình trạng kinh đô Huế luộm thuộm, mất vệ sinh, công thự dột nát, lương bổng quan lại quá ít ỏi…
Ông nêu hàng loạt vấn đề quan trọng như: nên sáp nhập các tỉnh để giảm bớt số quan lại và có điều kiện tăng lương cho quan lại nhằm giảm tệ tham nhũng, khuyến khích tính liêm khiết; mặt khác không nên cấm dân dùng đồ đẹp, đồ sang khiến cho văn vật ngày càng kém, áo xiêm ngày càng tồi; đề nghị sửa đổi chế độ thi cử, chú trọng bồi dưỡng nhân tài về nhiều mặt, thành lập các môn học thực dụng, dùng Quốc âm trong công văn thay cho chữ Hán, lập địa đồ quốc gia và các tỉnh, kiểm kê dân số, lập trại tế bần, viện dục anh (nhà trẻ) …
Tu viện Saint Paul (TP HCM) mang phong cách kiến trúc cổ điển Pháp do kiến trúc sư Nguyễn Trường Tộ thiết kế. Ảnh tư liệu
Về mặt ngoại giao, Nguyễn Trường Tộ phân tích cho triều đình Huế thấy rõ cục diện chính trị trên toàn thế giới lúc bấy giờ, những mâu thuẫn về quyền lợi giữa Pháp với Anh và Tây Ban Nha, khuyên triều đình nên có quan hệ ngoại giao trực tiếp với chính phủ Pháp tìm cách ngăn chặn âm mưu xâm lược của bọn Pháp bên này, khéo léo chọn thời cơ lấy lại 6 tỉnh Nam Kỳ, xác lập “tư thế làm chủ đón khách”....
Về mặt quân sự, Nguyễn Trường Tộ, tuy có tư tưởng “chủ hòa” nhưng không phải  “chủ hòa” một cách vô nguyên tắc. Ông khuyên triều đình cải tu võ bị, trọng võ trọng văn, ưu ái người lính, biên soạn binh pháp, đào tạo sĩ quan, mua sắm tàu thuyền vũ khí, xây dựng phòng tuyến cả ở thành thị lẫn nông thôn, đề phòng quân Pháp xâm lược lan ra cả nước...
Đọc những dòng điều trần của Nguyễn Trường Tộ cách đây trên 160 năm cho thấy ông cũng như một số rất ít người đương thời (Nguyễn Lộ Trạch, Phạm Phú Thứ...) là những người nhận biết thời đại, có tầm nhìn về sự cần thiết đi lên của dân tộc. Tư tưởng duy tân của Nguyễn Trường Tộ như là sự lóe sáng trước thời cuộc. Với nỗi niềm yêu nước thiết tha, muốn đưa tâm lực thực thi kế sách giữ nước, duy tân tự cường.
Tuy nhiên khác với nhiều nước, ở Việt Nam giữa thế kỷ XIX, xã hội Việt Nam chưa có cơ sở để thực hiện, thiếu những nhà lãnh đạo đất nước sáng suốt kiểu Minh Trị (Nhật Bản), Chulalongkorn (Thái Lan)... để thực thi kế sách.
Những đề nghị cải cách của Nguyễn Trường Tộ đã đi trước thời đại, nhưng rất tiếc lại thiếu cả các yếu tố “thiên, địa, nhân” và bị triều đình nhà Nguyễn bỏ qua một cách đáng tiếc. Tuy nhiên, nhìn về tư tưởng đi trước thời đại của ông, chúng ta càng tự hào về một người con xứ Nghệ, một giáo dân kính Chúa, yêu nước, luôn đau đáu với sự nghiệp canh tân đất nước./.

Tâm thức về nước qua lễ cúng nước giọt của người Jrai: Lễ cúng thần Nước - Biểu tượng sự kết nối cộng đồng

TS. Trung Thị Thu Thủy ( Học viện Chính trị Khu vực III Đà Nẵng) 


Nơi nào có nước nơi đó có sự sống con người 

Trong tâm thức của các nhóm Jrai ở Gia Lai, nước có vai trò vô cùng quan trọng nên bao giờ khi chọn một khu đất mới cho làng, việc đầu tiên của những già làng là tìm cho được nguồn nước tốt. Vì vậy, trong lời nói hằng ngày người Jrai thường truyền nhau: hmâu ia hmâu mơnuih, hmâu rông hmâu plơi (Tạm dịch: Nơi nào có nước nơi đó có sự sống con người, nơi nào có nhà rông nơi ấy là làng.)

IMG_8791-1200x800
Nước có vai trò quan trọng trong đời sống người Jrai. Ảnh minh họa
Gia Lai một tỉnh nằm trong vùng Trường Sơn - Tây nguyên, là nơi sinh sống của dân tộc tại chỗ Jrai thuộc nhóm ngữ hệ Mã lai - Đa Đảo (Malayo - Polynésien). Đến năm 2015, theo điều tra trên địa bàn tỉnh Gia Lai, người Jrai có 85.502 hộ; 425.187 khẩu với 5 nhóm tộc người: Jrai Tơ buăn; Jrai Aráp (Hráp); Jrai Hdrung; Jrai Chor; Jrai Mthur; cư trú trải dài từ thành phố Pleiku đến các huyện: Chư Pah, Ia Grai, Đức Cơ, Chư Prông, Chư Sê, Ayun Pa, Ia Pa, Phú Thiện và Krông Pa.
Lịch sử của người Jrai gắn liền với từng dòng thác róc rách tạo ra âm thanh núi rừng hùng vĩ và trắng xóa đong đưa qua lại trong gió như suối tóc của những nàng H’bia trong huyền thoại. Quá khứ của họ gắn bó mật thiết với từng con suối nhỏ róc rách chảy lượn quanh các chân đồi và thung lũng tạo nên những đường viền chia cách đất với trời, phân ranh thế gíới con người với thế giới thần linh. Mặc dù sống giữa rừng già với những dãy núi cao bao quanh, người Jrai có một cái nhìn về nước rất gần gũi và nước đã chiếm giữ một vị trí quan trọng trong đời thường và đời sống tâm linh của họ.
Hằng năm dân làng đều tổ chức lễ thức này để cầu cho một năm bình yên; để mong cho một vụ mùa bội thu; để ước vọng cho sự trường tồn của cộng đồng. Như nguồn nước không ngừng tuôn chảy kia. Vô tận. Mà đi đến tận cùng tâm thức, đó là sự ứng xử của con người với thiên nhiên một cách nhân văn nhất. Trong dịp này dân làng cùng nhau sửa sang lại nước giọt của làng, tổ chức cúng tế Thần Nước (Yang ia), nguồn của sự sống con người.
Nước quan trọng là vậy, con người trân quý tự nhiên là vậy, nhưng mỗi nhóm tộc người Jrai lại có những cách thức thể hiện rất riêng.
Người Jrai Aráp làng Kép, xã Ia Phí, huyện Chư Păh thường cúng nước giọt (ngă yang ia) vào thời điểm tháng 4, tháng 5 (blan pak, blan lima) hằng năm (theo lịch Jrai) sau khi cả làng đã làm xong cỏ lúa. Đó là khoảng thời gian mở đầu cho một chu kỳ nông lịch, một năm mới đầy hứa hẹn. Bởi người dân quan niệm thần Nước sẽ hài lòng trước sự thành kính của con người mà ban cho một năm yên bình; thóc lúa đầy kho; dịch bệnh tránh xa. Thời gian tổ chức lễ chỉ trong một ngày nhưng thời gian chuẩn bị của dân làng thường khoảng 1 tháng. Khi đó mỗi gia đình sẽ đóng góp ngày công, nguyên vật liệu, và tiền.
Từ sáng sớm, già làng đã đánh hồi chiêng tập hợp dân làng ở nhà rông phân công nhiệm vụ. Nhóm thì dọn dẹp tại nhà rông; nhóm thì phát quang đường đi, sửa sang lại các bậc lên xuống khu nước giọt; nhóm thì đi tìm ống lồ ô (phun o) để thay máng nước (nang ia); nhóm chuẩn bị lễ vật để cúng...
Nhà rông là linh hồn, là không gian thiêng nên trong bất cứ lễ hội nào của làng, dọn dẹp nhà rông sạch sẽ là công việc bắt buộc. Thường thì thanh niên nam nữ sẽ đảm nhận công việc này. Công việc dọn dẹp khá khẩn trương để kịp cho việc tổ chức cúng lễ, bởi người Jrai quan niệm thời khắc buổi sáng là thời khắc của sự sống, của thần linh; thời khắc về chiều là thời khắc của cái chết, của thế giới atâu nên bao giờ cúng tế cũng trước khi mặt trời ngả về phía tây (qua 12 giờ trưa).
Khi nguồn nước đã được khơi thông, đại diện già làng (taha plơi) cũng là  thầy cúng giọt nước (yang rung) sẽ kiểm tra lại lần nữa việc sửa giọt nước. Và chính tay ông bắc lại máng nước mới (nang ia biyau), trang trí cây nêu cho nguồn nước của làng chứ thanh niên không được phép làm. Một cách cẩn thận, chu toàn để thần nước chứng giám cho sự thận trọng, thành kính của con người dành cho thần.
Điều này khác với nhóm Jrai Tơ buăn ở Đức Cơ hay Jrai Hdrung thành phố Plei Ku. Cây nêu (brui) như một biểu tượng để kết nối giữa con người với các vị thần linh, là nơi để Yang ia (Thần nước) chạm tới lễ vật được dâng cúng, thưởng thức lễ cúng, là nơi mời gọi các thần về chứng kiến và cùng chung vui với buôn làng. Vì mang sứ mệnh đặc biệt nên cây nêu được trang trí công phu hài hòa, sinh động, đẹp mắt như một tác phẩm nghệ thuật. Khác với hình ảnh cây nêu vẫn thường thấy, cao vút, cây nêu nơi giọt nước vùng Chư Păh lại mang biểu tượng của mặt trời (yang pôm), của sự sống, của sự sinh sản và phì nhiêu. Bởi mặt trời sưởi ấm, ủ ấm, làm cho lúa ra bông chắc hạt; soi sáng cho con người đường lên rẫy, xuống nước giọt.
Điều cốt lõi và sâu sắc nhất trong lễ cúng nước giọt của các nhóm tộc người Jrai chính là đề cao thông điệp gìn giữ toàn vẹn và bền vững không gian sống của mình. Lời khấn được coi là văn bản “cam kết” không thể bội tín, nhằm bảo đảm và hướng tới một đời sống xã hội cân bằng về mặt vật chất cũng như tinh thần trong mỗi cộng đồng. Những thông điệp gìn giữ môi trường sống hài hòa được phát đi dưới sắc thái tín ngưỡng và tâm linh ấy được thành viên trong cộng đồng tuân thủ, thực hiện nghiêm cẩn. Cứ nhìn vào thực tiễn sẽ thấy, những giọt nước của làng Kép (xã Ia Phí huyện Chư Păh), làng A (xã Gào, thành phố Plei Ku), hay làng Ghè (xã Ia Dơk, huyện Đức Cơ), trên địa bàn tỉnh Gia Lai, sở dĩ không trở thành phế tích là vì những cánh rừng đầu nguồn có chức năng giữ và điều tiết nước cho nguồn nước ở đây quanh năm trong lành, không bị xâm hại như nhiều nơi khác.

Điều cốt lõi và sâu sắc nhất trong lễ cúng nước giọt của các nhóm tộc người Jrai chính là đề cao thông điệp gìn giữ toàn vẹn và bền vững không gian sống của mình. 
Lễ vật cúng thần Nước luôn bắt buộc phải là một con heo đen (buei tăm), một con gà đen (manuk ak) và một ghè rượu (pai cheh/ge). Thần nước thích những vật màu đen là cách mà người làng lý giải. Khi nước đã trong và chảy vào máng, thầy cúng cầm gà và heo cúng đến chỗ nước giọt, đập mạnh vào đầu gà và heo để lấy tiết của những con vật cúng/hiến sinh hòa cùng với dòng nước trong lành.
do cung
Lễ vật được rửa sạch sẽ sau đó cắt phần đem ra để cúng. Ảnh: Minh Quế/ langvietonline 
Trong quan niệm của người Jrai, máu được hiểu là phương tiện truyền dẫn sự sống, chính vì thế trong những lần cúng tế cho thần linh “yang”, người Jrai thường dùng máu và gan con vật hiến tế để dâng cúng. Nghi thức hiến sinh này khác với nhóm người Jrai Tơ buăn vùng Đức Cơ và nhóm Jrai Hơdrung vùng Plei Ku.
Gan heo (tai buei), gan gà (tai manuk) còn sống được đặt quanh tai ghè; miếng gan chín đặt bên cạnh. Già làng (taha plơi) nói với chúng tôi: “Gan sống dành cho thần, còn gan chín dành cho người. Nguồn nước đầu tiên sẽ được dành cho ghè rượu cúng thần”. Rồi già làng đọc lời cúng:
Hỡi thần cây cối tre nứa, thần núi rừng hãy đến đây với chúng tôi cùng uống rượu ăn gan heo gan gà này. Hỡi thần suối Chan hãy băng qua rừng, thần suối Ai men theo bờ ruộng, thần suối Kleng đi theo hướng Đông, thần suối Tong Bră dọc theo khe núi, thần suối Pok hãy đến với giọt nước Ia Nguin của chúng tôi. Hôm nay chúng tôi làm lễ cúng dâng đến các vị thần gan gà gan heo và rượu tưới lên bến nước để cho dân làng có cuộc sống tốt, luôn luôn khỏe mạnh, con cháu người thiểu số chúng tôi luôn mạnh khỏe đừng ốm đau bệnh tật. Hãy cho chúng tôi nguồn nước trong veo, tràn trề.
Sau lời cúng, theo phong tục già làng cũng là thầy cúng là người sẽ uống kang rượu đầu tiên rồi mới đến những người cao tuổi và dân làng. Quanh ghè rượu, người dân mong cho cây lúa chắc hạt, không bị sâu bọ phá hoại, một vụ mùa bội thu; mong cho nguồn nước dồi dào quanh năm; mong cho một năm yên bình, một cuộc sống không bệnh tật. Ghè rượu cứ thế được mời nhau, chuyền tay cho đến lúc nhạt cũng là lúc lễ cúng nước giọt kết thúc.
Sau khi cúng xong, cũng là lúc nguồn nước mới xối trào trong vắt và mát rượi từ máng mới đổ về; cũng là lúc phụ nữ trong làng rủ nhau xuống nước giọt lấy nước về nhà nấu cơm đầu tiên và sinh hoạt cho mỗi gia đình. Họ xem đây là nguồn nước may mắn trong năm. Cũng vẫn là giọt nước đó nhưng hôm nay người dân cảm nhận nguồn nước như mới hơn, trong mát hơn, tinh khiết hơn và thanh sạch hơn mà Yang ia (thần nước) ban cho con người .
Cũng tổ chức lễ cúng nước giọt (ngă yang ia/kah yang ia) nhưng người Jrai nhóm Jrai Hơdrung làng A (Plơi Ring De) xã Gào, thành phố Plei Ku lại chọn thời điểm khác hơn. Tầm tháng 4 dương lịch (khoảng tháng 1 (balan sa) theo cách tính lịch của người Jrai), khi chuẩn bị xuống giống cho một năm mới  là lúc dân làng tổ chức lễ cúng bến nước. Người dân quan niệm đây là thời gian dọn dẹp bến nước, sửa lại nước giọt, đường xuống bến, đường đi rẫy để cầu xin thần nước cho một năm mưa thuận gió hòa; ban cho nguồn nước dồi dào để phục vụ canh tác, sản xuất; ban cho mùa vụ bội thu, dân làng no ấm, khỏe mạnh và đừng trách phạt, gây họa cho dân làng khi vô tình sửa nước giọt động đến nơi trú ngụ Yang ia (Thần Nước).
Thời gian chuẩn bị cho lễ hội này thường phải mất cả tháng vì không chỉ cúng nước giọt, người dân còn cúng thần nhà rông (ngă yang sang rông) như một quy định bắt buộc. Lễ  cúng cũng không có sự đồng nhất, nếu vùng Chư Păh là heo đen (buei tăm), gà đen (manuk ak) thì vùng Plei Ku lại là heo trắng tầm 20kg đến 30 kg. Ở đây người dân không cúng gà, cũng không đổ huyết heo xuống giọt nước.Còn ghè rượu cúng không phải được mua tùy tiện từ quán; cũng không phải của một gia đình nào mang đến mà là sự đóng góp cơm rượu của cả làng.Điều này thể hiện tính cộng đồng rất cao.
Ngay từ sáng sớm, già làng uy tín đã gọi mọi người tập trung tại đường xuống bến. Ở đây, ghè rượu lớn đã được trưởng thôn đặt ngay ngắn, người dân từ các nóc nhà tay cầm túi cơm rượu đã ủ lên men (cam pai) vui vẻ, cẩn thận đổ vào ghè rươu. Bởi họ biết đây là ghè rượu dành để cúng thần nước nên ai cũng chu đáo, tuần tự, không ồn ào chen lấn; không dám lơ là. Làng A (Plơi Ring De) có đến 180 hộ 820 khẩu nên bao giờ ghè rượu cúng cũng đầy đặn và thường có từ 3 đến 4 ghè cho lễ thức này.
Đổ cơm rượu (cam pai) xong, các nhóm thanh niên nhanh chóng dọn dẹp phát dọn đường xuống bến nước.Nếu vùng Chư Păh cả nam nữ cùng tham gia dọn dẹp nguồn nước, giọt nước thì vùng Plei Ku chỉ có nam giới mới được phép làm việc này. Nhóm dọn đường xuống giọt nước; nhóm khiêng heo; nhóm gùi ghè rượu cúng… Tất cả tấp nập, khẩn trương. Bởi họ cũng quan niệm như nhóm người Jrai vùng Chư Pah, thời gian cúng thần phải vào buổi sáng.
Giọt nước Ia Kruih mọi ngày vốn tấp nập hôm nay trở nên náo nhiệt hơn khi dân làng cùng phát dọn, sửa sang. Kể cả dùng máy bơm vòi xịt hiện đại để làm sạch nguồn nước.Đám thanh niên thích vậy để cho tiện, cho nhanh; còn người già thì không ý kiến gì. Nếu giọt nước ở vùng Chư Păh còn lưu giữ nét truyền thống, chưa bị mai một bởi bê tông hóa thì nước giọt vùng xã Gào đã được xây dựng lại gọn gàng, quy mô. Những người già hoài cổ vẫn kể lại hình ảnh giọt nước ngày xưa đẹp như thế nào khi xung quanh vẫn còn rừng bao phủ… Tuy nhiên điều làm chúng tôi chú ý là trong một loạt ống nhựa cắm vào thành bê tông để lấy nước thì có một ống ngắn hơn, cao hơn những ống còn lại và đặt phía dưới gốc cây như vị trí phân định, cắm mốc. Riêng ống nước này phụ nữ không bao giờ được lấy nước. Hỏi thăm già làng Siu Huy, ông cho biết đấy là giọt nước cúng thần Nước, chỉ có thầy cúng bến nước (Po kah yang) mới được phép đặt lễ vật và cúng ở tại đó mỗi khi làng làm lễ.
le cung
Già làng thực hiện lễ cúng. Ảnh: Ảnh: Minh Quế/ langvietonline 
Khi khu nước giọt đã sạch sẽ cũng là lúc con heo hiến sinh được thui mổ xong. Ở vùng Plei Ku, người dân không đổ tiết heo trực tiếp xuống dòng nước mà thầy cúng sẽ lấy một ít gan heo, tim heo sống hòa cùng rượu ghè, đặt trên tàu lá chuối, cẩn thận đặt tại ống nước nhỏ, nơi mà người làng quan niệm thần Nước ngự trị. Lúc này thầy cúng sẽ đọc bài khấn thần Nước:
Hôm nay dân làng Ring De chúng tôi đến đây sửa sang bến nước, chúng tôi xin mời tất cả các vị thần: Thần Ia Kruih, Thần Ia Breng, Thần Ia Grang, Thần Ia Ring,... đến đây cùng tụ họp với chúng tôi, chúng tôi xin dâng đến các vị Thần nước một con heo to và một ghè rượu lớn. Xin thần hãy phù hộ cho làng Ring chúng tôi nguồn nước trong vắt và tràn trề đầy máng, đầy ống, chúng tôi xin khấn thần cùng với rượu và gan heo cầu mong cho dân làng luôn vui vẻ bình yên để cho dân làng chúng tôi, con cháu chúng tôi luôn khỏe, đừng ốm đau bệnh tật, làm nương làm rẫy có lúa đầy kho có ngô đầy bồ, nuôi gà đầy đàn nuôi heo bò đầy chuồng, làm cà phê có được nhiều tiền, cho cuộc sống của dân làng chúng tôi từ già đến trẻ ai ai cũng vui cũng khỏe.
Xong lời khấn, thầy cúng quay trở lại nơi đặt ghè rượu, tiếp tục những nghi thức quen thuộc.lúc này không chỉ thần nước mà các thần lúa, thần rừng, thần sông cũng được mời về chứng kiến dân làng tổ chức lễ cúng giọt nước. Một ống nước sạch, một miếng gan, một miếng tim, miếng thịt bụng và phần đuôi heo để cúng thần. Thầy cúng bến nước của làng Rơ Châm Gun, sẽ đảm nhận khâu chuẩn bị lễ một cách cẩn thận, không vội vàng như để các yang chứng giám cho sự chu toàn mà con người dành cho thần.
Xong bài cúng, thầy cúng bến nước mới kính cẩn uống kang rượu đầu tiên, rồi mới đến các già làng cao tuổi khác.Trong khi đó phụ nữ trong làng cũng đã chuẩn bị sẵn những bầu nước hứng đem về nhà để nấu bữa cơm mới, để tấp nập chuẩn bị cho công việc trỉa lúa của gia đình.Thịt heo được đám thanh niên làm thành nhiều món như nướng, nấu canh, thịt nhồi ống… thành thục, khéo léo. Kang rượu được chuyền tay. Rộn ràng. Uống cho nhạt rượu để ngày hôm sau làng còn tổ chức lễ cúng nhà rông. Như cách dân làng trình báo cho vị thần tối linh thiêng của làng con người vẫn tuân thủ phép tắc từ ngàn đời.
chia cho nguoi dan
Già làng chia cho mọi người cùng hưởng lễ. Ảnh: Minh Quế/ langvietonline 
Giọt nước của nhóm Jrai Tơ buăn làng Ge xã Ia Dơk vùng Đức Cơ mang nhiều ấn tượng vì nó được nép mình dưới tàn cây đa (phun bruk) cổ thụ hơn 200 tuổi như lời những người già trong làng kể lại. Hơn tất cả những loại cây khác, cây đa là loại cây tối thiêng, biểu tượng của sức mạnh và sự sống. Trong khung cảnh của đại ngàn bao la, sâu thẳm, nơi có những khu rừng thiêng, những rẫy lúa, nổi bật lên một khối xanh thẳm, cành lá tỏa rộng ra bốn bề, rễ cây chằng chịt mặt đất. với con mắt nhìn mọi vật luôn mới mẻ nhạy cảm, đầy sức tưởng tượng, luôn ngạc nhiên và sợ hãi của người Jrai thì cây đa quả là nơi thần linh cư ngụ.
Lễ cúng nước giọt (pơkra pên ia) của người Jrai vùng Đức Cơ tổ chức vào khoảng tháng 10, tháng 11 dương lịch khi lúa trên nương trĩu bông mẩy hạt; khi người làng chuẩn bị vào mùa thu hoạch; khi kết thúc một năm trồng trỉa; khi sắp bước vào chuỗi ngày ăn năm uống tháng nghỉ ngơi của dân làng. Những tưởng khi rẫy café bạt ngàn, khi rừng cao su che phủ hút tầm mắt, con người dần quên lễ thức của tổ tiên thì không. Thực hành nghi lễ hằng năm vẫn hằn lòng trong tâm thức con người.
Thời gian tổ chức lễ nơi đây khác rất nhiều so với vùng Jrai Chư Păh, Jrai Plei Ku.Lễ vật cũng vậy. Nếu 2 vùng kia, heo cúng hoặc phải đen tuyền, hoặc phải trắng hoàn toàn thì heo, gà cúng ở đây màu nào cũng được. Việc tổ chức lễ cúng nước giọt được chuẩn bị cả tháng trước.Phụ nữ tranh thủ làm những ghè rượu ngon. Đàn ông lên rừng tìm ống lồ ô về làm cơm lam, nướng thịt…
Bắt đầu vào hội, từ sáng sớm già làng phân công cắt cử người dọn dẹp đường xuống nước giọt; chặt tre làm cây nêu (luk ia); khiêng heo cúng xuống bến nước… Và chỉ nam giới mới đảm nhận công việc này, kể cả nấu nướng; phụ nữ chỉ đến uống rượu chứ không tham gia việc tổ chức cúng nước giọt là quy định của làng.
Giọt nước làng Ge khá rộng gồm 4 giọt phụ và một giọt chính (pên yoăk). Giọt nước chính (pên yoăk) nằm cách biệt hẳn, được xây dựng bê tông kiên cố. Đây là nơi thường để cúng hằng năm nên người dân ít đến đây lấy nước.Thực tâm họ vẫn muốn gắn mình với những gì thân thuộc hơn là văn minh mà xa lạ, ngoài mình.Nếu giọt chính chỉ có thầy cúng, già làng và những người trung niên chuẩn bị thì giọt phụ là sự tập trung đông đủ của trai làng.Họ dọn dẹp, vui đùa; họ tranh thủ làm heo, nấu các món truyền thống; như cách để lấy lòng/ làm đẹp lòng các thiếu nữ đến tham dự lễ.
Tại giọt chính, thầy cúng và các già làng tỉ mẩn, chăm chút cho việc làm cây nêu.Cây nêu cho lễ cúng nước giọt vùng Đức Cơ không mang biểu tượng mặt trời như vùng Chư Păh mà vươn cao mạnh mẽ như biểu tượng của cây vũ trụ. Tùy theo mức độ lớn nhỏ của lễ hội và con vật hiến sinh mà người Jrai dựng cây nêu lớn nhỏ khác nhau (cây nêu cúng nước giọt là luk ia; cây nêu cúng lúa rẫy là gai bak; cây nêu cúng trâu có 4 trụ xung quanh là gong ga) nhưng bao giờ cây nêu cũng được chia làm 3 tầng: Tầng dưới cùng (phần tiếp đất) là nơi cúng tế thần linh, nên tầng này được làm khá chắc chắn. Đây là nơi dành cho thầy cúng thực hiện nghi thức cúng Yang, tạ ơn Yang đã ban cho làng sự an lành, ấm no, khỏe mạnh; đồng thời, khấn xin Yang cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, vạn vật sinh sôi, nảy nở, cầu cho một năm mới phát triển và bình yên. Tầng ở giữa là nơi trú ngụ của thần linh, đặc biệt là thần nước, thần lúa, nên tầng này được trang trí khá đẹp, chia làm 4 cánh cong vút, tỏa ra 4 hướng được gắn nhiều tua màu trắng tượng trưng cho hình cây lúa, bông và hạt lúa. Còn ở tầng trên cùng như mở ra không gian rộng thông quan giữa con người và thần linh.
Khi máng nước đã được thay mới, khi giọt nước đã sạch sẽ là lúc các già làng và thầy cúng (po mnuih soi) cẩn thận dựng cây nêu bên cạnh nguồn nước. Thầy cúng lại chuẩn bị 5 ống tre, trong đó gồm một ít huyết gà, huyết heo, ít rượu cúng (rượu ghè), gan gà, gan heo cắt nhỏ rồi tự tay mình đổ từng ống huyết vào từng giọt nước. Vừa đổ thầy cúng vừa báo với Thần nước (Yang ia) hôm nay dân làng làm lễ hiến sinh heo to, gà lớn cho thần.
Sau khi đã đổ đều 5 ống tại 5 giọt nước, thầy cúng quay lại bến chính bắt đầu cho nghi thức cúng thần Nước. Ở đây ghè rượu cúng chỉ cắm một cần duy nhất cùng một ít gan gà, gan heo dắt quanh tai ghè như tượng trưng cho thần Nước đang thưởng lễ. Lời khấn được ngân nga:
Hôm nay dân làng chúng tôi đến đây sửa sang bến nước,  chúng tôi xin dâng đến các vị Thần nước một con heo to, một con gà lớn và một ghè rượu. Xin thần hãy phù hộ cho dân làng chúng tôi nguồn nước trong vắt và tràn trề đầy máng, xin khấn thần cho dân làng luôn vui vẻ bình yên, đừng ốm đau bệnh tật, làm nương làm rẫy có lúa đầy kho có ngô đầy bồ, nuôi gà đầy đàn nuôi heo bò đầy chuồng
Khác với vùng Chư Păh và Pleiku, ở làng Ge sau bài khấn của các già làng, các gia đình cũng phải cử người đại diện cho gia đình mình đọc lời khấn mời thần Nước. Kết thúc bài khấn, thầy cúng mới cắm thêm các cần rượu khác. Lúc này mới là lúc con người thưởng lễ. Thầy cúng được uống kang rượu đầu tiên rồi mới đến đại diện người lớn tuổi trong làng. Chỉ những người lớn tuổi mới được dùng ghè rượu cúng này còn những người trẻ tuổi thì tuyệt đối không can dự. Phần lễ bao giờ cũng được quy định kết thúc vào buổi sáng. Còn phần hội, người làng mang thêm rượu ghè, rượu trắng ra giọt nước vui chơi có thể kéo dài đến chiều tối.Nhộn nhịp.Sau khi cúng giọt nước, phụ nữ trong làng đã chuẩn bị sẵn những bầu nước, vui mừng hứng lấy nguồn nước trong lành gùi về nhà chuẩn bị cho bữa cơm của gia đình.
Cũng như vùng xã Gào thành phố Plei Ku, người Jrai vùng Đức Cơ cũng sẽ tổ chức lễ cúng thần nhà Rông (pơkra sang rông) sau khi cúng nước giọt như sự trình báo cho vị thần quyền uy của làng biết sự tuân thủ trật tự truyền thống của mình. Một cách làm đẹp lòng thần linh.