Thứ Tư, 25 tháng 3, 2015

Chuyện cảm động về những người thầy của vua chúa Việt

(Kiến Thức) - "Thầy cho con ăn một bát canh này thật là một niềm hạnh phúc. Hương vị cua đồng quê nhà ít có thức ăn nào sánh tày, quả là ngon". 

Những người thầy cao cả của vua Hàm Nghi
Thầy giáo Nguyễn Doãn Cử, quê Vũ Thư - Thái Bình đỗ Cử nhân, được làm giảng quan của phủ Tôn Nhân, chuyên dạy con em vương hầu nhà Nguyễn. Có lần, cậu bé Ưng Lịch không thuộc bài, thầy Cử đã phạt đòn thẳng tay, bất chấp trò là dòng dõi vương tôn. Sau đó thầy cử liền dâng sớ tạ tội, cáo quan về quê cũ.
Nhưng vua Tự Đức chẳng những không quở trách mà còn đưa thêm roi cho thầy và nói: Khanh quý trẫm vì nể trọng khuôn phép, chứ không phải nể quyền uy nơi trẫm. Nếu không nghiêm như vậy thì làm sao đào luyện được tài năng, hoàng tộc sẽ không có người kế nghiệp xứng đáng.
Cậu bé Ưng Lịch bị thầy đánh đòn ấy sau này trở thành vua Hàm Nghi, một ông vua yêu nước được lưu danh trong sử sách.
 Vua Hàm Nghi.
Trong các thầy dạy vua Hàm Nghi, người đời cũng nhớ đến thầy Nguyễn Nhuận. Dù không đỗ cao, ông là một nhà Nho được kính nể không chỉ vì trí tuệ uyên thâm mà còn cả sự liêm khiết, quang minh. Sau một thời gian mở trường dạy ở quê, ông được mời vào kinh dạy con cháu hoàng tộc. Trong các học trò của ông có cả Ưng Lịch, khi đó là một cậu bé ngỗ nghịch ít được chú ý đến.
Sau này Ưng Lịch trở thành vua Hàm Nghi, nhớ công ơn thầy dạy dỗ, muốn phong cho thầy một chức quan trong triều. Để tạ ơn vua, nghĩ đến quê mình có vùng đất Tuyên Hóa nghèo khổ lại toàn là núi rừng, dân chúng ít học, thầy Nguyễn Nhuận đã xin được về Tuyên Hóa nhận chức Tri huyện.
Thời gian cụ làm quan ở huyện này, toàn huyện không có ăn xin ăn mày, không có trộm cắp, vườn tược nhà nhà thông thương, hoa quả không bị mất trộm, nhà nhà không phải đóng cửa khi chủ đi vắng…
Vua Lê Hiến Tông và bát canh của người thầy
Lê Hiến Tông (1461 – 1504) là một vị vua thông minh, nhân từ và ôn hoà. Dưới thời của ông, đất nước vẫn duy trì được sự thái bình, thịnh trị có từ thời vua cha Lê Thánh Tông.
Sách Đại Nam Nhất Thống Chí đã ghi lại một câu chuyện cảm động về đạo thầy trò trong một lần vua Lê Hiến Tông về thăm thầy cũ. Nội dung câu chuyện như sau:
Xa giá về đến cổng làng Châu Khê, nhà vua ra lệnh dừng kiệu và bước xuống đầu đường rẽ vào nhà thầy, vua chọn 2-3 cận thần cùng một vị quan sở tại tháp tùng vua vào nhà thầy giáo. Vua ôn tồn nói với mọi người đi theo:
- Hôm nay trẫm về đây là để thăm thầy chứ không phải vi hành, công cán vì vậy cho phép các khanh về nghỉ ở công quán.
Mọi người bái tạ nhà vua rồi đi vào các quán dịch. Ở đó, các quan địa phương chuẩn bị chu đáo, có chăng đèn, kết hoa, có bàn trà nước. Nhà vua đi bộ cùng viên quan trấn và mấy quan hầu cận tiến vào nhà thầy. Không trống phách, không nhạc nhã, không có tiếng hô dẹp đường. Cụ Thượng thư già cùng các con cháu và giai nhân mũ áo chỉnh tề ra tận đầu thôn bày hương án nghênh tiếp nhà vua. Thấy thầy giáo, vua vội vàng đến gần cụ. Theo nghĩa vua tôi, cụ sụp lạy. Nhà vua hai tay nâng vai thầy lên, ôn tồn:
- Xin lão tiên sinh bình thân để cho đệ tử không bị thất lễ.
Vua nói với những người đang quỳ rạp hai bên đường:
- Cho tất cả các người đứng dậy cùng trẫm về nhà tôn sư!
Vua nhắc lại lời nói với các quân sĩ và với người thân của thầy giáo:
- Hôm nay trẫm đến đây là học trò về thăm thầy, chứ không phải thiên tử đi kinh lý, nghi lễ ở chốn triều đình dùng vào lúc khác!
Ngôi nhà thầy Nguyễn Bảo giản dị, cổ kính và gọn gàng, đúng với phong thái của chủ nhân - một bần nho trong sáng. Vua mời cụ ngồi lên sập giữa để mình đứng vấn an thầy. Cụ giật mình:
- Tâu bệ hạ đâu lại có thể như thế được. Đạo thầy là nặng, song phép nước cao hơn, xin hoàng thượng cho lão phu này được đứng hầu! Người ngoài trông vào sao tiện ạ!
Nhà vua nhẹ nhàng:
- Thưa tôn sư, họ đã biết mục đích của trẫm hôm nay rồi. Tôn sư cho phép đệ tử ngồi chung là đã quá lắm rồi.
Nói xong, nhà vua đỡ cụ xuống cùng ngồi đàm đạo. Vua hỏi thăm sức khoẻ và đời sống của thầy cùng gia đình, xin xem những bài thơ của thầy làm khi nhàn rỗi ở chốn thôn dã. Khi người nhà của cụ giáo dâng trầu nước chỉ đứng ở sân dưới thềm, chuyển qua các thị vệ dâng lên cụ giáo và nhà vua. Vua Hiến Tông lại khoát tay:
- Thôi để họ mang thẳng lên đây, chắc họ cũng muốn gần vua một chút. Âu cũng là cái lộc của lão tiên sinh đây!
Thưởng thức chén trà ngát hương sen đồng nội, nhà vua nói với các quan theo hầu:
- Trẫm cho các ngươi lui! Chiều nay trẫm không dùng "ngự thiện", trẫm xin với lão tiên sinh cùng gia đình ăn bữa cơm quê. Trẫm muốn được ngồi chung mâm với thầy cũ cho thoả tình thầy trò, chắc lão tiên sinh cho phép.
Cụ giáo nghẹn ngào:
- Xin bái tạ đức vua! Thánh chỉ đã truyền, thần xin vâng mệnh!
Bữa cơm thầy trò chiều hôm đó diễn ra thân mật. Các con cụ đứng hầu từ xa ngắm thầy trò nhà vua đối ẩm với thứ rượu nếp quý quê nhà hương thơm sực nức, nghe thầy trò nhà vua vừa ăn vừa ngâm nga thơ phú. Cụ Châu Khê có lẽ còn vui hơn cả nhà vua, bởi lẽ là ông có học trò ở ngôi tôn quý nhất nước vẫn mực thước thuỷ chung giữ đạo nghĩa thầy trò. Ông càng hài lòng vì học trò cũ của ông dẫu ngồi trên ngai vàng vẫn không quên gốc. Nhà vua đặc biệt thưởng thức món canh cua quê kiểng, bất giác nói với cụ Châu Khê:
- Thầy cho con ăn một bát canh này thật là một niềm hạnh phúc. Hương vị cua đồng quê nhà ít có thức ăn nào sánh tày, quả là ngon.
Danh sư Chu Văn An 
Nhà giáo lỗi lạc Chu Văn An (1292 – 1370) là người chính trực, đã từng đỗ Thái học sinh nhưng không ra làm quan mà mở trường dạy học ở làng Huỳnh Cung, bên kia sông Tô Lịch. Vua Trần Minh Tông (1300 – 1357) đã mời ông ra làm tư nghiệp Quốc tử giám, dạy cho Thái tử Trần Vượng, tức là vua Trần Hiến Tông tương lai.
Đến đời Dụ Tông, ông thấy quyền thần làm nhiều điều vô đạo, ông dâng Thất trảm sớ xin chém 7 tên gian nịnh, nhưng vua không nghe. Ông chán nản từ quan về ở núi Phượng Hoàng (Chí Linh, Hải Dương), lấy hiệu là Tiều ẩn (người đi ẩn hái củi), dạy học, viết sách.
Vào những dịp trong triều có lễ hội lớn, ông vẫn được đón về kinh tham dự. Một lần vua Dụ Tông giao cho ông coi việc chính sự, ông từ chối. Biết tin này, bà Hoàng Thái Hậu (tức bà nội vua), nói với những người xung quanh: “Bậc sĩ phu sửa mình trong sạch, dẫu thiên tử cũng không bắt làm bề tôi được. Sao có thể đem bổng cao chức trọng mà dụ dỗ người ta...”. Vua sai nội thần mang áo đến ban tặng, ông tạ ơn xong rồi đem cho người khác. Ai cũng khen cái phong độ của ông là cao thượng.
Tượng danh sư Chu Văn An. 
Khi Trần Nghệ Tông (1370-1372) lên ngôi, Chu Văn An ra kinh đô bệ kiến vua mới, nhưng không nhận chức tước gì, rồi trở về núi cũ. Đông đảo học trò theo tiễn có hỏi:
- Từ nhà vua đến đông đảo các sĩ phu và quan chức đều là học trò của thầy, sao thầy không ở lại để đảm đương một trọng trách? Thầy coi thường những chức tước của triều đình lắm sao?
Nhà giáo Chu Văn An nói:
- Cái quan trọng của con người không ở chỗ chức tước mà ở phẩm giá. Giữ một chức phận nhỏ mà có ích cho đời thì đáng quý biết bao nhiêu. Còn giữ chức tước lớn mà không làm gì có lợi cho dân, cho nước thì chức tước ấy có nghĩa gì. Các con có nhớ Đức Thái Tông triều Trần ta đã nói gì khi Trần Thủ Độ mời người trở lại làm vua không? Ngài nói: “Nếu làm vua mà làm cho dân giàu, nước mạnh thì hãy làm. Còn ngôi vua ư? Ta coi ngôi vua như chiếc dép rách mà thôi!”.
Hoàng Phương (tổng hợp)

10 điều thú vị và bất ngờ về Vua Lê Hiển Tông

Mặc dù không có nhiều công tích nhưng cuộc đời làm vua của Hoàng đế Lê Hiển Tông cũng có khá nhiều điều thú vị.

Lê Hiển Tông tên thật là Lê Duy Diêu, theo mô tả của sử sách, ông là người mắt phượng, râu rồng. Khi còn làm Thái tử, ông đã phải chịu hoàn cảnh nguy hiểm, nếm trải nhiều gian khổ. Lên ngôi báu, Ông trị vì gặp lúc nước nhà nhiều loạn lạc, nhưng về sau xã hội trở lại yên ổn, dân an cư lạc nghiệp, người bấy giờ cũng ca ngợi là đời thái bình.
Mặc dù không có nhiều công tích nhưng cuộc đời làm vua của Hoàng đế Lê Hiển Tông cũng có khá nhiều điều thú vị.
1. Lê Hiển Tông là vị vua được lên ngôi một cách may mắn nhất. Khi còn là hoàng tử, vì có người chú là Lê Duy Mật nổi binh đánh lại họ Trịnh nhằm khôi phục quyền lực cho vua Lê, do đó ông bị Trịnh Giang nghi ngờ đem giam ở nhà viên quan nội thị Hồng quận công.
 Triều đình vua Lê thời Lê – Trịnh. Ảnh mang tính minh họa cho bài viết. Nguồn Internet.
Năm Canh Thân (1740), Trịnh Doanh lên ngôi chúa mới chuyển hoàng tử đến giam ở nhà cậu mình là Vũ Tất Thận. Đêm trước đó, Vũ Tất Thận “mơ thấy thiên tử tới nhà, cờ quạt phấp phới, nhã nhạc vang lừng, rõ ra cảnh tượng của đời thái bình” (Hoàng Lê nhất thống chí). Sáng hôm sau thấy quân lính giải hoàng tử đến nhà, ông ta rất kinh ngạc cho là ứng vào giấc mộng của mình bèn kể lại với chúa. Trịnh Doanh thấy vậy cho là người có phúc lớn bèn đón hoàng tử về tôn lên làm vua, đặt niên hiệu là Cảnh Hưng.
2. Lê Hiển Tông sinh tháng 4 năm Đinh Dậu (1717), mất tháng 7 năm Bính Ngọ (1786), thọ 69 tuổi. Ông là vị vua thọ nhất triều Hậu Lê.
3. Lê Hiển Tông là một trong những vị vua ở ngôi lâu nhất và là người làm vua lâu nhất triều Hậu Lê. Ông lên ngôi tháng 5 năm Canh Thân (1740) và mất năm Bính Ngọ (1786), làm vua 46 năm.
4. Lê Hiển Tông là vị vua cho đúc và phát hành nhiều loại tiền nhất. Trong thời gian ở ngôi ông đã cho đúc 16 loại tiền khác nhau mang niên hiệu của mình, đó là: 1. Cảnh Hưng Thông Bảo, 2. Cảnh Hưng Trung Bảo, 3. Cảnh Hưng Chí Bảo, 4. Cảnh Hưng Vĩnh Bảo, 5. Cảnh Hưng Thái Bảo, 6. Cảnh Hưng Cự Bảo, 7. Cảnh Hưng Trọng Bảo, 8. Cảnh Hưng Tuyền Bảo, 9. Cảnh Hưng Thuận Bảo, 10. Cảnh Hưng Chính Bảo, 11. Cảnh Hưng Nội Bảo, 12. Cảnh Hưng Dụng Bảo, 13. Cảnh Hưng Lai Bảo, 14. Cảnh Hưng Thận Bảo, 15. Cảnh Hưng Ðại Bảo, 16. Cảnh Hưng Ðại Tiền.
Bìa sách Hoàng Lê nhất thống chí, tài liệu cho biết nhiều điều về vua Lê Hiển Tông. Nguồn Internet. 
5. Lê Hiển Tông là vị vua có nhiều con rể làm vua nhất. Ông có nhiều con gái, trong đó công chúa Ngọc Hân được gả cho Nguyễn Huệ (tức vua Quang Trung 1788 - 1792), công chúa út là Ngọc Bình gả cho Quang Toản (tức vua Cảnh Thịnh 1793 - 1802).
Năm Nhâm Tuất (1802) sau khi đánh bại Tây Sơn, Nguyễn Phúc Ánh lên ngôi hoàng đế, đặt niên hiệu là Gia Long (1802 - 1819). Khi chiếm được Phú Xuân, rung động trước sắc đẹp của Ngọc Bình, ông đã lấy bà làm phi. Như vậy vua Lê Hiển Tông có tới ba người con rể làm vua. Và trong số 3 người con rể ấy thú vị là có hai người là cha con: Nguyễn Huệ và Nguyễn Quang Toản!
6. Lê Hiển Tông là vị vua có niên hiệu được sử dụng lâu nhất, trong 46 năm làm vua ông chỉ đặt một niên hiệu là Cảnh Hưng. Đây là niên hiệu được sử dụng lâu nhất và điều đặc biệt nó còn được dùng cả một thời gian dài sau khi vua đã mất.
Vào thời đó, các "tập đoàn" phong kiến tranh giành lẫn nhau. Tại vùng kiểm soát của lực lượng chúa Nguyễn niên hiệu Cảnh Hưng vẫn được sử dụng trong các văn bản quản lý, chỉ đến khi Nguyễn Phúc Ánh đánh bại nhà Tây Sơn, lập ra triều Nguyễn thì niên hiệu này mới không được dùng nữa. Sách Hoàng Lê nhất thống chí cho biết: Tháng 5, mùa hè năm ấy (tức năm 1802) chúa Nguyễn hạ chiếu đổi niên hiệu Cảnh Hưng, tức là từ năm Bính Ngọ (1786) trở về sau chúa Nguyễn vẫn dùng niên hiệu cũ của nhà Lê. Năm Nhâm Tuất (1802) này, lúc đầu vẫn gọi là năm Cảnh Hưng, đến bây giờ mới đổi ra niên hiệu mới. Như vậy niên hiệu Cảnh Hưng được sử dụng tổng cộng trong 62 năm.
7. Ngoài các khoa thi Nho học, triều Hậu Lê còn mở khoa thi võ học với hai cấp Sơ cử và Bác cử. Bên cạnh hình thức tuyển chọn nhân tài võ thuật đó, thời Lê Hiển Tông còn bổ sung thêm một hình thức là đề cử được quy định lần đầu tiên vào năm Qúy Hợi (1743). Theo đó những năm không có khoa thi võ thì các quan võ từ cấp tam phẩm trở lên đều phải đề cử một người có tài, trí, mưu mô, khỏe mạnh, giỏi võ và quả cảm. Năm Canh Tý (1780) đời Lê Hiển Tông, lần đầu tiên việc thi võ được quy định chặt chẽ, kỹ càng hơn trước. Phép thi được chia làm 4 kỳ: kỳ 1 thi giương cung, múa đao; kỳ 2 thi bắn cung, bắn súng; kỳ 3 thi phi ngựa bắn cung, đấu siêu đao, lăn khiêng, múa gươm, đâm giáo…; kỳ 4 thi văn sách.
Điều đặc biệt là bắt đầu từ đây lệ thi còn chú ý đến xét duyệt khí sắc, đó là tướng mạo, tiếng nói, sức chịu đựng sao cho thể hiện được sự hùng dũng, can trường.
8. Lê Hiển Tông là một trong số ít các vị vua giỏi âm nhạc, ngoài ra ông còn có rất nhiều tài khác. Sách Hoàng Lê nhất thống chí viết: Nhà vua giỏi về các kỹ nghệ lặt vặt. Bao nhiêu cung điệu, nhạc phủ, nhà vua đều chế ra bài mới, âm thanh cực kỳ du dương, trong sáng.
9. Năm Canh Ngọ (1750) đời Lê Hiển Tông, lần đầu tiên trong lịch sử khoa cử Nho học ở nước ta, các sĩ tử phải nộp lệ phí thi mới được tham dự thi Hương, khoản đó gọi là tiền thông kinh.
Lê Hiển Tông là vị vua cho mở nhiều khoa thi nhất trong lịch sử; thời gian ở ngôi ông đã cho mở 16 khoa thi, lấy đỗ 131 Tiến sĩ. Lê Hiển Tông là vị vua lấy bảng Tam khôi ít nhất. Suốt 42 năm, từ khoa thi đầu tiên của triều đại ông tổ chức năm Quý Hợi (1743) cho đến khoa thi cuối cùng tổ chức năm Ất Tỵ (1785) chỉ lấy đỗ một Bảng nhãn là Lê Quý Đôn và hai Thám hoa là Phan Kính, Nguyễn Huy Oánh; không lấy ai đỗ Trạng nguyên.
Ông cũng là vị vua mở khoa thi lấy đỗ ít người nhất, đó là khoa thi năm Tân Sửu (1781), chỉ lấy hai người đỗ Tiến sĩ là Nguyễn Cầu và Nguyễn Tân.
10. Năm Đinh Dậu (1777) vua Lê Hiển Tông cho ban hành bộ Quốc triều điều luật; bộ luật này được xây dựng trên nội dung cơ bản của bộ Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức) nhưng có bổ sung, sửa chữa cho phù hợp với tình hình mới. Quốc triều điều luật là thành tựu lập pháp nổi bật nhất của thời Lê Trung Hưng (1533-1788) và cũng là bộ luật lớn nhất của thế kỷ XVIII.
Lê Hiển Tông cũng là vị vua cho ban hành bộ luật tố tụng đầu tiên của nước ta. Trước đó các điều khoản tố tụng chưa được phân định riêng mà vẫn nằm chung trong nội dung của các bộ luật. Đến năm Đinh Dậu (1777) bộ Quốc triều khám tụng điều lệ được ban hành, nội dung là những điều lệ về kiện tụng, quy định thẩm quyền các cấp xét xử, thời hạn xét xử, trình tự bắt người, điều tra, khám xét…
Theo Út Tẻo/Dân Việt

Sự thật về chàng trai đóng khố cứu vua Gia Long

(Kiến Thức) - Hơn 200 năm trước, chàng thanh niên tên Đạt có công cõng vua Gia Long qua dòng sông Hoàng Long thoát khỏi sự bao vây truy sát.

Hơn 200 năm trước đây, chàng thanh niên tên là Đạt ở xóm Thạch Tác (xã Ninh Mỹ, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình) có công cõng vua Gia Long qua dòng sông Hoàng Long thoát khỏi sự bao vây truy sát. Sau này, vua mời anh ta vào triều phong chức, nhưng Đạt chỉ lấy đất để người dân sản xuất...
Người dân nơi đây coi cụ Đạt là Thành hoàng làng, thờ phụng rất trang nghiêm. 
Cứu vua Gia Long thoát chết
Ông Phạm Văn Số, 75 tuổi ở xóm Thạch Quy cho biết: Ông là con cháu đời thứ 7 của cụ đội Đạt. Trước đây, trong gia phả của dòng họ ghi chép rất cụ thể việc cụ đội Đạt từng vinh dự cứu vua Gia Long. Tuy nhiên, năm 1953 trong một trận hỏa hoạn, các tài liệu đó đã bị cháy.  Khi chúng tôi ngỏ ý muốn hỏi tên đầy đủ cụ Đạt thì ông Số lắc đầu, ông chỉ biết các cụ gọi là cụ đội Đạt.
Theo các cụ trong gia đình ông Số kể lại, xưa kia dòng họ ông nghèo khó, ruộng nương ít phải đi làm thuê cuốc mướn. Khi đó, chàng trai Đạt chừng mười tám, đôi mươi, gia đình nghèo, thường ra sông bắt tôm cá về ăn. Hôm đó, chàng trai đóng khố đang mải bắt cá men sông Hoàng Long, bỗng có một người cao lớn mặc áo giáp sắt, cơ thể bị nhiều vết thương chạy tới. Phía sau có nhiều binh lính đuổi đến. Ông ta nói: “Ta đến đây là tận số rồi”.
Cánh đồng Chiếu, xưa kia vua ban cho cụ Đạt. 
Vốn là chàng trai lực lưỡng, sức khoẻ hơn người, nhanh như cắt, Đạt đã cõng vị tướng lĩnh đó để bơi qua sông Hoàng Long. Nhờ thế mà ông ta đã thoát khỏi sự truy sát của kẻ địch. Sau đó, ông ta mời Đạt vào kinh thành để tạ ơn. Chàng trai đáp, mình chỉ là kẻ nghèo hèn, làm sao có thể vào kinh thành được. Vả lại lấy gì làm căn cứ để đòi sự cảm tạ đó. Đạt vừa dứt lời, người đàn ông đó nhúng đôi tay xuống bùn, in lên chiếc áo chàng trai đang mặc và bảo: “Sau này, ngươi cầm chiếc áo vào triều đình ta sẽ trọng thưởng”.
Thời gian sau, khi vào kinh thành chàng trai mới biết người mình cứu đó chính là vua Gia Long. Cảm kích trước tình cảm chàng trai dành cho mình, vua Gia Long đã mở yến tiệc chiêu đãi, mời Đạt ở lại để phong chức tước. Nhưng chàng trai đã  từ chối. Anh chỉ xin nhà vua đổi tên làng từ Văn Phú Phường thành làng Lực Giá và xin ruộng nương để về làm ăn sinh sống. Lời khẩn cầu của chàng trai nghèo được vua Gia Long đồng ý thực hiện. Vua trực tiếp về cho người đổi tên làng, ban đất cho chàng trai. Bóng cờ trên thuyền rồng của nhà vua đi trên sông tỏa đến đâu thì chàng trai Đạt xin đất đến đó. Ước tính nhà vua ban cho anh chừng 30 mẫu ruộng.
Theo ông Số, lý do cụ Đạt lúc đó xin đổi tên làng bởi từ “Lực” có nghĩa là lực lưỡng, khoẻ mạnh còn “Giá” có nghĩa là cứu giá, giúp vua. Để cho người đời biết đến ngôi làng có người khoẻ mạnh, giúp đỡ vua lúc bần hàn. Công trạng của cụ Đạt được đời sau còn ghi nhận, đích thân vua Khải Định từng về làng Lực Giá ban sắc phong mạ vàng cho cụ.
Theo người dân, ruộng đất nơi đây xưa kia thuộc sở hữu của cụ Đạt. 
Chuốc rượu say rồi hành quyết
Ông Số cho hay, tiếng cụ Đạt sở hữu trên 30 mẫu ruộng, nhưng cụ rất thương dân nghèo. Vì thế, nhiều khu đất mầu mỡ cụ thường nhường cho họ làm. Cụ chỉ thu một phần tô thuế ít ỏi để sinh sống. Những khi thiên tai, hạn hán mất mùa cụ thường phát thóc gạo cho người dân. Tuy nhiên, cũng vì số ruộng đất của vua ban mà cụ Đạt gặp họa. 
“Diện tích đất vua Gia Long ban phần lớn là diện tích đất của người dân làng khác. Trước đây, trên ruộng đất đó họ làm bao nhiêu hưởng bấy nhiêu, không phải nộp thuế cho ai cả. Nhưng từ khi thuộc sở hữu của cụ Đạt, mỗi vụ họ phải nộp tô thuế cho cụ. Dân làng cay cú đã bày mưu, lập kế giết hại cụ. Ngày hôm đó làng giết dê, thịt lợn, mời cụ sang ăn uống. Mọi người hùa nhau chúc rượu khiến cụ say khướt. Vì cụ cao to, khoẻ mạnh không ai dám lao vào giết cụ luôn mà bẫy cụ ngồi trên chiếc giường ọp ẹp. Khi thang giường gãy cụ rơi xuống đất mọi người lao vào chém giết”, ông Số kể.
Theo ông Số, sau khi giết hại cụ Đạt dân làng đó đã bị trừng phạt. Nhiều người trong làng ốm đau mà không hiểu nguyên do gì. Sau này, một pháp sư đến nói nguyên do bị như thế là dân làng đã giết hại cụ Đạt quá dã man. Sau nhiều lần bàn bạc, cuối cùng các cụ trong làng đã quyết định xây dựng ngôi miếu thờ cụ Đạt. 
Cụ Hoan cho biết, miếu cụ đội Đạt rất linh thiêng. 
Linh thiêng miếu thờ cụ đội Đạt
Sau khi cụ Đạt mất, để tưởng nhớ tới cụ nhiều nơi lập miếu thờ phụng. Làng Lực Giá giờ đã đổi thành xã Ninh Mỹ. Từ xưa, người dân nơi đây lập miếu thờ cụ và họ coi cụ là Thành hoàng làng.
Cụ Phạm Thị Hoan, 78 tuổi - người được dân làng cử trông coi miếu cho biết: “Trước đây cả vùng đất này là của cụ, nhưng trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, dân chúng lấn chiếm đất nhiều, giờ khu miếu của cụ chỉ rộng chừng 4 thước ruộng. Tôi trông coi ngôi miếu thờ cụ đội Đạt đã nhiều năm, tôi thấy rằng rất linh thiêng”. 
“Ngôi miếu cổ thờ cụ Đạt đã bị phá hoại từ năm 1978. Thời đó, thấy người dân ra thắp hương, khấn bái, nhiều kẻ bài xích cho rằng mê tín dị đoan đã tổ chức phá miếu. Tuy nhiên, không hiểu vì sao những kẻ tổ chức phá miếu chỉ thời gian ngắn sau lâm bệnh mất. Người dân cho rằng, họ đã bị trừng phạt vì xâm phạm miếu”, ông Số kể.
Người dân nơi đây nghe kể nhiều câu chuyện về cụ đội Đạt. Xưa kia cụ có công trạng trong việc cõng vua Gia Long vượt sông Hoàng Long thoát khỏi vòng vây kẻ thù. Cụ Đạt được vua ban thưởng nhiều ruộng đất. Để tưởng nhớ tới cụ, sau khi cụ mất người dân lập miếu thờ cụ. Mỗi dịp ngày rằm, ngày Tết người dân đều ra thắp hương cúng bái cụ. Đặc biệt, ngày 10/4 Âm lịch là ngày giỗ của cụ, nên người dân lễ bái rất đông.
Ông Trịnh Văn Hòa (Bí thư Chi bộ xóm 2 Thạch Tác, xã Ninh Mỹ, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình)
Đại Cát

Chuyện vua bị ép trả lại ngai vàng độc nhất sử Việt

(Kiến Thức) - Chuyện một người được đưa lên ngôi do thời cuộc đưa đẩy, sau bị ép phải trả lại ngai vàng có lẽ chỉ có trường hợp của Lê Ý Tông.

Một người lên ngôi, có thể do tranh giành, cướp đoạt mà có được ngôi vị đế vương, có người được người khác lập lên, có người do người khác (có thể là ông, cha,…) truyền cho, nhưng chuyện một người được đưa lên ngôi do thời cuộc đưa đẩy, sau bị ép phải trả lại ngai vàng thì có lẽ chỉ có trường hợp của Lê Ý Tông.
Lê Ý Tông là hoàng đế thứ 25 của nhà Hậu Lê, ông tên thật là Lê Duy Thần, còn có tên khác là Lê Duy Thận, Lê Duy Chấn, sinh vào ngày Nhâm Tý tháng 2 năm Kỷ Hợi (1719), là con thứ 11 của Lê Dụ Tông, thân mẫu chưa rõ là ai.
Ngày 15 tháng 4 năm Ất Mão (1735), vua Lê Thuần Tông (Lê Duy Tường) mất sau một thời gian lâm bệnh, thọ 36 tuổi, ở ngôi được 3 năm (1732-1735), chúa Trịnh Giang sai quần thần tìm xét xem vị hoàng thân nào nổi bật về tài đức để đón lập lên làm vua, cuối cùng chọn lấy hoàng thân Lê Duy Thần, em ruột Lê Thuần Tông đưa vào cung tôn lên làm vua vào ngày 27 tháng 4 năm Ất Mão (1735), đặt niên hiệu là Vĩnh Hựu.
Vĩnh Hựu đế (tức Lê Ý Tông) lên ngôi lấy ngày sinh nhật của mình gọi là “Xuân hòa thánh tiết”, xá cho thiên hạ 2 phần 10 thuế tô, dung cho cả nước. Tuy nhiên ít người biết rằng việc lên ngôi của Lê Ý Tông hoàn toàn do chủ ý của chúa Trịnh Giang.
Tượng chúa Trịnh Giang.  
Theo sử sách thì chúa Trịnh Giang còn có tên khác là Trịnh Khương con của chúa Trịnh Cương, nối ngôi chúa tháng 10 năm Canh Tý (1720), đây là một người háo danh, ngang ngược, chuyên quyền, ham mê tửu sắc, thích làm oai làm phúc, không chịu nghe lời người hiền, tin dùng bọn xu nịnh. Chính vì không nối theo chế độ cũ, bãi bõ các phép tắc về tài chính, thuế khóa mà cha ông cùng triều đình cất công suy nghĩ, đặt ra để ổn định đất nước nên thời kỳ Trịnh Giang cầm quyền, xã hội rối loạn, khởi nghĩa nông dân nổi lên khắp nơi, kinh tế sa sút, chính trị suy đồi; không những vậy, Trịnh Giang hống hách, luôn tìm cách áp chế, o ép vua Lê, không ý thức được tầm quan trọng của liên minh chính trị vua Lê chúa Trịnh, khiến quan hệ giữa cung vua và phủ chúa ngày càng lỏng lẻo, dẫn tới việc con cháu họ Lê có người căm giận, bất mãn mà dấy quân nổi lên như trường hợp hoàng thân Lê Duy Mật…
Trịnh Giang rất ngang ngược trong quan hệ với cung vua, tỏ ý coi thường khinh nhờn như chuyện vu oan cho Vĩnh Khánh đế (Lê Duy Phường) rồi phế truất ngôi vua đem giam cầm rồi sau đó giết hại. Liên quan đến việc lên ngôi của Lê Ý Tông, chính Trịnh Giang là người chủ định quyết việc này với mục đích đưa một người trẻ tuổi, dễ điều khiển hơn là một người trưởng thành, có chí khí. Sách Đại Việt sử ký tục biên cho biết như sau: “Trước đó vua (tức Thuần Tông) bị ốm, chúa Trịnh Khương (Giang) sai trọng thần vào tẩm điện chăm sóc, nhân đó xét hoàng thân xem ai đáng lập làm vua. Lúc bấy giờ con trưởng của vua là Duy Diêu (sau này là Hiển Tông Vĩnh hoàng đế) tuổi đã 19. Em vua là Duy Thần, là cháu gọi Thái phi Vũ thị bằng cô, được nuôi ở trong phủ chúa, tuổi 17. Chúa ngại Duy Diêu đã trưởng thành, có trí khôn và nghĩ Duy Thần là chỗ thân quyến quen lờn, dễ chế ngự, bèn nói thác rằng Duy Thần có diện mạo giống tiên đế (Dụ Tông) nên quyết ý lập làm vua; quần thần cũng theo ý chúa, không ai bàn khác cả. Ngày Giáp Ngọ cáo ở Thái Miếu. Ngày Bính Thân, Duy Thần lên ngôi hoàng đế, đổi niên hiệu là Vĩnh Hựu”.
Trong sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục viết vào thời Nguyễn cũng có đoạn ghi như sau: “Giang lập Duy Thận, em nhà vua (hoàng đệ), lên ngôi, đổi niên hiệu, đại xá. Duy Thận, con thứ mười một của Dụ Tông và là em Thuần Tông. Lúc ấy Duy Thận 17 tuổi, kém Duy Diêu, con cả nhà vua (hoàng trưởng tử) 2 tuổi. Nhưng Trịnh Giang e rằng Duy Diêu tuổi đã trưởng thành, và nhận thấy Duy Thận là cháu ngoại bà thái phi Vũ Thị (bà của Trịnh Giang), trước kia vẫn nuôi nấng ở trong phủ, thân cận yêu đương có phần dễ kiềm chế. Giang mới nói thác ra rằng diện mạo Duy Thận giống như tiên đế, nên quyết ý lập làm vua. Bầy tôi không ai dám nói gì cả”.
 Triều đình thời Lê trung hưng. 
Như vậy Trịnh Giang chuyên quyền, không e dè gì, đã thế lại ham mê sắc dục, dâm loạn bừa bãi nên bị mắc bệnh kinh quý (tâm thần hoảng hốt), phải ở ẩn trong hầm sâu dưới đất. Trước tình hình đó, tháng Giêng năm Canh Thân (1740), mẹ Trịnh Giang bàn với một số đại thần đưa em Trịnh Giang là Trịnh Doanh lên thay ngôi chúa, tôn Trịnh Giang làm Thái thượng vương.
Thay anh ở ngôi chúa, Trịnh Doanh đã thực hiện một loạt các biện pháp nhằm khắc phục những sai lầm của thời Trịnh Giang cầm quyền, một trong những việc làm đầu tiên và quan trọng nhất được thực hiện đó là “thay vua mới”. Vị chúa đã thể hiện uy quyền của mình bằng cách tự phong làm Nguyên soái, Tổng quốc chính, Minh Đô vương. Khi đó Lê Ý Tông đã ở ngôi được gần 5 năm; “lúc bấy giờ trong nước nhiều biến cố, dân sinh hai lòng. Chúa Trịnh Doanh nghĩ rằng hoàng điệt Duy Diêu (cháu gọi vua bằng chú) là ngành trưởng đáng làm vua, nên theo đúng phép tắc để lấp đường kẻ phản trắc. Bèn xin vua trả ngôi cho cháu trưởng để trong nước yên ổn. Vua nghe theo, lấy ngày 21 Canh Thân truyền ngôi. Tờ chiếu truyền ngôi có câu rằng: Nghĩa chốn biên cương còn có đứa ngu xuẩn, ngang ngạnh, muốn cho kinh kỳ được yên mà bờ cõi được yên lặng, xét lẽ chính đáng nên duy tôn dòng đích, cốt để trọng tông thống mà thống nhất nhân tâm”. Tờ chiếu ban xuống, dân tình vui mừng lắm. Ngày ấy Duy Diêu lên ngôi hoàng đế, đổi niên hiệu là Cảnh Hưng, tôn vua là Thái thượng hoàng” (Đại Việt sử ký tục biên).
Minh Đô vương Trịnh Doanh.  
Chuyện Lê Ý Tông bị ép trả ngôi cho cháu còn liên quan đến một câu chuyện kỳ lạ, sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục viết: “Duy Diêu, râu rồng, mắt phượng, là con trưởng Thuần Tông và là cháu nhà vua (Ý Tông Duy Thận). Duy Diêu lấy địa vị người con trưởng, đáng được lập làm vua từ trước. Nhưng vì chú ruột là Duy Mật dấy quân, nên Trịnh Giang truất đi, đã lâu vẫn bị giam cấm. Trịnh Doanh mật sai người dời Duy Diêu đến ở nhà Bính quận công Vũ Tất Thận. Trước đây, Tất Thận chưa biết việc này. Một đêm, nằm mộng thấy một người "kẻ cả" đến nhà, cờ quạt âm nhạc, hệt như nghi trượng thái bình thiên tử. Sáng hôm sau, thấy Duy Diêu đến. Tất Thận bèn đem việc này nói với Doanh. Doanh muốn nhờ vào phúc đức Duy Diêu, mới cùng các đại thần bàn định tôn lập làm vua và xin nhà vua nhường ngôi cho Duy Diêu”.
Sách còn cho biết thêm: “Lúc bấy giờ giặc cướp tràn lan, dân tình náo động. Doanh nghe nói mộng ấy, cho là điềm tốt, muốn nhờ phúc đức của vua để yên quốc gia, bèn lấy cớ chuộng dòng đích, tâu xin Ý Tông nhường ngôi cho vua. Lúc bấy giờ quyền ban tước, khen thưởng, cho hay lấy, tha hay giết và việc chinh phạt đều do nhà chúa quyết cả”. Tiếp đó còn có lời bình về Lê Ý Tông như sau: “Vua lúc lên ngôi là em nối anh. Lúc nhường ngôi lại là chú trả cháu, việc người mà ý trời, chứ chả có lòng nào. Rút cục lại được tôn xưng, hưởng mỹ thụy, há chẳng là ngẫu nhiên đó sao”.
Từ khi bị ép trả ngôi cho cháu, Lê Ý Tông sống âm thầm trong cung cấm với vai trò là Thái thượng hoàng. Đến tháng 6 nhuận năm Kỷ Mão (1759) Lê Ý Tông mất ở điện Kiền Thọ, hưởng thọ 41 tuổi. Triều đình dâng tôn thụy cho ông là Ôn gia Trang túc Khải túy Minh mẫn, khoan hồng, Uyên duệ Huy hoàng đế.
Lê Thái Dũng

Lạ lùng chuyện đúc tiền thời vua Minh Mạng

(Kiến Thức) - Đời vua Minh Mạng triều Nguyễn xuất hiện một loại tiền đặc biệt, đó là thứ tiền không dùng trong mua bán mà chỉ dùng để ban thưởng...

Tiền được sử dụng phổ biến trong kinh tế, thương mại, nó là vật ngang giá chung có tính thanh khoản cao nhất được mọi người đều chấp nhận sử dụng và do Nhà nước phát hành, lưu thông rộng rãi. Tuy nhiên đời vua Minh Mạng triều Nguyễn xuất hiện một loại tiền đặc biệt, đó là thứ tiền không dùng trong mua bán mà chỉ dùng để ban thưởng cho các công thần, những người có tuổi thọ 90, 100 tuổi trở lên hoặc các liệt nữ, tiết phụ trung trinh.
La lung chuyen duc tien thoi vua Minh Mang
Đồng tiền Minh Mạng, mặt sau khắc chữ “Phúc như Đông hải, thọ tỷ Nam sơn”.
Loại tiền vua Minh Mạng cho đúc đó được gọi là đại tiền, có đường kính khoảng 50mm trên khắc 4 hoặc 8 chữ lời hay, ý đẹp ca ngợi công đức của hoàng đế ở mặt sau của đồng tiền. Theo sách Đại Nam thực lục thì vào “năm Minh Mạng thứ 11 (1830), tháng 5. Đúc tiền đồng lớn, mỹ hiệu Minh Mạng thông bảo một vạn đồng. Sai Hộ Bộ thị vệ hội đồng với Đốc công vũ khố, chiếu chữ hiệu và quy thức đã định mà đúc”.
Tiền này gồm hai dạng, dạng thứ nhất gồm 20 hiệu với 8 chữ như: “Quốc thái, dân an, phong điều, vũ thuận”; “Phúc như Đông hải, thọ tỷ Nam sơn”; “Quốc phú, binh cường, nội an, ngoại tĩnh”; “Đắc vị, đắc danh, đắc lộc, đắc thọ”; “Nhất nhân hữu khánh, vạn thọ vô cương”; “Vạn tuế, vạn tuế, vạn vạn tuế thọ”; “Chí công chí chính, vô đảng vô thiên”; “Vạn thọ du tạc, vạn phúc du đồng”; “Như sơn như xuyên, như sơn như phụ”…
La lung chuyen duc tien thoi vua Minh Mang-Hinh-2
 Chân dung vua Minh Mạng. 
Loại thứ hai là là những đồng tiền, gồm có 10 hiệu với 4 chữ là: “Nguyên hanh lợi trinh”; “Phúc lý tuy tương”; “Đế đức quảng vận”; “Lợi dụng hậu sinh”; “Trung Hòa vị dục”; “Liễm phúc tích dân”: “Tứ phương vi tắc”; “Cường kiện trung chính”; “Gia cấp nhân túc”; “Xuyên chí sơn tăng”.
Ngoài hai loại tiền nói trên vua Minh Mạng còn cho đúc một dạng tiền thưởng khác bằng các chất liệu quý như vàng, bạc với các kích thước to nhỏ khác nhau cùng họa tiết phong phú như rồng bay (gọi là tiền Phi long), hình rồng cùng mặt trời hoa văn (gọi là tiền Long văn), hình bình hoa, lư hương và bình trầm hương (gọi là tiền Tam đa)…
Lê Thái Dũng

Bí ẩn người vợ được Lý Công Uẩn đối đãi đặc biệt

(Kiến Thức) - Chuyện Lập Giáo được Lý Thái Tổ đối đãi đặc biệt đã lưu truyền trong lịch sử, để lại một câu hỏi lớn đối với người thời sau. 

Cuối tháng 11 năm 1009, với thân phận Tả Thân Vệ Điện Tiền Chỉ Huy Sứ (chức chỉ huy cấm quân), Lý Công Uẩn được triều thần đồng thanh tôn lập, đã trở thành chủ nhân mới của chiếc ngai vàng nhà Tiền Lê. Nhà Tiền Lê chấm dứt và nhà Lý được dựng lên kể từ đó.
Việc làm đầu tiên của Lý Thái Tổ (tức Lý Công Uẩn) sau khi lên ngôi là truy phong cho cha mẹ, phong chức tước cho vợ con và những quan lại có công tôn phò. Lý Thái Tổ có 6 bà vợ. Các bà này đều được phong làm hoàng hậu, nhưng đối với người vợ cả, ngoài phong hoàng hậu, Lý Thái Tổ còn dành cho bà sự đối đãi đặc biệt. Sách Đại Việt sử kí toàn thư cho hay: Lý Thái Tổ “lập 6 Hoàng Hậu, duy có đích phu nhân gọi là Hoàng Hậu Lập Giáo, quy chế xe kiệu và mũ áo khác hẳn với các cung khác”.
Hậu cung có những quy định, phép tắc riêng. Lý Thái Tổ biết rõ điều đó. Nhưng ông vẫn không do dự mà dành cho Lập Giáo sự đối xử hơn hẳn bình thường, cho thấy ông rất ưu ái đối với Lập Giáo. Sử cũ chỉ chép sự việc mà không giải thích gì thêm, thậm chí còn không cho biết quy chế xe kiệu, mũ áo ấy cụ thể như thế nào. Vì thế, chuyện Lập Giáo được đối đãi đặc biệt đã lưu truyền trong lịch sử, để lại một câu hỏi lớn đối với người thời sau: Rốt cuộc vì rất mực yêu thương vợ hay còn lí do gì khác để Lý Thái Tổ cư xử như vậy?
Lập Giáo hoàng hậu là ai?
Theo đoạn ghi chép trích dẫn ở trên, Lập Giáo là đích phu nhân (tức là vợ cả) của Lý Thái Tổ. Sau khi chép việc Lập Giáo được phong Hậu, sử xưa còn cho biết: lập con trưởng là Phật Mã làm Thái Tử. Ở phần biên niên về đời hoàng đế Lý Thái Tông (tức Thái Tử Phật Mã sau khi lên ngôi), cũng sách trên chép rằng: mẹ của Thái Tông là người họ Lê. Kết nối ba dữ kiện trên, có thể khẳng định, Lập Giáo hoàng hmang họ Lê, là vợ cả của Lý Thái Tổ và là thân mẫu của Lý Thái Tông.
Tổng hợp các ghi chép của sử cũ, chúng ta cũng chỉ biết đại khái như vậy về Lập Giáo. Nhưng rất may, nguồn tài liệu dã sử đã cung cấp thêm cho chúng ta một số thông tin quý giá. Theo Ngọc phả các vua triều Lê (Trần Bá Chí, Ngọc phả các vua triều Lê, Tạp chí Hán Nôm, số 5 (66), 2004, trang 73-76), hoàng đế Lê Đại Hành đã gả công chúa Lê Phất Ngân cho Lý Công Uẩn khi Lý Công Uẩn đang làm quan trong triều Tiền Lê. Như thế, Lý Công Uẩn là phò mã nhà Tiền Lê. Nhưng phải chăng công chúa Lê Phất Ngân là hoàng hậu Lập Giáo sau này? Hay đó chỉ là hai người có họ trùng nhau?
Ngày xưa, dưới chế độ quân chủ, các vị công chúa khi đi lấy chồng không gọi là xuất giá mà gọi là hạ giá, có ý rằng vị công chúa ấy đã chịu hạ thấp thân phận cành vàng lá ngọc của mình để kết duyên. Và bởi đã chịu hạ giá nên khi về nhà chồng, bất kể người chồng trước đó đã có thê thiếp hay chưa, vị trí của công chúa luôn là chính thê hay đích phu nhân. Lệ định này luôn được những người nên duyên với công chúa tuân thủ. Từ lệ định này và sự trùng họ giữa công chúa Lê Phất Ngân và hoàng hậu Lập Giáo, chúng ta có thể xác nhận họ chỉ là một người.
Như thế, lí lịch và nhân thân của Lập Giáo đã đầy đủ. Bà tên Lê Phất Ngân, là công chúa của Lê Đại Hành. Đến tuổi trưởng thành, bà được phụ hoàng gả cho Lý Công Uẩn. Đến ngày 26 tháng 6 năm Canh Tí (1000), bà đã hạ sinh cho Lý Công Uẩn một người con trai, đặt tên là Lý Phật Mã.
Vén màn bí ẩn sự đối đãi đặc biệt dành cho Lập Giáo hoàng hậu
Lê Đại Hành gả Lê Phất Ngân cho Lý Công Uẩn là có nguyên do. Lý Công Uẩn trẻ tuổi nhưng có tài, có đức lại mẫn cán. Hơn nữa, Lý Công Uẩn còn là môn đệ yêu quý của Thiền Sư Vạn Hạnh, người đứng đầu thế lực Phật giáo và có ảnh hưởng rất lớn trong triều đình lúc bấy giờ. Để cho Lê Phất Ngân nên duyên với Lý Công Uẩn, Lê Đại Hành sẽ nhận được sự trung thành tuyệt đối của thầy trò Vạn Hạnh đối với cơ nghiệp của ông. Đáp lại, hai người Vạn Hạnh, Lý Công Uẩn tỏ ra rất mực trung thành với nhà Tiền Lê.
Sau khi Lê Đại Hành qua đời (năm 1005), với nhãn quan thế sự sắc bén, Vạn Hạnh đã nhận thấy vận số nhà Tiền Lê không còn bao lâu, bởi vậy, ông đã tiến hành một cuộc vận động, khi ngấm ngầm, lúc công khai để chuẩn bị cho ngày đăng cơ của Lý Công Uẩn về sau. Đến khi hoàng đế cuối cùng của nhà Tiền Lê là Lê Ngọa Triều chết (cuối năm 1009), Vạn Hạnh đã không khách khí mà tích cực ủng hộ Lý Công Uẩn lên ngôi. Các triều thần đứng đầu là Đào Cam Mộc cũng thức thời, mau chóng khuyên mời Lý Công Uẩn. Sự kết hợp của hai thế lực bên trong và bên ngoài triều đình, một chính trị một tư tưởng - tôn giáo đã xoay chuyển cục diện mau lẹ, rốt cuộc thành công đưa Lý Công Uẩn lên thay nhà Tiền Lê.
Bi an nguoi vo duoc Ly Cong Uan doi dai dac biet
 Tượng đài Lý Thái Tổ tại vườn hoa Chí Linh, Hà Nội. Nguồn: Internet. 
Tiếp nhận thành công ngai vàng nhà Tiền Lê, vấn đề đặt ra trước hết cho Lý Thái Tổ là phải thu xếp hoàng tộc nhà Tiền Lê như thế nào để vừa giữ được ngai vị vừa không để lại di họa về sau. Lý Thái Tổ biết rằng, sức mạnh của hoàng tộc nhà Tiền Lê đã suy giảm đáng kể trong cuộc tranh giành ngôi báu sau khi Lê Đại Hành mất (năm 1005). Qua cuộc tranh giành ấy, một số thân vương bị giết, những người còn lại thì bị Lê Ngọa Triều tước quyền lực và quản thúc. Vì vậy, trên thực tế, số vương gia còn lại ấy không đủ thế lực chống lại tân triều. Vả lại, Lý Thái Tổ đang có hậu thuẫn rất lớn nên càng không e sợ có người câu kết với cựu triều lật đổ ông ta. Tính toán như thế, Lý Thái Tổ thấy không cần thiết phải sử dụng bạo lực, truy cùng giết tận hoàng tộc nhà Lê. Ngược lại, ông muốn đám con cháu nhà Lê ấy phải tâm phục khẩu phục tân triều và một lòng trung thành với họ Lý. Nếu làm được như thế, ông sẽ được tiếng là người nhân nghĩa, khéo xử thế, hình ảnh và tiếng tăm của ông nhất định in sâu trong lòng dân chúng, qua đó củng cố được địa vị của tân triều và ngăn ngừa được hậu họa (đến từ con cháu nhà Tiền Lê) cho đời sau.
Lý Thái Tổ có cách nghĩ rất cao minh. Cách hành xử của ông cũng cao minh không kém. Ông đã dựa vào địa vị là con rể của cựu triều, thông qua việc đối đãi với đích phu nhân để làm yên lòng những người thuộc hoàng tộc họ Lê. Bằng cách vượt lên trên điển lễ, dành cho hoàng hậu Lập Giáo quy chế xe kiệu, áo mũ vượt hơn các hoàng hậu còn lại, Lý Thái Tổ đã cùng lúc đạt được hai mục đích:
Thứ nhất, bày tỏ cho thiên hạ biết ông là người hiếu nghĩa. Lập Giáo là công chúa nhà Lê, đối xử đặc biệt với Lập Giáo cũng tức là chứng tỏ được lòng biết ơn to lớn của ông đối với tiền triều, nơi mở đầu hoạn lộ và đế nghiệp của ông.
Thứ hai, dành cho Lập Giáo nghi vệ hơn hẳn bình thường và lập con bà làm Thái Tử, Lý Thái Tổ đã xoa dịu và đẩy lùi được nỗi oán giận của hoàng tộc nhà Lê đối với tân triều. Hoàng tộc nhà Lê oán giận bởi quyền lợi của họ bị xâm hại. Nay trước việc Lập Giáo được ưu ái, đám con cháu tiền triều ấy cũng cảm thấy yên lòng phần nào. Họ càng yên tâm hơn khi cùng lúc ưu đãi Lập Giáo, Lý Thái Tổ đã ban quan tước cho họ, cử họ trấn giữ những vùng đất quan trọng và cho phép con cháu họ thừa kế chức vị của cha ông (như con cháu Lê Ngọa Triều được thế tập trấn trị châu Phong, dòng dõi Hoàng Tử Lê Long Đinh thì đời đời cai quản châu Chân Đăng…).
Thông qua tìm hiểu đối sách với cựu triều của Lý Thái Tổ, chúng ta có thể vén bức màn đằng sau sự đối đãi đặc biệt dành cho hoàng hậu Lập Giáo. Trong đối sách ấy, hoàng hậu Lập Giáo là nhân vật trung tâm, vừa trực tiếp thụ hưởng sự đãi ngộ của chồng vừa là nhân tố trấn an, đem lại quân bình cho những người trong tôn thất họ Lê. Ưu ái Lập Giáo, Lý Thái Tổ đã xóa tan mầm họa loạn đến từ cựu triều, giúp ông có điều kiện dồn tâm lực xây dựng vương triều và đất nước. Còn Lập Giáo hoàng hậu cũng không phải bận tâm về tương lai của dòng họ mình và yên ổn vui hưởng phú quý đến hết đời. Năm 1028, Lý Thái Tổ mất. Thái Tử Lý Phật Mã nối ngôi đã phong Lập Giáo hoàng hậu làm Linh Hiển Hoàng Thái Hậu.
Nguyễn Thanh Tuyền