Thứ Năm, 29 tháng 9, 2016

Làng nghề đan đó hơn 200 năm tuổi

Về thăm làng quê là một ý tưởng tuyệt vời cho những ai muốn tạm xa cuộc sống đô thị, tìm về miền bình yên, khám phá những điều bình dị.
khám phá làng nghề đó , Tiên Lữ  khám phá hưng yên  làng nghề truyền thống  làng nghề đó tiên lữ
Người dân làng cho biết, làng nghề đan đó ở xã Thủ Sỹ, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên đã có khoảng 240 năm, vẫn tồn tại và phát triển.
khám phá làng nghề đó , Tiên Lữ  khám phá hưng yên  làng nghề truyền thống  làng nghề đó tiên lữ
Nghề đan cần sự khéo tay và tỉ mỉ. Thế nhưng ở xã Tiên Lữ, cả người già lẫn trẻ nhỏ đều có thể tạo nên sản phẩm. Các cụ bà ở đây chia sẻ, họ bắt đầu đan đó từ khi 5 tuổi, thậm chí còn đùa rằng biết đan đó từ trong bụng mẹ.
khám phá làng nghề đó , Tiên Lữ  khám phá hưng yên  làng nghề truyền thống  làng nghề đó tiên lữ
Nguyên liệu để làm ra những chiếc rọ, đó là nứa được chuyển từ trên rừng về. Đó có hình bầu dục, đuôi nhọn, miệng nhỏ tròn. Một người lành nghề mất khoảng 15-20 phút để tạo nên một chiếc đó hoàn chỉnh.
khám phá làng nghề đó , Tiên Lữ  khám phá hưng yên  làng nghề truyền thống  làng nghề đó tiên lữ
Đó có 3-4 loại, trong đó có 2 loại chính là đó hun và đó trắng. Đó trắng rẻ hơn, có giá khoảng 20.000 đồng một chiếc.
khám phá làng nghề đó , Tiên Lữ  khám phá hưng yên  làng nghề truyền thống  làng nghề đó tiên lữ
Đó hun được làm kỳ công, hun khói 3 lần cho lên màu. Đó hun bền hơn, không bị rêu bám và có giá khoảng 30.000-40.000 đồng một chiếc.
khám phá làng nghề đó , Tiên Lữ  khám phá hưng yên  làng nghề truyền thống  làng nghề đó tiên lữ
Rời tay cuốc, tay liềm, rời bàn học là trên tay người già đến người trẻ lại bắt tay vào nghề đan lát. Hàng ngày, trong làng, già trẻ nhộn nhịp phơi nan, đan đó, tạo thành bức tranh đặc sắc làng nghề nông thôn. Công việc này góp phần mang đến 50% thu nhập của người dân trong xã.
khám phá làng nghề đó , Tiên Lữ  khám phá hưng yên  làng nghề truyền thống  làng nghề đó tiên lữ
Sau khi hoàn thành, những chiếc đó được mang đi tiêu thụ ở các vùng chiêm trũng các huyện Tiên Lữ, Ân Thi, Phù Cừ của tỉnh Hưng Yên và các tỉnh thành Bắc Ninh, Hải Dương, Hải Phòng… để người nông dân đi đồng đặt bắt cua, cá, lươn…
khám phá làng nghề đó , Tiên Lữ  khám phá hưng yên  làng nghề truyền thống  làng nghề đó tiên lữ
Một tháng trung bình người dân ở đây chở đi 10-15 chuyến đó.
khám phá làng nghề đó , Tiên Lữ  khám phá hưng yên  làng nghề truyền thống  làng nghề đó tiên lữ
Người dân cho biết, cả thời chưa có xe đạp, họ đã gánh bộ đi khắp nơi bán hàng.
khám phá làng nghề đó , Tiên Lữ  khám phá hưng yên  làng nghề truyền thống  làng nghề đó tiên lữ
Nghề phụ nhưng lại mang đến thu nhập chính cho người dân. Hàng năm nơi đây cung cấp khoảng 650.000 sản phẩm cho thị trường.
khám phá làng nghề đó , Tiên Lữ  khám phá hưng yên  làng nghề truyền thống  làng nghề đó tiên lữ
Nhìn đơn giản, nhưng phải mất khoảng 2 giờ đồng hồ để có thể chằng được một chiếc xe đó như thế này.
khám phá làng nghề đó , Tiên Lữ  khám phá hưng yên  làng nghề truyền thống  làng nghề đó tiên lữ
Một chiếc đó có thể chứa 8-9 kg cá, tôm, và là công cụ không thể thiếu để đánh bắt trên sông rạch, vùng chiêm trũng, đầm phá khắp miền Bắc.
khám phá làng nghề đó , Tiên Lữ  khám phá hưng yên  làng nghề truyền thống  làng nghề đó tiên lữ
Ngôi nhà ngói nhỏ đậm chất Bắc Bộ với những người dân miệt mài làm việc, vừa kiếm thêm thu nhập, vừa bảo tồn và phát huy làng nghề truyền thống.
(Theo Zing.vn)

Thứ Tư, 28 tháng 9, 2016

Món ngon giản dị mà nhớ lâu ở đất Hưng Yên

(Dân trí) - Không chỉ nổi tiếng với đặc sản nhãn lồng, vùng đất Hưng Yên còn tự hào với nhiều món ngon giản dị, ăn một lần là nhớ mãi.

Bánh cuốn Mễ Sở
Nếu Hà Nội có món bánh cuốn Thanh Trì mỏng tang như tờ giấy lụa, Lạng Sơn là bánh cuốn trứng béo ngậy, thì đến với Hưng Yên, đừng quên bánh cuốn Mễ Sở. Dù món ăn chỉ sử dụng nguyên liệu giản dị gần gũi, nhưng vẫn tạo nên sự khác biệt.
Nét hấp dẫn riêng của món bánh cuốn là lớp vỏ bánh làm từ gạo nguyên chất và tráng mỏng. Sau khi hấp lên, miếng bánh trắng như lòng trứng gà trắng, dẻo dai và mịn màng. Nhân bên trong được làm từ phần thịt lợn nạc băm nhỏ, xào cùng nước mắm, bột ngọt, nấm hương và mộc nhĩ.
Món bánh cuốn ngon không chỉ bởi nhân bánh, còn có sự khác biệt nhờ nước chấm. Mỗi hàng có bí quyết pha riêng, nhưng khong thể thiếu vị chua của quất và cay từ ớt. Đến chợ Mễ, dù có nhiều sự lựa chọn khác như bánh khúc Phú Thị, bánh răng bừa, bún riêu cua, nhưng bánh cuốn vẫn là thức quà sáng được nhiều người ưa thích.
Bánh răng bừa
Nhắc đến làng Phụng Công, Văn Giang, Hưng Yên, sẽ là thiếu sót nếu không kể đến món bánh giản dị đã tồn tại hàng trăm năm nay: bánh răng bừa. Làm từ nguyên liệu chính là bột gạo, món bánh truyền thống này vẫn được người dân cúng trong dịp ngày rằm, giỗ chạp hay tết.
Món bánh giản dị từ cái tên trở đi. Gọi là răng bừa vì hình dáng giống chiếc răng bừa vẫn dùng để cày ruộng. Người ta dùng gạo tám xoan, ngâm trong nước từ 3-4 tiếng, vo sạch rồi xay nhuyễn thành bột. Sau đó, thứ bột này được quấy đều trên bếp đến khi dẻo rồi mới đổ ra mâm cho nguội bớt.
Phần nhân bánh gồm thịt mông sấn thái hạt lựu, hành củ, nước mắm, cà cuống, xào đều trong chảo. Riêng phần lá gói phải dùng lá dong trồng ở đất phù sa ven sông Hồng mới có màu xanh khác hẳn. Bánh răng bừa bóc ra không dính tay. Khi ăn có thể thưởng thức cùng tương ớt, nước mắm tùy theo khẩu vị.
Tương Bần
Tương Bần đã trở thành niềm tự hào riêng của người dân Hưng Yên, rồi đi vào tiềm thức mỗi con người đất Việt tự bao giờ.
“Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương”
Món tương Bần trở thành niềm tự hào riêng của người dân Hưng Yên
Món tương Bần trở thành niềm tự hào riêng của người dân Hưng Yên
Được làm ở thôn Bần, xã Yên Nhân, huyện Mỹ Hào, nên người dân gọi luôn món nước chấm dân dã này là tương bần. Chỉ là thứ phụ thêm, nhưng khi thưởng thức bánh đúc, bánh tẻ hay thịt luộc, rau muống mà thiếu tương là mất đi cái khoái khẩu.
Công đoạn làm tương công phu và mất thời gian. Để có được bát tương vàng ươm đòi hỏi kinh nghiệm và độ khéo của từng nhà. Thành phần món tương là gạo nếp cái hoa vàng và đỗ tương. Tuy nhiên, phải mất chừng 1-2 tháng, người thợ mới cho ra được mẻ tương ngon. Thời gian nhanh hay chậm lại phụ thuộc vào thời tiết có đủ nắng hay không.
Món cá kho tương hấp dẫn đến khó cưỡng lại
Món cá kho tương hấp dẫn đến khó cưỡng lại
Từ xa xưa, tương Bần trở thành món ngon tiến vua. Ngày nay, món nước chấm giản dị này đã nổi tiếng khắp nơi, được nhiều người lựa chọn.
Cá mòi
Đây là giống cá sinh sống ở vùng biển và vùng nước lợ của sông. Đến mùa sinh sản, chúng ngược dòng sông Hồng về đẻ trứng. Cá mòi chỉ lớn hơn cá diếc một chút, màu trắng bạc, vây có gợn nhô lên rất dễ nhận biết. Giống cá nhiều xương nhỏ nhưng lắm thịt. Đặc biệt, thịt cá ngọt thơm và trứng càng ngon hơn.
Cá mòi thường chỉ có vào tháng 2, tháng 3 âm lịch. Chế biến món cá này cũng lắm công phu. Sau khi làm sạch, người nội trợ sẽ ướp cùng gừng, nghệ giã nhỏ chà khắp người cá để khử mùi. Nhiều cách để biến cá mòi thành món ngon, nhưng nướng trên than hoa là đậm vị hơn cả. Ướp cá chừng nửa giờ, người ta sẽ dùng que tre cặp ngang thân cá rồi nướng. Khi nướng chín sơ, cá được đưa lên chảo rán tới lúc chuyển màu vàng nâu.
Giữa tiết trời xuân còn vương lại cái se lạnh, đĩa cá mòi vừa rán chín, thưởng thức khi còn nóng để giữ nguyên hương vị.
Việt Hà
Video: nguồn VTV

Những trải nghiệm chỉ có ở Hang Rái

(Dân trí) - Ngắm vẻ đẹp đầy huyền diệu, kỳ bí của rêu, đá và sóng ở Hang Rái, chắc chắn bạn sẽ không khỏi trầm trồ trước tuyệt tác của thiên nhiên. Được xem là “thác trên biển” độc đáo nhất của Việt Nam, Hang Rái sẽ mang đến cho bạn những trải nghiệm thú vị khi khám phá.

Từ thành phố Phan Rang (Ninh Thuận) đi theo tuyến đường biển Ninh Chữ đến cầu Tri Thủy, rẽ phải và men theo tỉnh lộ 702 khoảng 35 km về phía Đông Bắc Ninh Thuận, bạn sẽ đến với Hang Rái ở thôn Thái An, xã Vĩnh Hải, huyện Ninh Hải. Nơi này trước đây có nhiều rái cá đến trú ngụ nên cái tên Hang Rái cũng bắt nguồn từ đó.
1. Chinh phục Công viên đá
Hang Rái gồm hai điểm tham quan: một bên là bãi biển có nhiều khối đá xếp chồng lên nhau tạo thành những hang nhỏ, một bên là quần thể đá cổ lớn nổi giữa mặt biển tạo thành một “công viên đá” với nhiều hình dáng kỳ thú. Công viên đá là điểm đến thu hút đông đảo du khách đến chiêm ngưỡng.
Công viên đá là sự sắp xếp tài tình của hàng trăm viên đá lớn nhỏ khác nhau, tạo nên những hình thù đẹp mắt, những hang luồn chỉ đủ một người chui qua hay những vách đá cheo leo thử thách sự can đảm của bạn. Khám phá một vòng công viên đá, bạn sẽ được chiêm ngưỡng sự hùng vĩ của biển và núi, ngắm toàn cảnh trên cao bãi san hô cổ.
Quần thể đá cổ tại Hang Rái rất lớn, chia làm hai tầng. Tầng trên cao hơn 2m với nhiều hình dáng phong phú. Tầng dưới là một bề mặt đá rộng và bằng phẳng, nằm thấp hơn mực nước biển vài cm nên được phủ lên một làn nước trong vắt.
Khách du ngoạn có thể để đi dạo trên bờ đá, tận hưởng cảm giác thích thú xen lẫn hồi hộp khi sóng vỗ từng đợt vào bờ. Bên cạnh đó, việc hít thật sâu vị mặn của biển trong không gian bao la cũng sẽ khiến bạn cảm thấy như được hòa mình với thiên nhiên.
2. Khám phá “Sao Hỏa”
Khi nhắc đến “Sao Hỏa” ở Hang Rái, người dân ở đây nghĩ ngay đến bãi san hô cổ tuyệt đẹp. Do kiến tạo địa chất hàng triệu năm, bãi san hô cổ trồi lên một mảng lớn mà nhiều người thường gọi vui là “Sao Hỏa” hay “Mặt Trăng”.
Bề mặt “Sao Hỏa”
Bên cạnh đó, nói đến Hang Rái, không thể không kể đến những rặng san hô bạt ngàn dưới làn nước biển trong xanh. Với hơn một trăm chủng loại và màu sắc khác nhau, nơi đây được cho là nơi có san hô đẹp nhất khu vực Ninh Thuận.
Du khách có thể lặn ngắm san hô, vui đùa với cá và lòng đại dương. Những ai thích hoạt động nhẹ nhàng thì có thể hòa mình vào dòng nước biển xanh ngắt, hoặc ngồi trên những tảng đá thả cần, trổ tài câu cá, nghe tiếng sóng vỗ rì rào như một bản nhạc tuyệt vời của thiên nhiên.
3. Đắm mình trong những hồ bơi thiên nhiên
Ngay dưới chân bãi san hô cổ là một tầng đá san hô cổ khác lưng chừng mực nước biển. Đây cũng chính là đặc điểm thu hút nhiều du khách đến với Hang Rái.
Hố trái tim ở Hang Rái
Khi sóng đánh vào bãi đá khiến nước tràn vào bên trong, độ dốc của đá lại khiến nước chảy ngược xuống biển tạo nên những thác nước vô cùng lạ mắt. Nhiều người gọi hiện tượng kỳ thú này là “thác trên biển” và Hang Rái chính là địa điểm độc nhất vô nhị có hiện tượng này.
Những hốc đá vô tình trở thành những hồ bơi thiên nhiên vừa an toàn lại vừa mát lạnh cho bất kỳ ai không kiềm chế nổi sự quyến rũ của Hang Rái.
4. Cắm trại ngắm bình minh lên
Thời điểm đẹp nhất để ngắm Hang Rái chính là vào khoảnh khắc bình minh, nhưng thời gian mặt trời mọc ở đây lại khá sớm, vào tầm khoảng 5 giờ rưỡi sáng.
Khi bình minh vừa ló dạng, chân trời ửng hồng rọi những tia nắng đầu tiên lên “thác trên biển” khiến cho khung cảnh càng trở nên huyền ảo.
Đây là thời điểm được các tay săn ảnh chuyên nghiệp hay các cặp đôi cô dâu chú rể rất yêu thích.
5. Tham quan khu bảo tồn rùa biển
Hang Rái thuộc Vườn quốc gia Núi Chúa, đây cũng chính là một trong những khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam.
Hằng năm rùa biển lên sinh sản tuy không nhiều như Côn Đảo nhưng số lượng cá thể có thể lên đến hàng chục con. Rùa biển là một loài động vật quý hiếm, được xếp vào danh sách sắp bị tuyệt chủng và hiện được các tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế bảo vệ.
Đến với Hang Rái, bạn sẽ được tìm hiểu thêm thông tin về rùa biển, về công tác bảo vệ khi rùa sinh sản. Ngoài ra nếu may mắn, bạn còn được xem những chú rùa trên 30 năm tuổi đang được cứu hộ tại đây, tận tay cho chúng ăn bằng các loại rong rêu. Đây sẽ là một trải nghiệm đáng nhớ và tăng thêm nhận thức về việc bảo tồn rùa nói riêng và động vật hoang dã nói chung.
6. Dạo chơi trong các vườn nho
Đã đến Ninh Thuận thì nhất định phải ghé vào vườn nho ít nhất 1 lần. Vườn nho Thái An, vườn nho Ba Mọi,… là những địa chỉ “bỏ túi” dành cho du khách. Bạn có thể tham quan chụp hình thoả thích, ăn nho chín ngay tại vườn, thử rượu nho, mật nho và tìm hiểu về quá trình trồng nho, tất cả đều miễn phí. Nho mua mang về cũng có mức giá vô cùng rẻ.
Ninh Thuận được xem là vựa nho cung cấp nguồn nho cho cả nước. Dù thời tiết khô hay nắng, nho Ninh Thuận vẫn cho ra những chùm nho mọng nước, có vị ngọt nhẹ và từ lâu đã trở thành đặc sản nổi tiếng của vùng đất này.
Nho Ninh Thuận có hai loại, nho đỏ và nho xanh. Nho đỏ có dạng hình cầu, khi chín vỏ có màu đỏ hoặc đỏ thẫm trông rất đẹp mắt. Nho xanh có vỏ dày hơn nho đỏ, khi chín quả ngả sang xanh phơn phớt vàng.
Trưa hè đầy nắng gió, ngồi thưởng thức bữa trưa bên ly rượu nho thơm nồng và tráng miệng bằng những chùm nho chín mọng ngay tại vườn là trải nghiệm thú vị mà du khách nên trải qua khi đặt chân đến đây.
Hoàng Ngọc
Tổng hợp

Những quán ăn chật chội vẫn đắt khách ở chợ Đồng Xuân

Để vào ăn, du khách phải gửi xe ở ngoài, đi bộ tìm quán và chờ xếp chỗ trong những dãy bàn chật hẹp mới được thưởng thức các món ngon trứ danh ở chợ Đồng Xuân - Hà Nội như bún ốc, cháo sườn, bún chả que tre.

Bún ốc
Cuối ngõ chợ có quán bún ốc nhỏ, ít chỗ ngồi nhưng tấp nập khách ra vào, đặc biệt cao điểm vào buổi trưa. Bạn sẽ bị hấp dẫn bởi ốc nhồi béo và giòn, nước dùng chua chua, thơm nhẹ nhàng vị giấm bỗng. Ngoài bún chan, quán còn phục vụ bún chấm dành cho những thực khách muốn đổi kiểu ăn. Ở đây, bún rối được để riêng, khi ăn mới cho vào bát nước dùng nóng hổi với đầy đủ ốc, chuối, đậu. Mỗi bát bún chan có giá 30.000 đồng, còn bún chấm 35.000 đồng một bát. Quán mở cửa từ 10h đến 16h hàng ngày. Ảnh: Ngoisao.
 
Bún chả que tre
Bún chả vẫn được kẹp que tre nướng trên than hoa theo đúng nét ẩm thực Hà Nội xưa. Miếng chả được bọc trong lá xương xông, nướng vàng thơm, ăn kèm bún và nước chấm rất vừa miệng, giá chỉ 30.000 đồng mỗi bát. Điểm đặc biệt thú vị ở quán là thứ gia vị độc đáo mà ít nơi nào có được, đó là nước giấm sấu, giấm me tự làm ăn với bún. Mỗi suất bún chả ngõ Đồng Xuân có giá 35.000 đồng. Điểm trừ khi ngồi ăn ở đây là hơi chật chội và ngồi lâu dễ bị ám khói từ bếp nướng chả. Ảnh: Ngoisao.
 
Bún mọc tiết
Quán ở phía sau chợ Đồng Xuân có thâm niên gần 20 năm với món bún mọc tiết lạ tai. Tô bún có vị đậm đà, miếng mọc to, thêm tiết và măng tạo vị chua chua dễ ăn. Nhiều người còn ưa thích quán này vì món quẩy khá ngon. Quán bán từ 6h sáng đến đêm, giá một bát là 20.000 đồng, đĩa quẩy giá 5.000 đồng. Ảnh: Lozi.
 
Cháo sườn sụn
Cháo sườn sụn chợ Đồng Xuân bắt đầu bán từ khoảng 5h chiều, càng về đêm càng đông khách. Cháo ở đây được xay rất mịn, hoàn toàn không còn thấy hạt gạo, đặc sánh, đậm hương, ngọt thịt. Ngoài nước cốt xương ninh, cháo còn có sườn sụn, ăn giòn sần sật, quẩy và ruốc thịt thêm phần hấp dẫn. Quán nằm trên vỉa hè phố Đồng Xuân, đối diện cổng chợ Đồng Xuân, giá một phần đầy đủ là 30.000 đồng. Ảnh: Hoài Nhơn.
 
Nộm bò khô
Một đĩa nộm bắt mắt với bò khô cắt miếng to gần bằng ngón tay út, thịt bò mềm, ngọt, rau thơm, đu đủ sợi tươi, ngon trộn đều với nước sốt và lạc rang. Giá mỗi suất nộm khoảng 30.000 đồng. Ngoài nộm bò khô, quán bán bánh bột lọc, nem cuốn cũng được thực khách yêu thích. Ảnh: Hương Giang.
 
Chè
Chè trong ngõ chợ có rất nhiều loại, từ truyền thống như đỗ đen, ngô, bưởi, đậu đỏ… đến các loại chè Thái đa dạng, caramel, sữa chua nếp cẩm. Người Hà Nội vẫn yêu thích cốc chè đỗ đen trân châu truyền thống với vị thanh mát đúng chuẩn chè quê. Du khách thường chọn chè xuka hoặc các loại thập cẩm dễ ăn, vị ngọt mát. Giá một cốc từ 15.000 đồng. Các quán chè chỉ có ít chỗ ngồi, nếu đông khách, bạn phải đợi xếp chỗ. Ảnh: Hương Giang.
 
Má Lúm

Thứ Hai, 26 tháng 9, 2016

Điện Voi Ré tôn thờ lòng trung thành

Nhiều du khách đến Huế không biết rằng nơi đây có một điện thờ voi, suy tôn lòng trung thành của một con vật dũng cảm trong các trận chiến.

Điện Voi Ré được xây dựng trên một diện tích chừng 2.000 m2 tại đồi Thọ Cương, thôn Trường Đá, phường Thủy Biều, TP Huế, dưới thời vua Gia Long.
Nhà nghiên cứu Dương Phước Thu cho biết, điện Voi Ré không phải là di tích có kiến trúc nổi trội so với nhiều nơi khác ở Huế, tuy nhiên điện mang ý nghĩa đặc biệt bởi đây là nơi suy tôn lòng trung thành của những con voi chiến triều Nguyễn. Công trình độc đáo này không chỉ mang tính lịch sử mà còn đề cao tinh thần trọng tình, trọng nghĩa, mang đậm tính nhân văn của con người Việt Nam xưa.
dien-voi-re-ton-tho-long-trung-thanh
Trước cổng tam quan có 17 bậc. Ảnh: Võ Thạnh.
Điện được xây dựng theo kiến trúc chữ "môn", bên ngoài có vòng la thành xây bằng gạch. Phía trước cổng tam quan có hệ thống đi lên gồm 17 bậc; bên trên chính giữa ở lối chính có ba chữ Hán bằng sành "Nghiễm Nhược Lâm". 
Thẳng theo lối chính, trước khi vào đến sân miếu, là bức bình phong Long Mã. Miếu Long Châu nằm ở trung tâm theo kiểu trùng thiềm điệp ốc, gồm năm gian hai chái, mái lợp ngói liệt, tiền đường kiểu vỏ cua. Bên trong trang trí bằng hệ thống liên ba bằng gỗ với 104 ô hộc chủ yếu là chữ Thọ theo lối triện và hoa lá chim muông. Chính giữa ngôi miếu là một bức hoành phi khắc nổi ba chữ Hán màu vàng "Long Châu Miếu".
Hai bên miếu Long Châu là Đông Phối Điện và Tây Phối Điện, đây là nơi thờ những con voi lập được nhiều chiến công trận mạc vào thời kỳ xây đế nghiệp của triều Nguyễn, cũng là nơi khoản đãi quan khách sau khi tế lễ. Trước hai ngôi nhà này, còn có hai tòa miếu phụ còn được gọi là miếu Tượng.
Trong cuốn Từ điển lịch sử Thừa Thiên – Huế do Tiến sĩ Đỗ Bang chủ biên xuất bản năm 2000, điện Voi Ré trước đây thờ 15 bài vị các vị thần bảo hộ lính nhưng hiện nay, trong miếu chỉ còn lại bài vị của 4 vị thần là: thần Thiên Sư, thần Chúa Động, thần Hồng Nương, thần Tiền Hậu Khai Khẩn. Mỗi bài vị được đặt trong một cái khám giống nhau như một cái ngai cách điệu trông rất uy nghiêm. Nguyên thủy, điện Voi Ré còn có bài vị của các vị thần trong tín ngưỡng dân gian như tần Hà Bá, Thổ Công, Ngũ Hành, Thủy Long, Ngọc Nữ…
Trước đây, hai miếu hai bên Long Châu miếu có 4 bài vị đề tên là Đô Đốc Hùng Tượng Ré, Đô Đốc Hùng Tượng Bích, Đô Đốc Hùng Tượng Nhĩ, Đô Đốc Hùng Tượng Bôn, đây là 4 con voi lập nhiều công trạng dưới triều Nguyễn trong các trận chiến.
Theo nhà nghiên cứu Dương Phước Thu, điện Voi Ré được xây dựng do vua Gia Long và người dân thời đó rất kính phục lòng trung thành của con voi chết vì chủ. Theo truyền thuyết, dưới thời Trịnh - Nguyễn phân tranh, voi của một dũng tướng Đàng Trong đau buồn trước cái chết của chủ mình giữa trận tiền đã chạy trên một quãng đường dài từ chiến địa về tận thủ phủ Phú Xuân, đến địa điểm điện Voi Ré ngày nay rống lên một tiếng vang trời rồi trút hơi thở cuối cùng. Cảm động trước sự trung thành của con voi chiến, người dân địa phương đã làm lễ an táng, xây mộ và gọi một cách mộc mạc là mộ Voi Ré.
Sau khi lên ngôi, vua Gia Long cho xây dựng Long Châu Miếu kế bên mộ voi, vừa để làm nơi thờ các vị thần bảo vệ voi và thờ bốn con voi dũng cảm nhất trong các cuộc chiến của triều Nguyễn. Sau khi điện Voi Ré xây xong, hàng năm nhà Nguyễn đều tổ chức tế lễ hai lần vào mùa thu và mùa xuân.
dien-voi-re-ton-tho-long-trung-thanh-1
Voi được điêu khắc từ đá nằm trong miếu Tượng vẫn còn nguyên vẹn. Ảnh: Võ Thạnh
Ông Phan Văn Tuấn, Phó giám đốc Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế cho biết, sau chiến tranh, điện Voi Ré từng được sử dụng làm kho thuốc nổ của hợp tác xã Long Thọ, trường mầm non nên nhiều công trình đã xuống cấp. Vừa qua, Trung tâm đã tiến hành trùng tu xong hệ thống tường thành, dùng các thanh gỗ gia cố trạm Tây Phối Điện, Đông Phối Điện để tránh đổ sập.
dien-voi-re-ton-tho-long-trung-thanh-2
Di tích điện Voi Ré. Ảnh: Võ Thạnh.
Hiện điện Voi Ré có tổ bảo vệ trực hàng ngày để hướng dẫn khách tham quan. Theo kế hoạch, trong giai đoạn 2016 – 2020, điện Voi Ré sẽ được trùng tu, đặc biệt là Long Châu Miếu.
Võ Thạnh

Nơi vua Minh Mạng chào đời ở Sài Gòn

Bảo tàng chứng tích chiến tranh (quận 3) vốn là chùa Khải Tường - nơi vua Minh Mạng được sinh ra năm 1791, khi chúa Nguyễn Ánh bị quân Tây Sơn truy đuổi.

Theo sách Biên niên sử Phật giáo Gia Định - Saigon - TP HCM 1600-1992ấn hành năm 2001, Khải Tường là ngôi chùa tọa lạc trên gò cao tại ấp Tân Lộc, huyện Bình Dương, thuộc thành Gia Định xưa. Ban đầu, đây là am nhỏ do Thiền sư Phật Linh - Ý Nhạc lập năm 1744. Khải Tường và chùa Từ Ân gần đó (ở vị trí trong Công viên Tao Đàn hiện nay) là 2 chùa cổ của Sài Gòn, nổi tiếng vì là nơi vua Gia Long từng ẩn náu quân Tây Sơn. Trong đó, chùa Khải Tường chính là nơi hoàng tử Đảm (vua Minh Mạng) chào đời.
noi-vua-minh-mang-chao-doi-o-sai-gon
Chùa Khải Tường khoảng năm 1871-1874. Ảnh tư liệu.
Năm 1788, nội bộ Tây Sơn có nhiều mâu thuẫn, tạo cơ hội cho Nguyễn Ánh giành lại được Gia Định để củng cố lực lượng cũng như xây dựng thành trì, biến nơi đây thành trung tâm chính trị của triều Nguyễn.
Hai năm sau, trong lúc thành Gia Định mới được xây dựng, hoàng gia và bộ máy quan lại lúc này ở Gia Định phải tá túc ở hai ngôi chùa lớn nằm gần nhau là chùa Từ Ân và chùa Khải Tường. Theo một số tư liệu, ngày 25/5/1791, Nhị phi Trần Thị Đang (Thuận Thiên Cao Hoàng hậu) sinh Nguyễn Phúc Đảm nơi hậu liêu chùa Khải Tường.
Sau khi thống nhất đất nước và lên ngôi vua, năm 1802 vua Gia Long cho trùng tu hai ngôi chùa này. Để tạ ơn che chở, vua đã dâng cúng tượng Phật A-Di-Đà cao 2,5 m bằng gỗ mít, ngồi trên tòa sen, sơn son thếp vàng.
Sách Lược Khảo Phật giáo sử Việt Nam của Vân Thanh, xuất bản tháng 3/1975, viết: "... chùa Khải Tường, Thôn Hoạt Lột, huyện Bình Dương, xây cất năm Tân Hợi (1791), hiện nay nền chùa là Trường Đại Học Y Khoa cũ, đường Trần Quý Cáp, do Nguyễn Vương Phúc Ánh kiến tạo để kỷ niệm nơi sinh Hòang tử Đởm (hay Đảm, tên vua Minh Mạng)".
Tương tự, nhà nghiên cứu Vương Hồng Sển trong quyển Sài Gòn năm xưa cũng cho rằng "Chùa nầy có dật sử chính hoàng tử Đảm (sau lên ngôi là Đức Minh Mạng) sanh nơi hậu liêu vào năm Tân Hợi (1791) giữa cơn tị nạn Bình Tây Sơn. Qua năm 1804, Cao Hoàng nhớ tích cũ, để tạ ơn Phật dày công che chở mấy năm bôn tẩu nên gởi tặng chùa một cốt Phật Thích Ca thật lớn bằng gỗ mít, thếp vàng tuyệt kỹ".
noi-vua-minh-mang-chao-doi-o-sai-gon-1
Tượng phật A-Di-Đà vua Gia Long tặng chùa Khải Tường hiện được trưng bày ở bảo tàng lịch sử Việt Nam - TP HCM. Ảnh: Wikipedia
Năm 1820 vua Gia Long Mất, Minh Mạng nối ngôi. Đến năm 1832, sau khi tìm kiếm được địa chỉ nơi cha mẹ từng ở và cũng là nơi sinh ra mình, vua Minh Mạng sai xuất 300 lạng bạc trùng tu chùa và đặt tên là Quốc Ấn Khải Tường, đồng thời cho "mộ sư đến ở, cấp ruộng tự điền" để lo việc lễ tiết hàng năm (Khải Tường là mở bày đều tốt lành. Ám chỉ nơi chốn vua sinh ra là vùng đất quý, phát phúc lâu dài, rộng rãi). Chùa Từ Ân gần đó cũng được phong Sắc Tứ Từ Ân.
Quy mô của chùa Quốc Ấn Khải Tường từ ngoài vào trong gồm có lầu chuông trống ba gian hai chái; tiếp đến điện Phật ba gian; hai bên có hai hành lang dài nối với Tăng xá và nhà ăn đều ba gian hai chái. Chùa làm xong, thỉnh hai mươi nhà sư đến cư trú, ban cấp ruộng đất lấy hoa lợi lo việc thờ cúng hằng năm. Nơi đây có các vị Cao Tăng Trụ trì hoằng dương đạo pháp, được triều đình bảo hộ nên trở thành ngôi chùa tiêu biểu, ảnh hưởng rộng lớn đến quần chúng đạo Phật khắp Nam kỳ lục tỉnh.
Năm 1859, quân Pháp tấn công Gia Định, sau khi chiếm được thành họ chiếm đóng chùa Khải Tường và các ngôi chùa lớn khác như Từ Ân, Kim Chương, Kiểng Phước, Mai Sơn... thiết lập phòng tuyến quân sự để chống lại các đợt tấn công của người Việt.
Riêng chùa Khải Tường, đại úy thủy quân lục chiến Pháp tên Barbé nhận nhiệm vụ dẫn quân vào chiếm giữ. Barbé cho đem tượng Phật bỏ ngoài sân, cưỡng bức các sư phải rời chùa. Chiều 7/12/1860, quân Việt phục kích giết chết Barbé khi viên sĩ quan này cỡi ngựa đi tuần đêm từ chùa Khải Tường đến đền Hiển Trung (nay được cho là ngã ba Võ Văn Tần - Trần Quốc Thảo).
noi-vua-minh-mang-chao-doi-o-sai-gon-2
Bảo tàng chứng tích chiến tranh ngày nay. Ảnh: Trung Sơn
Theo nhà văn Sơn Nam, khoảng năm 1867 chùa Khải Tường trở thành trường sư phạm nam. Mười ba năm sau chùa bị tháo dỡ, trường dời qua cơ sở mới là trường Chasseloup Laubat xây cất xong khoảng 1877.
Khi tháo dỡ, tấm hoành phi "Quốc ân Khải Tường tự" được chuyển về chùa Từ Ân (nay ở đường Tân Hóa, quận 6) cất giữ, còn tượng Phật A-Di-Đà phải dời đi nhiều nơi, sau cùng được trưng bày trong Viện bảo tàng Quốc gia Sài Gòn (nay là Bảo tàng Lịch sử Việt Nam - TP HCM).
Thời gian sau, trên nền chùa bỏ hoang này, người Pháp cho xây một dinh thự dành cho quan chức trong bộ máy cai trị. Trước năm 1963 dùng làm Trường Đại học Y dược, sau khi chế độ của Tổng thống Ngô Đình Diệm bị lật đổ, các tướng lãnh cho các cố vấn quân sự đến trú đóng. Sau ngày năm 1975, nơi đây được dùng làm Bảo tàng Chứng tích chiến tranh.
Trung Sơn