Thứ Năm, 1 tháng 9, 2011

Vui theo mùa cá nục

Trên bãi, dưới thuyền, trên bờ, trong chợ, sân phơi, lò hấp… đâu đâu cũng cá, đâu đâu cũng nục.

Cá nục rộ suốt mấy tháng qua ở vùng biển quê mình. Cũng là những ngày oi nồng bức bối bởi giữa mùa hè. Biển lại êm ở những khoảng thời gian này và ghe tấp các bến ở Bình Định bắt khẳm bởi nục ơi là nục. Quá chừng chừng cá nục… Trên bãi, dưới thuyền, trên bờ, trong chợ, sân phơi, lò hấp… đâu đâu cũng cá, đâu đâu cũng nục.
 
Cá nục kho
Có cá nục bữa cơm ở nhà thật phong phú mà khuôn mặt của vợ lại  thấp thoáng nụ cười. Không hỏi chồng cũng hiểu ngay và chạnh lòng xót xa. Vật giá leo thang ngày một mà thu nhập lại chẳng chịu leo theo. Đi chợ ít ỏi, lèo tèo thì cực lòng chẳng đặng mà không, thâm thủng lấy đầu bù? May quá lại tới mùa cá nục.
Cá nục nấu thơm cà, tô canh thanh cảnh đẹp tươi sắc màu. Này nhé, màu xám đen của cá, đỏ rực những miếng cà, vàng ươm những lát thơm và ngắt xanh hành ngò. Nước canh trong mà ngọt lịm đầu môi. Chưa kịp bới cơm đã muốn múc ngay mấy muỗng vô chén để húp.
Người miền Trung, dân biển có kiểu dùng mắm trong lấy muỗng dằm mấy trái ớt hiểm và đựng mắm vô cái đĩa có lòng rộng, sâu. Chừng bắt đầu ăn mới vớt cá từ tô canh ra đặt vô lòng đĩa mắm.
Ở Bình Định, nếu muốn thay đổi thì bữa sau lại nấu canh cá nục lá giang, ăn giải nhiệt. Cá nục nấu lá giang mới nghe nói đã thấy cái giọng xứ củ mì phảng phất...
Ngoài canh thế nào vợ cũng chiên một ít cá nục ăn với xoài bằm dầm mắm ớt tỏi chanh đường, hấp dẫn khỏi chê. Cá nục lớn hơn kho nước sền sệt và nước đó thêm trái ớt, làm nước chấm rau luộc mới là đúng kiểu. Rồi cá nục nho nhỏ kho keo, dẻo tốn cơm thôi khỏi nói. Vợ đã biết chừng mua hơi nhiều nhiều để sáng ngày ra làm soong cháo đặc. Ăn nhẹ bụng mà nhẹ cả túi tiền gia đình.
 
Cá nục hấp cuốn bánh tráng là một món ăn đặc trưng của Bình Định
Hồi ở ngoài quê, chợ đã xa mà phải theo phiên nên mỗi lần đi, phải lo mua đồ ăn nhiều nhiều. Tới mùa cá nục má tha hồ mua vì cá nục đâu có mắc.
Thường má cho nhà ăn xổi canh, chiên, cháo, hấp… gì đó ngay trong ngày, còn bỏ kho hết. Cái thứ cá kho đó mà phải là cá nục kho, dầm sấu làm canh có một hương vị hết sức độc đáo.
Cũng là chua nhưng chua của khế, của lá giang, của chanh không hề giống cái chua khó quên của sấu. Đã vậy lại thêm những miếng cá nhỏ đã dầm hết sức đậm đà. Tôi ghiền món canh này do được ăn suốt một thuở ấu thơ, qua rất nhiều mùa cá nục.
Người giàu ăn nhiều đồ ăn cao cấp bỗ dưỡng. Ăn hoài cá thu, cá chẽm, cá cam… cũng ngán. Muốn đổi bữa cho chồng con bằng tô canh cá nục hay mớ cá nục nhỏ xíu kho tiêu dẻo quẹo mặn mòi. Như vậy là người giàu đã biết thương cá nục rồi đó! Mà cá nục cũng đâu có “mặc cảm” gì với người giàu. Thấy cũng thân thiện, gần gụi.
Còn hỏi người nghèo có thương cá nục không? Trời ơi! Thương hung và ham lắm. Bởi cá nục rẻ, ngon, dễ chế biến, mát, hiền và ăn hoài không ngán.
Tôi có người bạn ở Sài Gòn mở một nhà hàng bán toàn thức ăn miền Trung. Một bữa vợ chồng anh ấy nhận được một cái đơn đặt hàng với chỉ một món: cá nục hấp theo kiểu “nẫu” cuốn với rau sống, bánh tráng Bình Định. Mà cái bàn đặt ấy nói toàn giọng Trung lai lai, không cần tinh ý vẫn nhận ra đó là những người ngoài này vô sống đã lâu năm trong đó.
Còn cá nục hấp kiểu “nẫu” là hấp trơn cá với cá, hấp không có phụ liệu đi kèm. Hấp thiệt nên cái ngon, cái ngọt rất thiệt. Đúng cách kiểu chân chất, mộc mạc của người miền Trung.
Cũng may giờ có dịch vụ gửi hàng theo xe khách và họ có nhận cả đồ hải sản. Nên trong đó chỉ cần alô về đây bữa nay là ngay ngày mai nhà đã có cá mú, mực, tôm… tươi rói của biển giả ngoài này để kho, nấu, chiên, um.
Tuần trước bà cô tôi gọi điện về nói thèm tô cháo cá nục nấu kiểu Tam Quan. Nấu cháo kiểu này là nấu với nước cốt vắt từ cơm dừa. Ngon lắm! Tô cháo thơm lựng và béo ngậy.
Cũng do Tam Quan hồi xưa dừa bạt ngàn nên mới dám hoang lung dừa tới vậy. Chứ giờ dừa Tam Quan cũng đâu còn nhiều mà giá lại cao, nấu một nồi cháo kiểu đó tốn kém cũng không ít. Cũng may là chưa hết mùa nục và tuần dăm lần vợ tôi cho cả nhà điểm tâm cháo đặc ăn với cá kho keo. Keo cá, dẻo cháo và dẻo queo tình cảm gia đình. Bởi đó đã thấy lo lo khi sắp qua mùa cá nục…
Mùa cá nục, có việc ra bến bãi thấy lòng rộn vui. Tâm hồn lang thang theo từng cái ghe tấp bờ khẳm cá, theo bước chân người gánh, theo cánh tay người bưng… Những rổ, những thúng, những mủng đầy vun cá nục. Ăm ắp nục suông, nục bông, nục gai, nục giời…
Theo Vĩnh Hoan (Bình Định Online

"Chơi lũ" đầu nguồn sông Hậu

Dọc làng Chăm ở búng Bình Thiên có nhiều quán “cóc sàn” khá lạ mắt. Quán được làm theo kiểu nhà sàn ven sông, giữa ruộng hay trên đầm nước. Khách ngồi xếp bằng và quây quần với nhau ăn uống thật vui vẻ, ấm cúng! Chủ quán là những nông dân, vì vậy, các món ăn mang đậm chất dân dã, rẻ đến bất ngờ nhưng ngon miệng.

Một ngày cuối tháng 8-2011, chúng tôi về An Giang, tới thị xã Châu Đốc, vượt qua cầu Cồn Tiên rồi theo Đường tỉnh 956 về huyện đầu nguồn An Phú, sau đó tiếp tục đi chếch hướng Tây Bắc đến biên giới Việt Nam- Campuchia và dừng chân nơi dòng Mekong chảy vào nước ta.
Búng Bình Thiên còn hấp dẫn bởi vẻ hoang sơ.
 
Mekong sau hành trình vượt gần 4.000km qua các nước Lào, Myanmar, Thái Lan, Campuchia, đến Pnom Penh, dòng sông hùng vĩ này bắt đầu chia thành hai nhánh xuôi về biên giới Việt Nam.
Sông Hậu (Bacsac hay Ba Thắc) là nhánh tả ngạn, chiếm 30% lượng nước của Mekong chảy vào Việt Nam ở địa phận xã Khánh An, huyện An Phú, tỉnh An Giang rồi xuôi dòng ra biển.
Nước lũ với phù sa đỏ đục đã về thượng nguồn sông Hậu từ tháng 6 theo những cơn mưa đầu mùa ở Tây Trường Sơn và xa hơn nữa về phía thượng nguồn của sông Mẹ (Mekong). Nước dâng từ từ, ngập tràn những cánh đồng thấp không có đê bao... Buổi sáng, bến chợ biên giới Khánh An dập dìu xuồng ghe lớn nhỏ chở cá mắm, hàng nông sản... Không khí ồn ã đầy sức sống… Bên kia sông là đất bạn, những mái nhà sàn thấp thoáng sau bóng những cây me, sầu đâu, bạch đàn rợp mát. Phía sau nữa là cánh đồng mênh mang, bát ngát xa tít tận chân trời…
 
Cá linh non từ biển Hồ và sông Tông Lê Sáp theo nước xuôi về hạ nguồn báo hiệu cho một mùa nước nổi… Rùa, rắn, cá lóc bông, ốc bươu, lươn, ếch có rất nhiều ở đây. Nông, ngư dân người Kinh, Khmer, Chăm các nơi đem hàng đến chợ để bán cho các vựa cá mắm, người tiêu dùng. Chỉ riêng vựa cá khô cá bổi (sặt rằn) của cô Năm Thu (Khánh An) hàng ngày xuất đi TP Hồ Chí Minh chừng 3 tấn cá khô. Ở đây, có hàng mấy chục hộ làm nghề thu mua cá và gia công sơ chế, phơi, xuất cá khô đi khắp nơi, sang đến tận cả Trung Quốc! Xe tải ở xã Khánh Bình gần đấy, hàng ngày cũng chở về Cần Thơ, TP Hồ Chí Minh không dưới 10 tấn ốc!
 
Chúng tôi đến giồng Cây Da vào buổi chiều khi nắng đã xế bên kia dòng sông biên giới. Nơi đây là một giồng cát cao có nhiều cư dân sinh sống lâu đời. Dấu tích của đại ngàn hoang dã xa xưa còn sót lại là một cây da cổ thụ mà 18 người nối nhau ôm mới hết. Tàn lá xum xuê, rễ phụ lòng thòng rũ xuống, vài hốc cây bị mục ruỗng sần sùi, trông cây đa vừa uy nghi, vạm vỡ vừa thâm u, bí ẩn như một người khổng lồ dang tay sừng sững giữa trời… Cạnh gốc cây đa cổ quái ấy có cái miếu nhỏ thờ ông Tà là vị thần cai quản nơi ao hồ, núi non, sông suối… Chiều ở giồng Cây Da thanh bình và tĩnh lặng. Vài bác nông dân chễm chệ trên lưng trâu về làng, mấy em bé tóc như râu ngô, mắt đen láy đứng trên nhà sàn nhìn chăm chăm khách như muốn hỏi chúng tôi từ đâu đến!
 
Dù là đang vào mùa nước nổi nhưng những cánh đồng ở Khánh An, Khánh Bình, Nhơn Hội vẫn khô ráo do có đê bao chống lũ kiên cố. Chính quyền, ngành chức năng là những người điều phối, xả nước lũ vào đồng ruộng khi cần thiết. Bắp lai được nông dân trồng rất nhiều ở đây. Đang là mùa thu hoạch bắp nên đi đâu ta cũng thấy rất nhiều bắp khô lột vỏ phơi thành từng đống lớn vàng nghính hai bên đường hoặc trước sân nhà.
 
Sau một đêm vui thú ẩm thực và ngủ lại tư gia của nhà thơ Trần Biên Thùy (Hội VHNT An Giang) ở Khánh An, buổi sáng khi sương mờ còn bảng lảng trên những cánh đồng bắp bạt ngàn của cù lao An Phú, chúng tôi lại lên đường đến một thắng cảnh độc đáo ở miền biên viễn xa xôi hẻo lánh của ĐBSCL- ấy là búng Bình Thiên- một địa danh gợi sự tò mò cho nhiều khách du lịch.
 
Có nhiều đường đến búng Bình Thiên nhưng nếu đi đường đất qua những xóm quê còn hoang sơ, vắng vẻ sẽ cho bạn nhiều cảm xúc hơn!
 
Búng (hồ) Bình Thiên nằm giữa 3 xã biên giới Khánh Bình, Khánh An và Nhơn Hội thuộc huyện An Phú, tỉnh An Giang.
 
Truyền thuyết dân gian kể rằng, ở cuối thế kỷ XVIII, vào một mùa khô hạn gay gắt, khi hành quân qua đây- Võ Văn Vương- một viên tướng của nhà Tây Sơn đã dâng lễ vật, cúng trời đất để tìm nguồn nước cho binh sĩ đang khô khát. Khi ông rút gươm đâm xuống đất thì có một dòng nước trào lên đọng thành hồ nước trong vắt. Từ đó, hồ nước được người dân đặt tên là búng Bình Thiên hay còn gọi là hồ Nước Trời.
 
Hồ Nước Trời có độ sâu trung bình khoảng 4m, diện tích mặt nước vào mùa nước cạn có hơn 200ha, vào mùa nước nổi lên đến 900ha, đặc biệt không bao giờ cạn. Búng Bình Thiên được coi là hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất Tây Nam Bộ. Trước đây, búng Bình Thiên là một túi cá tự nhiên có sản lượng rất phong phú, dồi dào, đa dạng về chủng loại. Ngày nay do đánh bắt bừa bãi, nguồn cá thiên nhiên cạn kiệt, người làm nghề hạ bạc phải vất vả đi xa tìm nguồn cá. Hiện trên búng Bình Thiên vẫn còn các hoạt động đánh bắt cá bằng thủ công như chài, câu, lưới, đăng, lọp, đó… Những chiếc thuyền của ngư dân nhỏ nhoi giữa mênh mông biển nước xanh rờn, trong làn sương mai buổi sớm hay lững lờ trong bóng chiều hoàng hôn sông nước sẽ cho khách du lịch nhiều cảm xúc lãng mạn!
 
Dọc theo bờ búng Bình Thiên có những xóm người Chăm với bản sắc văn hóa độc đáo. Du khách sẽ gặp vài thánh đường Hồi giáo với kiến trúc đặc trưng Tây Nam Á rải rác đó đây- mái vòm tròn đầu vuốt nhọn, cửa hình chữ U ngược, cột hình khối lăng trụ có tháp bầu tròn nhiều mặt,… Không thấy các biểu tượng sinh phồn thực, bởi cộng đồng người Chăm ở đây theo đạo Hồi, họ có xuất xứ từ Chân Lạp, xưa kia là con cháu của những nhóm người Chăm ngày trước đi theo các tướng quân Lê Văn Đức, Doãn Uẩn, Trương Minh Giảng, sau khi nhà Nguyễn cho rút quân khỏi trấn Tây Thành (Nam Vang). Cuộc sống sinh hoạt của cộng đồng người Chăm có sắc thái riêng, qua tập quán, lối sống và các lễ hội truyền thống. Ngành nghề chủ yếu của người Chăm (An Giang) là nông nghiệp, sản xuất thủ công, đánh bắt thủy sản, một số khác đi buôn bán khắp các nơi mà ta thường gọi là người “Chà Châu Giang”…
 
Thường cuối tháng 8 nhằm vào tháng ăn chay Ramadam diễn ra nhiều lễ hội đặc sắc, những năm gần đây “Lễ hội mùa nước nổi” được tổ chức khá hoành tráng ở búng Bình Thiên với sự tham gia hào hứng của rất đông khách địa phương và các nơi khác đến tham quan.
 
Buổi khai mạc lễ hội diễn ra trên những chiếc xuồng, chiếc ghe… Sân khấu là một mặt bằng gỗ phẳng, đóng dính vào 2 chiếc ghe có thể di động. Phông nền là cảnh vật thiên nhiên cùng với lục bình ngay dưới mặt sông. Những nghệ sĩ dân gian chèo xuồng chậm ra từ hai bên, họ đứng trên sàn lần lượt biểu diễn những câu hò, điệu lý giao duyên của gái trai, những câu vọng cổ kể về cuộc sống tình yêu và cuộc mưu sinh trên đồng nước, những điệu múa uyển chuyển của những cô gái Chăm xinh xắn trong trang phục dân tộc với đôi mắt xa xôi bí ẩn như xứ sở Ngàn lẻ một đêm… Lịch sử nền văn hóa sông nước được tái hiện qua các loại hình văn nghệ dân gian hấp dẫn mang đầy bản sắc.
 
Những cô gái Chăm trước thánh đường Hồi giáo.
 
Cuối buổi khai mạc là lễ diễu hành của thuyền hoa trên mặt nước búng Bình Thiên. Những chiếc thuyền được tạo hình thành rùa; tôm; các loại cá: hô, bông lau, sặt… Trên bờ, dọc ven hồ là những hàng quán náo nhiệt bày bán đồ lưu niệm cùng các lều trại phục vụ ăn uống đông đúc người qua lại. Đua thuyền, bơi lội, bắt vịt là những trò chơi dân gian, những hoạt động thể thao hấp dẫn, sôi nổi.
 
Theo truyền thống tỉnh An Giang, huyện An Phú đã có dự án xây dựng cơ sở hạ tầng quanh búng Bình Thiên với diện tích 702ha, vốn đầu tư 1.000 tỷ đồng phục vụ cho du lịch sinh thái đồng thời phát triển kinh tế biên giới. Cửa khẩu Long Bình là nơi có đường bộ đến Pnom Penh gần nhất (70km), Đường tỉnh 956 được mở rộng sẽ mở ra một hướng phát triển mới cho huyện đầu nguồn An Phú.
 
Dọc làng Chăm ở búng Bình Thiên có nhiều quán “cóc sàn” khá lạ mắt. Quán được làm theo kiểu nhà sàn ven sông, giữa ruộng hay trên đầm nước. Khách ngồi xếp bằng và quây quần với nhau ăn uống thật vui vẻ, ấm cúng! Chủ quán là những nông dân, vì vậy, các món ăn mang đậm chất dân dã, rẻ đến bất ngờ nhưng ngon miệng. Đặc sản vùng đầu nguồn mùa này có cá linh, lươn, rùa, rắn, ếch, ốc rất dồi dào ở các chợ. Bông điên điển và bông súng là hai món “phụ gia” rất phổ biến trong mùa nước nổi. Hiện cá linh tại chợ Khánh An chỉ có 20.000 đ/kg, lươn đồng 80.000 đ/kg. Bún nước lèo cá lóc bán buổi sáng ở xóm Chăm chỉ 5.000 đ/tô. Bánh khọt, một đĩa 6 cái chỉ 3.000đ có kèm rau sống tươi ngon. Bánh xèo “nhưn” bông điên điển 3.000 đ/cái. Bún đầu cá 5.000đ/tô ăn với rau nhút đồng cắt khúc trụng chín, nêm bằng rau răm… hít hà đến quên thôi!
 
Đến với đầu nguồn sông Hậu mùa lũ là chuyến đi không thể bỏ qua được nếu như bạn đã du hành về với ĐBSCL.
Theo ĐẶNG HOÀNG THÁM (Vĩnh Long Online

Tiếng thơm nem Phùng

Mỗi khi đọc hai câu thơ “Nem Phùng ăn với lá sung/ Cho người tứ xứ nhớ nhung một thời” tôi lại muốn được trở lại ngay thị trấn Phùng, huyện Đan Phượng - Hà Nội để được thưởng thức món nem nức tiếng đất Hà thành.


Không hẹn, vậy mà khi đến thị trấn Phùng chúng tôi đã được gặp ông Bùi Ngọc Thái - người có gần 50 năm gắn bó với nghề làm nem. Chính ông và người dân nơi đây đang giữ cho món ăn truyền thống địa phương mãi thơm.
 
Đến cửa hàng nem Phùng gia truyền hiệu Thái Cam ở phố Nguyễn Thái Học, thị trấn Phùng đã gần chính ngọ, thế nhưng không khí làm việc ở đây vẫn rất sôi động. Người thì vội vã trộn bì lợn, thịt nạc, thịt mỡ đã thái với thính gạo và gia vị, người thì thoăn thoắt gói nem phục vụ hơn chục thực khách đang đợi mua về kịp bữa trưa. Ngưng tay, trời đã trưa, nhưng chủ cửa hàng giúp chúng tôi tìm hiểu về nghề làm nem, cách thưởng thức nem...
 
Ông Bùi Ngọc Thái chậm rãi: “Nghề làm nem của gia đình tôi có khoảng 100 năm nay. Vào đầu năm 1920 của thế kỷ trước, ông nội tôi là cụ Phó Hội mở một quán cơm bình dân tại thị trấn Phùng. Để phục vụ thực khách, ngoài các món ăn bình dân, cụ tôi làm thêm món nem thính gồm bì lợn, thịt lợn thái nhỏ trộn với thính và gia vị rồi quấn với lá sung khi ăn. Món ăn mới của cửa hàng vừa ra mắt đã thu hút được rất nhiều thực khách để ý, nhất là cánh mày râu. Nhu cầu sử dụng tăng bởi chất lượng của món ăn nên dần dần cụ chuyển sang nghề làm nem bán. Và cái tên nem Phùng bắt đầu có từ đó (món ăn được đặt gắn với tên địa phương). Cha truyền, con nối, từ cụ tôi, bố mẹ tôi, đến vợ chồng tôi và nay là con trai, con dâu tôi đều làm nghề này”.
 
Ông Thái với công đoạn cuối cùng là gói nem.
 
Khi được hỏi bí quyết để có món nem ngon, ông Thái chia sẻ: “Đây là món ăn dễ làm, tuy nhiên để ngon và hấp dẫn thực khách thì lại không đơn giản. Tất cả các công đoạn đều làm thủ công nên người làm phải cẩn thận, sạch sẽ; chọn nguyên liệu phải chọn thịt tươi, ngon, thính rang phải thơm thì khi trộn mới cho món nem ngon”.
 
Khác với một số thứ hàng hóa phải mang ra chợ tiêu thụ, nem của gia đình ông Thái và các gia đình ở thị trấn Phùng đều được bán ngay tại nhà. “Chúng tôi làm không vì lợi nhuận, thời gian gần đây giá thịt liên tục tăng nhưng gia đình tôi không tăng giá nem, cũng không ham rẻ mà mua thịt không ngon về làm. Sức khỏe của thực khách là quan trọng, nếu một lần đánh mất chữ tín sẽ không bao giờ lấy lại được” - ông Thái cho biết. Còn bà Nguyễn Thị Tuyết, chủ cửa hàng nem Phùng gia truyền Hải Phở cho biết, mỗi ngày gia đình bà làm 40kg nem để bán cho thực khách trong vùng. Vào ngày thứ bảy, chủ nhật lượng hàng có thể tăng lên 60-70kg nhưng tất cả đều bán tại nhà. Không chỉ bán lẻ cho khách hàng, cửa hàng còn nhận đặt đám cưới, hội nghị.
 
Việc giữ nghề tổ tiên và giữ cho thương hiệu nem Phùng mãi thơm đã và đang được các gia đình ở đây gìn giữ. Không chỉ có người trong huyện mà thực khách ở khắp các địa phương trong vùng đều tìm đến đây với mong muốn được một lần thưởng thức đặc sản này. Chị Nguyễn Thị Thảo ở phường Quang Trung, quận Hà Đông, công tác tại thị xã Sơn Tây - một khách hàng quen thuộc của cửa hàng nem Phùng Thái Cam bộc bạch: “Lần nào đi công tác qua đây tôi cũng cố ghé vào cửa hàng mua một vài gói nem mang về, vừa để gia đình thưởng thức, vừa để biếu anh em, họ hàng, bạn bè”.
Theo Đỗ Hà (Hà Nội Mới)

Tục kết hàng phe của người Nùng Chảo

Người Nùng Chảo ở bản Đồng 10, xã Tam Hiệp (Yên Thế - Bắc Giang) có một tập quán tốt đẹp được nhiều người biết đến đó là "tục kết hàng phe". Đây là tập tục được duy trì từ nhiều năm nay, thể hiện tinh thần tương thân tương ái trong cộng đồng người Nùng Chảo.

Xuất phát từ quan điểm chung của các tộc người từ xa xưa là mọi người sinh ra ai cũng phải chết, đó là sự mất mát không thể bù đắp. Vì vậy, gia đình họ cần được chia sẻ đau thương, giúp đỡ trong giờ phút đau buồn ấy. Từ đó, đã thúc đẩy mọi người trong bản tham gia kết phường để giúp đỡ gia chủ công việc của một đám tang.
Phường hàng phe có một người đứng ra để chủ trì, phụ trách giúp tang chủ lo công việc của đám tang được gọi là "Tầu phé". "Tầu phé" được luân chuyển theo tuần tự từng đám tang: gia đình có người chết của đám tang trước sẽ là "Tầu phé" của đám tang sau. "Tầu phé" phân công công việc giúp đỡ tang chủ cụ thể như: chăn trâu, cắt cỏ, thu hái mùa vụ...cho từng thành viên.
Nếu gia đình tang chủ gặp khó khăn về kinh tế, "Tầu phé" đứng ra vay bất cứ thành viên trong hội có điều kiện kinh tế khá giả để giúp cho tang chủ không phải lo lắng về tài chính cũng như mọi việc khác.
Xưa kia, trong hội có người chết được báo tang bằng tiếng súng lớn, ngày nay được thay bằng hồi kẻng. Ngay sau đó, các thành viên ở hội phe có mặt đầy đủ tại nhà tang chủ, tận tâm phục vụ đám tang cho đến khi đưa người quá cố đến nơi an nghỉ cuối cùng. Các buổi phục vụ mọi người đều về nhà mình ăn cơm.
Khi tang ma xong, mọi người tập trung về gia đình tang chủ để ăn bữa cơm với lời cảm ơn của tang chủ, đồng thời hội họp để rút kinh nghiệm cho những đám tang sau.
Nếu ai không tham gia đầy đủ các đám, thực hiện công việc giúp đỡ không nhiệt tình, thiếu trách nhiệm, làm hư hại, mất tài sản của gia chủ... thì bị nhắc nhở hoặc khi đến lượt nhà mình có tang cả hội không ai đến giúp đỡ.
Hy vọng rằng tục kết hàng phe sẽ tiếp tục được duy trì và ngày càng phát huy được ý nghĩa cao đẹp.
Theo K.D (Tây Ninh Online

Bắc Cạn: Tết bánh trôi, bánh chay

Cứ vào ngày mồng 3 tháng ba (âm lịch) hằng năm, tục lệ Tết Thanh Minh hay còn gọi là Tết Hàn thực được các dân tộc trên địa bàn toàn tỉnh Bắc Kạn có phong tục làm hai loại bánh trôi, bánh chay để thắp hương cúng Trời, Phật, gia tiên.

 
Đĩa bánh trôi được làm từ một hộ gia đình tại thị xã Bắc Kạn.
 
Những ngày này hầu hết gia đình nào cũng có đĩa bánh trôi, bánh chay để thắp hương. Còn những gia đình phải bận rộn công việc thì mua ở chợ, hoặc đặt người làm cho. Gia đình nào đông anh em có thời gian quây quần tụ họp thì vẫn giữ được truyền thống tự tay làm bánh.
Bánh trôi làm bằng bột nếp nhào nặn với nước, có nhân bằng đường phên. Gạo làm bánh trôi, bánh chay phải kén được nếp cái hoa vàng. Đường làm nhân bánh trôi ngon nhất là loại đường phên, những miếng đường vuông thành, sắc cạnh, đỏ thắm, rắn đanh và giòn, hương thơm mát. Sau khi bánh được nặn xong, bắt đầu thả vào nồi nước sôi.
 
Bánh chìm xuống rồi nổi lên, được ví như câu thơ của tác giả Hồ Xuân Hương như: “ba chìm bảy nổi, chín lênh đênh” thì vớt ra và ngâm trong nước lã đun sôi để nguội được khoảng 2-3 phút, rồi vớt ra bày vào đĩa.
 
Đĩa bánh trôi được rắc thêm mấy hạt vừng trắng rang thơm và những sợi dừa tươi, ít dầu chuối làm thơm ngậy đĩa bánh.

Còn bánh chay cũng làm bằng bột nếp nhào nặn với nước và cũng có nhân, nhưng khác với nhân bánh trôi bằng đường thì nhân của bánh chay lại làm bằng đậu xanh được nấu chín.
 
Đỗ để làm nhân bánh cũng phải là giống đỗ tiêu, hạt nhỏ, thơm, được hấp chín tới, giã mịn, trộn với đường kính trắng.
 
Bánh chay được đựng trong bát, chan thêm một chút chè đường quấy với bột đao hay bột sắn dây ướp hoa bưởi, tạo nên những chiếc bánh ngọt ngào của vị đường cùng hoà quyện với mùi thơm man mát của hương loài hoa bưởi.
Đây là hai loại bánh làm bằng một loại bột nếp, song lại có những hương vị đặc trưng riêng của mỗi loại bánh. Bánh trôi, bánh chay vừa dễ làm đối với nhiều người, nên được đồng bào Bắc Kạn nói riêng và cả nước nói chung đã coi hai loại bánh làm từ thứ bột gạo nếp thành món truyền thống dâng lễ cúng gia tiên trong ngày Tết Thanh Minh hằng năm của nhân dân.
Theo Bích Ngọc (Bắc Kạn Online

Có chăng đêm động phòng của người K’ho?

Đám cưới của đồng bào K’ho, xã La Ngâu, huyện Tánh Linh bây giờ không khác gì đám cưới của người Kinh. Cũng áo xống, váy dài váy ngắn, nhạc đệm ì xèo. Tuy vậy, theo nhiều người già kể lại, đồng bào vẫn giữ một số tập tục riêng trong hôn nhân. Một chút tò mò, chúng tôi đi tìm tập tục riêng đó, chẳng hạn như đêm động phòng...

Ngồi nói chuyện với Bờ Đam Thị Hôm và anh Roòng Đêm ở buôn Tà Pạt, xã La Ngâu trong một buổi chiều trời mưa. Đúng là dạo này đang vào giữa mùa mưa, mưa ở vùng cao có khi kéo dài nhiều ngày, lướt thướt hơn miền xuôi rất nhiều. Tôi đặt vấn đề  tìm hiểu  tập tục cưới hỏi của đồng bào K’ho, vợ chồng chị Hôm nói là sẵn sàng trả lời mọi câu hỏi mà tôi đưa ra.
Năm 1977, Bờ Đam Thị Hôm 13 tuổi, thấy con gái đã lớn, cha mẹ làm cho một phòng riêng. Hàng ngày theo cha mẹ lên rẫy, Hôm thường hay gặp và nói chuyện với Roòng Đêm, là một thanh niên hơn mình 5 tuổi, mạnh khỏe, siêng năng, nói chuyện cũng vui vui, Hôm thấy có cảm tình.
Năm 1979, trong một buổi tối Roòng Đêm tới nhà chơi, Hôm nói Đêm ngủ lại cho vui. Đó chính là đêm tân hôn của đôi vợ chồng trẻ.
Đêm đó Hôm mặc váy, trên ngực khoác tấm chăn. Hai người nằm tâm sự, họ nói với nhau nhiều chuyện nhưng chung quy chỉ là những lời tràn ngập tình yêu trai trẻ. Mặc dù trong bụng rất ưng đụng vào người của Đêm, nhưng Hôm không dám do “sợ người ta đánh giá” - Bờ Đam Thị Hôm nói với tôi như vậy.
Đêm đó, hai người đã thực hiện chức năng giữ gìn nòi giống của loài người như mọi dân tộc khác. Hôm ngủ dậy trước Đêm và không quên lấy đôi dép của Đêm cất vào trong chiếc rương của mình.

Đám cưới vùng cao
Sáng hôm sau, khi Đêm đã về nhà của mình, Hôm lấy đôi dép đưa cho cha mẹ của mình xem, sau đó đưa đến cho người cậu ruột để thông báo vật chứng của việc anh Đêm là người con trai đã ngủ với mình.
Người cậu cầm vật chứng đến nói với  người nhà của Đêm. Nhìn đôi dép, mọi người đều công nhận đó là  của Đêm. Cha, mẹ và cậu của Đêm đồng ý cho Hôm bắt Đêm về làm chồng, nhưng muốn bắt thì phải nộp lễ vật gồm: một con heo 2 đòn khiêng (4 người khiêng), hai ché rượu cần, 25 lá khăn, hai con gà trống.
Năm 1979 là năm mà cả nước đều đói kém, nhà của Hôm cũng khổ như mọi gia đình khác. Dù rất thương cháu gái của mình, nhưng đời sống quá khó khăn, nên người cậu đến nói với nhà trai xin làm lễ “ bắt” thằng Đêm về làm chồng con Hôm nhưng xin làm lễ nhỏ để đãi bà con họ hàng gồm một con heo nhỏ hai tay (vòng hai bàn tay phía sau chân trước con heo) và một con gà trống.
Vợ chồng Hôm và Đêm sống với nhau đến năm 1986, lúc đó đã có năm đứa con, hai người mới tổ chức đám cưới với số lễ vật đúng như đã hứa với nhà trai. Chi phí đám cưới đều do hai vợ chồng làm mà có.
Thực ra, trước đó theo tập tục,  con gái K’ho muốn bắt con trai về làm chồng, phải đến nhà trai ở  một thời gian theo thỏa thuận, có thể ba năm, năm năm hoặc mười năm.
Trong thời gian đó, hai người không được ngủ với nhau. Nếu tự ý ngủ sẽ bị buôn làng  phạt rất nặng. Hết thời gian ở nhà trai, cô gái được quyền ngủ với người con trai ở phòng riêng của mình, rồi thông báo bắt chồng và phải nạp lễ vật theo đúng yêu cầu của nhà trai. Nếu không có đủ lễ vật cũng được quyền bắt nhưng “ xin nợ” đến khi có đủ mới nộp cho bà con nhà trai.
Không hiểu tập tục người con gái phải lấy vật chứng  của người con trai trong đêm đầu tiên làm vợ, làm chồng có từ bao giờ, nhưng đến nay bà con dân tộc K’ho ở xã La Ngâu vẫn giữ. Vật chứng là những đồ dùng hàng ngày của người con trai như: nhẫn, đồng hồ, cái áo, đôi dép…
Hình như  những thế hệ trước đây dù không đuợc đi xa, khỏi cái làng mé núi, nhưng họ cũng hiểu được tính pháp lý trong việc sử dụng vật chứng.
Theo một số người lớn tuổi kể lại, đã từng xảy ra trường hợp anh con trai “xù” bằng cách chối bay, chối biến việc đã ngủ với cô gái khi cô gái quên lấy bằng chứng. Còn nếu người con trai công nhận đã ngủ với cô gái nhưng không chịu cho bắt, sẽ bị buôn làng phạt rất nặng (thường là trâu, heo, rượu cần). Nếu không chịu nộp phạt sẽ khó sống yên với buôn làng.
Anh Phạm Đình Sang, người Kinh, sinh năm 1955 quê ở tận Cần Thơ ra làm rẫy rồi quen và được chị Lê Thị Hơn – dân tộc K’ho ở buôn Tà Lốp, xã La Ngâu bắt về làm chồng.
Anh chị đã có với nhau ba đứa con gái. Dù là người Kinh nhưng anh Sang vẫn phải sống theo đúng tập tục của quê vợ. Con gái anh chị là Lê Thị Phới, sinh năm 1992, Phới bắt chồng năm 2007, đến nay đã sinh được một đứa con gái.
Phới thật thà kể với tôi: “ Sau đêm ngủ chung, cháu lấy của chồng cháu một cái đồng hồ. Khi cháu đưa cái đồng hồ cho bà con của anh coi, ai cũng biết của anh ngay. Khỏi chối cãi gì hết”. Phới nói xong, cả hai vợ chồng ôm nhau cười nghiêng ngã. Tôi cũng góp thêm vài câu đùa giỡn cho câu chuyện thêm vui.
Theo tôi được biết, hầu như bà con dân tộc K’ho ở xã La Ngâu chưa bao giờ biết hoặc nghĩ tới chuyện ly hôn. Cho dù cuộc sống ở vùng cao đã có nhiều thay đổi theo hướng văn minh, hiện đại và vẫn còn vất vả  nhiều. Nhưng tất cả những điều đó không làm thay đổi lòng chung thủy vợ chồng của bà con dân tộc K’ho nơi đây. Đó cũng là điều đáng mừng do họ biết sống và tuân thủ  luật tục tốt đẹp, lâu đời của dân tộc mình.
Theo Trần Duệ (Bình Thuận Online

Dưới chân Ô Tà Sóc…

Ai đã từng có dịp ghé thăm Ô Tà Sóc (xã Lương Phi, Tri Tôn, An Giang), ngồi uống nước trong một quán cóc, nghe nước suối chảy róc rách dưới chân, mới thấm hết cái yên bình của nơi này. Lân la hỏi vài ba câu về cuộc sống của người dân ở đây, tôi mới vỡ lẽ: Bình yên như thế, nhưng nhọc nhằn vẫn in dấu trên mỗi con người. Dựa lưng vào núi mà sống, có mấy khi an nhàn…

Phong cảnh Ô Tà Sóc còn hoang sơ, thơ mộng.
Người dân địa phương quen gọi mấy nóc nhà dưới chân núi Ô Tà Sóc là bến chuối, do trước đây là bãi tập kết chuối bán cho bạn hàng, cũng là nơi nghỉ chân của nhiều loại khách: Khách tham quan, khách du lịch, khách… nghèo. Nhưng có lẽ, chiếm đông nhất vẫn là loại khách cuối cùng. Nói là khách cho sang, chứ họ là dân lao động, dân địa phương nhà trên núi, qua lại mưu sinh từng ngày.
Sà vào quán, leo lên võng nằm, kêu ly cà phê đá và gói thuốc, anh Nguyễn Hữu Phước (38 tuổi) cảm thấy khỏe hơn khi đã trốn được cái nắng oi nồng ban trưa: “Nắng quá, từ trên núi xuống chịu không xiết! Nhưng được cái là dạo này trời hay mưa, nên cũng không đến nỗi nào”.
Rồi anh kể cho chúng tôi nghe chuyện đời mình và những người ở đây. Đa số đều từ nơi khác đến, do muốn vứt cái đói nghèo sau lưng, họ quyết tâm đến Ô Tà Sóc lập nghiệp.
“Lúc trước vợ chồng tui ở Châu Phú, không có đất đai, tài sản chỉ là hai đứa con. Bàn tính kỹ, cả nhà cố gắng mua hơn 7 công đất trên núi, với giá 11 triệu đồng, rồi dựng tạm mái nhà, bỏ công sức khai hoang, trồng rẫy. Biết là cuộc sống sẽ cực, nhưng rồi mình cũng vượt qua, chứ ở đồng bằng cũng có hơn gì đâu. Nông dân mà chẳng có đất, khổ trăm bề!”. Vậy là, 7 công đất của anh được trồng theo công thức “lấy ngắn nuôi dài”: Trồng đậu rồng, rau cải, chuối… để ăn qua bữa, còn cây lâm nghiệp, xoài thì vun vén từng ngày.
Nếu thiên nhiên miền Nam chia ra hai mùa rõ rệt, thì nhịp sống nơi đây cũng thế. Mùa mưa xanh cây tốt lá, người mua bán nườm nượp, tất tả nhưng có miếng cơm ngon, bởi rẫy lên tươi tốt, hầu như ngày nào cũng thu hoạch để gánh xuống núi bán. Còn mùa nắng, cái nóng dội lên từng phiến đá, hắt lên trên từng mảnh đời cơ cực. Hơn 20 hộ dân nơi đây phải bươn chải đủ việc: Gánh củi, gánh xoài… theo yêu cầu của người mua hàng.
Oằn lưng gánh hàng xuống núi.
Cũng phải nói thêm, giống như núi Cấm, gánh thuê cũng trở thành “đặc sản” nơi đây. 2km đường núi từ chân lên đỉnh Ô Tà Sóc đầy hiểm trở, cheo leo, nhưng không thể cản được bước chân con người.
Chị Nguyễn Thị Bé Năm, 30 tuổi, người sống gần chót đỉnh cho chúng tôi biết: “Gánh hàng vất vả lắm, nhưng ở đây ai cũng phải làm. Nhẹ nhẹ thì 60kg, nặng thì hơn 100kg. Con nít 15, 16 tuổi cũng có thể gánh phụ hơn 30kg mỗi bận. Sức đàn ông khỏe mạnh thì từ 7 giờ sáng tới 2 giờ chiều cũng chỉ gánh được 3 gánh. Giá rẻ, mình không ráng gánh nhiều lần thì đâu có tiền. Chưa kể, mỗi lần xuống núi lại phải nghỉ mệt, uống nước, hoặc ăn chút gì đó lấy sức”.
Thấy tôi há hốc miệng khi biết giá gánh thuê chỉ 500 đồng/kg, chị cười: “Có hàng gánh là mừng lắm rồi, tụi tui chỉ mong vậy thôi”. Tính ra, tối đa một ngày họ có thể kiếm được khoảng 100.000 đồng.
Thấy tôi nhẩm tính như thế, chị Nhứt, chủ quán nước nói với ra: “Cuộc sống ở đây là vậy đó. Đường lên xuống núi chỉ đi mình ên còn mệt đứt hơi, huống chi là gánh nặng! Tui bán quán nước này lấy tiền cũng rẻ, chủ yếu là cho bà con nghỉ ngơi thôi. Ly nước giá 2.000-3.000 đồng, vậy mà nhiều khi họ cũng hổng có tiền uống…”. Tiếng nói của chị xa dần, khi chị thoăn thoắt bưng nước ra cho mấy người đàn ông mới xuống núi.
Học sinh xuống núi đi học cùng gà-mên cơm.
Dưới chân Ô Tà Sóc tôi còn nghe nhiều chuyện rất đặc trưng của người dân. Không có điện, họ sử dụng bình ắc- quy. Không có nước, họ cùng nhau chuyền dây từ mạch suối trên núi xuống, ngọt lành đến lạ. Con nít (đặc biệt nhiều ở khu vực này, chắc trên 30 đứa!) 5 giờ sáng rọi đèn pin đi học, tay ôm cặp, tay xách theo gà – mên cơm tới trường, chiều tối mới lọ mọ về nhà. Xe máy, xe đạp của mọi người cứ tập trung gửi ở quán nước, bảo đảm không mất (mà mất gì được mấy chiếc xe cà tàng, cũ kỹ?).
Mọi người sống dựa vào nhau, như đã dựa vào núi vậy, bởi trong cái khổ, tình người càng trở nên ấm áp. Nhà nào càng ở trên cao thì càng… nghèo (vì nếu có tiền đã mua đất ở dưới chân núi cho tiện), chỉ có thể sống khỏe khi mảnh đất trồng cây lâu năm cho thu hoạch.
Anh Phước giúp tôi kết thúc bài viết này bằng câu nói: “Tui và mọi người ở đây cũng xác định sẽ bám trụ lâu dài với mảnh đất của mình, ráng một thời gian nữa sẽ khá lên thôi. Vả lại, ở ngay trên ngọn núi anh hùng, ai cũng rành lịch sử đấu tranh của quê hương hết, cũng tự dặn mình phải sống thật vững vàng như cái thời cha anh đi trước”.
Theo KHÁNH HƯNG (An Giang Online)

Cách làm đẹp của đồng bào M’nông xưa

Theo bà Thị Dêr ở bon Bu Prâng 1, xã Quảng Trực (Tuy Đức) thì từ xa xưa, người M’nông đã biết tận dụng những sản vật từ thiên nhiên để làm “mỹ phẩm” nhằm làm đẹp cho mình, nhất là phái nữ. Ví dụ như để có son tô môi đỏ, má hồng, bà con thường ra con suối cạnh nhà kiếm những viên đá có màu đỏ về mài thành nước, sau đó nấu cô đặc hoặc lên rừng tìm lá cây pun về giã nhuyễn, trộn với một số lá cây khác tạo nên 1 chất sền sệt, màu hồng và bóng.

Để nhuộm lông mày thì lấy chất nhựa màu đen trong tẩu thuốc. Hoặc là dùng trái của cây play pêl (giống trái bồ kết) về nấu nước gội đầu cho mái tóc mềm mượt, đen nhánh; dùng lá cây tơm y biên giã nhuyễn, quấn vào đầu ngón tay rồi hơ lên lửa, làm nhiều lần như vậy móng tay sẽ hồng hào hơn...
 
Bà Thị Dêr và Thị Biăt còn nhớ cách làm đẹp của dân tộc mình

Quan niệm của người M’nông xưa về vẻ đẹp trên khuôn mặt của con người là phải “cà răng, căng tai”. Bà Brao ở cùng bon Bu Prâng 1 cho biết: “Bà con ra suối tìm những viên đá nhám, sau đó về mài răng, mài ngày này sang ngày khác, lúc nào cảm thấy đều và nhẵn đến tận chân răng mới thôi. Sau khi cà răng, chị em lên rừng kiếm cây krai về đốt và lấy tro bôi vào chân răng để nhuộm đen răng.
 
Về tục căng tai thì già làng Điểu Đ’răng ở Bu Prâng 1cho biết: “Đối với đồng bào M’nông ngày trước, ai chưa qua tục căng tai thì không những không có quyền kết hôn mà còn bị phân biệt đối xử trong sinh hoạt hằng ngày, phải luôn đi sau mọi người, khi chết không được về với ông bà tổ tiên, còn cha mẹ mang tiếng chưa tròn nghĩa vụ đối với con cái. Do đó, ngày trước, tất cả trai gái trong bon làng đều phải căng tai để không chỉ làm đẹp cho khuôn mặt mà còn là cách để phô trương thân thế, sức mạnh của mình trước cộng đồng.
 
Đồng bào còn lưu truyền những câu nói vần về tục căng tai này: “Nơi tay trái phải có vòng tẻ/ Nơi cổ tay phải đeo xâu hạt cườm/ Hai gò má phải đeo ngà voi/ Có như vậy mới là người sang trọng...”.
 
Còn theo lời kể của bà Thị Biăt ở bon Bu K’rắk, xã Quảng Trực thì tục căng tai được tiến hành khi đứa trẻ còn nhỏ, người ta lấy gai của cây chanh hoặc gai bưởi cạo sạch vỏ và dùng nước sôi nấu gừng bóp dái tai cho thật mềm trước khi xâu lỗ tai.
 
Để có lỗ tai đẹp và to tròn thì phải xâu đúng kỹ thuật, ngay chính giữa dái tai. Sau khi xuyên qua, cứ để nguyên cây gai dính vào tai, mỗi ngày đều phải rửa tai bằng nước sôi nấu gừng. Khi tai hết chảy máu và vết thương đã thật lành lặn thì bắt đầu vặn cây gai vào dần và cho đến khi nào lỗ tai to mới thôi.
 
Bà Thị Biăt nói: “Đồng bào quan niệm rằng, vòng tai càng rộng càng tốt, càng đẹp, càng quý phái và sang trọng. Chỉ nhìn hai bên tai đeo những thứ gì là có thể biết được người đó thuộc tầng lớp nào trong xã hội, giàu hay nghèo. Do đó, để được “đẹp”, người ta đã lấy những khoanh ngà voi đủ độ nặng để đeo vào tai, qua thời gian sẽ làm vòng tai rộng ra…”.
 
Theo Mỹ Hằng (Đắk Nông Online)

Tín ngưỡng đa thần và phong tục tập quán của người M’nông, Đắk Lắk

Người M’nông được các nhà nghiên cứu trong nước và ngoài nước chú tâm nghiên cứu bởi họ được coi là một tộc người bản địa, cư trú lâu đời tại vùng đất Nam Tây Nguyên (hay còn gọi là cao nguyên M’nông). Nền văn hoá của dân tộc này còn bảo lưu nhiều yếu tố cổ Đông Nam Á lục địa.
Người M’nông là tộc người còn tồn tại niềm tin và tín ngưỡng đa thần. Họ tin có sự ngự trị của thế lực siêu nhiên chi phối cuộc sống của con người và là yếu tố hình thành những phong tục, tập quán của dân tộc. 
Người M’nông tin rằng thần linh trú ngụ khắp nơi: Thần ông bà tổ tiên phù hộ cho gia đình; thần đá bếp giữ lửa ấm, nấu ăn; thần rừng (Bõ Krõng) nuôi chim thú cung cấp lương thực cho người; thần núi (Yôk Nor); thần vũng nước sâu (Dak klõng); thần đầu suối, đầu thác (Tu diăng liăng têh) giữ nguồn nước cho làng; thần lúa và thần hoa màu cho vụ mùa bội thu, cây cối tươi tốt; thần sét ở trên trời sẵn sàng trừng phạt nếu người làm điều xấu như loạn luân; thần đất nắm hết mọi vấn đề xảy ra trên mặt đất; thần Nguăch Ngual là thần chăm voi, khi bắt voi rừng về nuôi hoặc bắn voi rừng phải cúng đủ lễ cho thần Nguăch Ngual; Phan (tin hồn người chết). Người M’nông tin một con người có hai linh hồn: linh hồn con trâu ở trên trời, và linh hồn con nhện ở trên đất, ma quỷ muốn hại cho người chết chỉ cần bắt hồn trâu trên trời làm thịt là người ở dưới này sẽ chết, hoặc muốn cho người ốm đau chỉ cần bắt hồn con nhện đem nhốt. Hồn trâu chết, hồn nhện còn sống thì người chưa chết, cả hồn trâu và hồn nhện chết người mới chết. Đồng bào cũng tin có thần chiêng, ché. Nhà nào có hồn chiêng ché ở cùng thì nhà đó mua được nhiều chiêng ché. Trên không trung bao la có ngự trị của thần mặt trời soi sáng bon làng.
Trong xã hội M’nông, người già, già làng (cua ranh bon) được coi trọng. Chủ làng xem dân bản như con cháu trong nhà, bảo vệ quyền lợi chính đáng của mỗi người dân. Ông ta là người ngay thẳng không nghiêng về phía nào, khi có kẻ xấu bên ngoài gây hấn làm cho dân bản oan ức, tổn hại thì chủ làng sẵn sàng đứng ra bênh vực, bảo vệ và tổ chức đánh trả hoặc bắt phạt xứng đáng. Mọi thành viên trong cộng đồng đều tuân thủ luật tục (duôih). Những việc tranh chấp, mâu thuẫn giữa các gia đình, dòng tộc, hàng xóm, giữa làng này với làng khác cũng đều giải quyết theo luật tục và người đứng ra phân xử phải công minh, am hiểu phong tục, tập quán và luật tục đứng ra xử phạt, dàn xếp, hòa giải giữa hai bên gọi là bu nuih phat duôih. Người M’nông có tinh thần cộng đồng, tương thân tương ái rất cao. Luật tục qui định các thành viên trong cộng đồng phải giúp đỡ nhau trong sản xuất nương rẫy, làm nhà cửa, chia sẻ trong gian khó, hoạn nạn. Khi tổ chức lễ hội, cúng kiếng thường mời nhau đến ăn uống. Săn được chim, thú lớn, đánh bắt được tôm cá nhiều đều phải phân chia theo bình quân đầu người trong bon để cho bà con, anh em cũng hưởng.
Từ niềm tin, tín ngưỡng đa thần, đồng bào có nhiều hình thức kiêng cữ phức tạp và nhiều nghi lễ, lễ hội cúng bái, ngưỡng vọng thần linh, cầu mong giúp đỡ cho cuộc sống của con người, cộng đồng. Hệ thống nghi lễ, lễ hội của dân tộc M’nông phản ánh rõ thế giới quan sơ khai về thiên nhiên và xã hội. Lễ nghi liên quan đến con người diễn ra theo chu kỳ vòng đời người, từ khi mang thai, sinh ra, lớn lên, trưởng thành, về già cho đến khi từ giã cuộc đời. Lễ hội vòng đời người mang tính nhân văn cao đẹp, đặc biệt là lễ trưởng thành, lễ cưới, lễ chúc phúc, lễ mừng thọ… Trong lễ cưới, hai bên gia đình nam nữ phải tổ chức kể gia phả (ro giao) để tránh trường hợp lấy nhau cận huyết thống. Là cư dân sinh sống chủ yếu bằng nghề canh tác nương rẫy, trồng lúa nên lễ hội nông nghiệp cũng bám theo chu kỳ sinh trưởng của cây lúa rẫy. Những nghi lễ cúng bái, xin phép thần linh trong phát rẫy, tra hạt, gieo trồng, cầu mong cây lúa lên tốt tươi, trổ đòng chắc hạt, trĩu bông cho vụ mùa bội thu. Họ tin rằng nhờ cúng bái nên thần lúa, mẹ lúa phù hộ, chẳng những cho lúa gạo, hoa màu để ăn mà còn mang đến sự bình an, khỏe mạnh cho gia đình.
Trước khi đem hạt giống ra rẫy trồng tỉa phải cúng tưới lúa (tõ ba). Khi lúa vào kho, đồng bào rước hồn lúa (huênh ba) về nhà và cúng ăn mừng lúa mới. Năm nào được mùa thu được trăm gùi lúa, đồng bào sẽ “ăn trâu” để cúng tạ thần linh qua lễ hội tâm ngết.
K.D (st)

Dân ca - tài sản văn hoá tinh thần của người Thu Lao ở Lào Cai

Nhóm dân tộc Thu Lao có tên gọi là Thổ Lão, là nhóm Tày Cổ. Được xếp vào dân tộc Tày, nhưng nhóm dân tộc Thu Lao mang nhiều sắc thái văn hoá riêng. Cũng như hầu hết các dân tộc khác, văn học dân gian của người Thu Lao được hình thành trong đời sống cộng đồng, lưu truyền bằng hình thức truyền khẩu và mang đậm tâm tư, tình cảm, nếp sống, nếp nghĩ của người Thu Lao. Thời gian trôi qua, có những truyền thống cũ đã bị thay thế hoặc biến đổi cho phù hợp với hoàn cảnh mới, song văn học dân gian Thu Lao muôn đời vẫn thắm thiết, ngọt ngào những tình cảm chân thật của những con người miền núi. Như những tư tưởng triết học, là cái nhìn sâu sắc của người dân Thu Lao trước hiện thực khách quan và đời sống tâm tình của con người.
Văn học dân gian Thu Lao gồm hai mảng chính: Truyện kể Thu Lao và Dân ca Thu Lao. Các loại hình dân ca Thu Lao (qua những tác phẩm đã tập hợp): Dân ca nghi lễ, phong tục gồm các bài cúng, các bài dùng trong các lễ hội…; dân ca trữ tình sinh hoạt gồm có các bài hát mang tính nghi lễ, song đậm chất trữ tình; các bài hát đối đáp giao duyên; bài hát lao động; các bài hát tâm tình xót xa như một lời than thân… và cũng có những khúc hát mang tình yêu Tổ quốc sâu lắng. Tất cả, dù có hát trong môi trường diễn xướng nào, dù hát về ai, về cái gì, hát ở trong thời kỳ nào, dân ca Thu Lao đều rất chân phương, giản dị nhưng chứa đựng tính nghệ thuật cao như bất kỳ một hình thức dân ca nào khác.
Người Thu Lao gọi hát là Kháo và có bốn mươi chín bài Kháo khác nhau đủ để thể hiện mọi khía cạnh đời sống. Và người Thu Lao hát ở mọi lúc, mọi nơi, đâu cũng là môi trường diễn xướng của họ: Hát trong lễ xin dâu, lễ cưới như: Sư lấu, kháo soi số (Hát khen giàu về đằng ngoại), kháo sói sú (Hát khen giàu về đằng nội)…; hát trong lúc làm ăn như Kháo ừn chẳng (Hát mùa xuân làm nương); hát khi đi chợ như Kháo khíu bằn dư (Rủ bạn gái đi chợ), các bài hát giao duyên ngày chợ thứ nhất, thứ hai… Xét về hình thức diễn xướng, có thể chia dân ca thành hai loại lời hát: lời hát đơn và lời hát đôi. Hát đơn là những bài hát thiên về nghi lễ hay dùng để bộc lộ tâm tư một cách thầm kín. Hát đôi chủ yếu là những bài hát được diễn xướng ở các nghi lễ phong tục hoặc trong các cuộc vui chơi của trai gái. Tuy nhiên, yếu tố trữ tình ở hai loại này là như nhau. Có thể hát đối đáp, hát chỗ đông người hoặc hát khi chỉ còn lại một mình. Khi bài hát đã được cất lên thì ai cũng có thể trở thành khán giả và ai cũng có thể trở thành người hát. Tiếng hát mang nặng tâm tình dù là các khúc hát mang tính nghi thức như bài hát giao duyên trong đám cưới, hay chỉ là những đoạn kể về cuộc sống, về sinh hoạt thường ngày. Người Thu Lao chỉ hát khi cảm xúc trong trái tim đã thật đầy, muốn tuôn ra để thỏa nỗi lòng. Có Giục hát (Kháo sùi) đấy, nhưng không ép hát bao giờ, vì người Thu Lao là vậy! Nhưng ai cũng muốn hát để đáp lại tình cảm của người giục hát. Như thế trao nhau lời hát là trao nhau tình cảm, sự tôn trọng và trân trọng văn hoá cộng đồng.
Thầy mo người Thu Lao
Người Thu Lao cũng như những tộc người khác, dân ca là máu thịt, là tinh thần, gắn liền với sự hình thành và phát triển của cộng đồng từ thời xa xưa cho đến tận ngày nay. Sáng tác, diễn xướng và lưu truyền luôn tồn tại đồng thời, chính vì thế, dân ca không bao giờ lạc hậu khi tình cảm con người, những nếp sống và nếp nghĩ có thay đổi. Với một dân tộc, yêu tiếng hát như người Thu Lao thì dân ca chính là chất keo gắn kết cộng đồng lại với nhau. Người Thu Lao coi tiếng hát là lời chào và là cớ để bắt quen. Khi sang làng khác muốn làm quen thì có bài hát Cổ táy đẳng mai hỏa (bài hát làm quen khi sang làng khác hát), khi có khách đến làng thì lại hát Kháo khíu tẻo soỏng (Khi có khách đến làng), Kháo khíu (Bài hát đầu tiên khi con gái làng khác đến chơi), Kháo đằng giật (Bài hát gặp nhau)… Khi đã quen rồi lại có Kháo sùi (Giục hát), Kháo sui (Cầu hát khi có khách đến làng) … Hiểu nhau thêm thì lại có những bài hát tâm tình, kể nỗi lòng như: Lây dứ ní dư phằn (Mình thấy buồn trong lòng), Kháo trẩy ra (Bài hát buồn), Khao tẩu dừn (Bài hát muốn lập gia đình cho con trai nhưng nghèo quá). Nam nữ đang tuổi nhớ, tuổi yêu thì gặp mặt như duyên kỳ ngộ, như tiếng sét tình yêu, sau khi gặp được người ưng ý, tình cảm được ý nhị trao nhau qua lời hát. Có tình yêu chớm nở, e ấp, ngại ngùng, chờ đợi trong Khao khoàn dừ ản làng (Bài hát ngày chợ thứ hai), Khao ní (Bài hát tình yêu do con gái hát), Xá khao ní (Bài hát tình yêu do con trai hát). Có tình yêu đến độ chín như: Kháo đắng soàn (Nhớ về anh), Kháo đằng quải (Hát về tình yêu)… Và cũng có cả những nước mắt khi trái tim tan vỡ vì một tình yêu không được đền đáp: Khao trẩy ra (Bài hát buồn), Kháo đẳng đá (Bài hát cô đơn)...
Và người Thu Lao đâu chỉ biết hát tìm bạn, hát yêu mà sâu sắc và cao cả hơn là biết giữ trọn đạo "uống nước nhớ nguồn". Nếu người Việt có câu dân ca:
"Ơn nghĩa sinh thành
Người hỡi đừng quên
Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra".
Thì người Thu Lao cũng có rất nhiều những khúc hát ơn nghĩa như vậy: Kháo cáo bố bu mi (Bố mẹ nuôi con khôn lớn), Kháo bố bu mi (Trông cậy bố mẹ), Kháo bô cháu gi à (Trông cậy anh trai chị dâu), Kháo bô la sáng (Nhờ bạn bè giúp đỡ)…
"Uống nước phải nhớ nguồn
Không quên ơn mẹ mãi mãi
Uống nước không quên lần (cái dẫn nước)
Đời đời không quên mẹ"…(Kháo khíu tẻo soỏng)
Đạo lý làm con phải giữ trọn chữ hiếu, nhớ ơn sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ và biết ơn những người giúp đỡ mình khi khó khăn đã ăn sâu vào máu thịt, vào tâm thức của người Thu Lao, tạo nên truyền thống ứng xử tôn kính, hài hòa trong quan hệ giữa người với người.
Bên cạnh những khúc hát đối đáp giao duyên, hát cho nhau nghe, người Thu Lao còn thích hát đơn, hát một mình khi đi làm nương có Kháo ùn chẳng (Bài hát mùa xuân đi làm nương), hát than thân phận kém may mắn có Kháo khà rèng (Nhà nghèo phải đi làm thuê), Lặc nứ lặc khầm (Tiếng hát mồ côi) Bu tể bu bu thò tử ní (Tiếng hát mồ côi cha), Kháu bô cháu già (Bài hát mồ côi)… Ở những bài hát đơn đó, cái tôi cá nhân của người hát đã vút lên trong những nỗi riêng tư, song lại trở thành một hiện tượng của cộng đồng. Cộng đồng đã lấy những niềm riêng đó để hát lên, nói thay cho tâm trạng của chính mình và vì vậy, khi buồn ai cũng có thể hát Khao trẩy ra (Bài hát buồn), Kháo đẳng đá (Bài hát cô đơn)...  để nói lên nỗi lòng giấu kín.
Người Thu Lao coi tiếng hát như một thứ của chung, cần như cơm ăn nước uống hằng ngày, ai cũng được dùng nếu thấy hợp với mình, như phương tiện giao tiếp thông dụng. Ai không quen qua tiếng hát thành quen. Ai quen rồi qua tiếng hát thấy thân hơn, quý nhau hơn để cùng chia sẻ cho nhau và để sống bình đẳng hơn trong cộng đồng. Qua năm tháng của cuộc sinh tồn, dân ca như chất vữa vững chắc xây dựng nên tình đoàn kết cộng đồng Thu Lao.
K.D (st)

Kiến trúc làng Việt Nam

Nền văn hoá Việt Nam được tạo dựng trên cơ sở của nền văn minh nông nghiệp. Cuộc sống của người Việt Nam gắn bó với làng quán quê hương. Hình ảnh làng quê Việt Nam có luỹ tre xanh, có mái nhà tranh, có người cày cấy đã trở nên rất thân thuộc trong tâm hồn người Việt Nam...
Từ rất xa xưa, người nông dân Việt Nam làm nhà là một trong 3 việc lớn của cuộc đời: Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà và có an cư mới lạc nghiệp, điều đó có nghĩa là chỗ ở có ổn định mới lo được sự nghiệp. Quan niệm ấy đến nay vẫn tồn tại, vì vậy, khi trưởng thành ai ai cũng lo cho mình một chỗ ở, một cơ ngơi riêng. Ðã bao đời nay kiến trúc ở nông thôn Việt Nam luôn đồng nghĩa với nét văn hoá làng, xã.
Lật lại những trang sử của ngành kiến trúc Việt Nam, người ta thấy rằng kiến trúc Việt Nam sớm ra đời, có thể xuất hiện từ thời vua Hùng dựng nước, cách nay khoảng 4000 năm. Làng xóm cũng xuất hiện vào thời kỳ này. Người Việt cổ lúc bấy giờ đã biết bắc gỗ làm nhà để tránh hổ sói. Trên các trống đồng có thể thấy 2 loại hình nhà sàn chủ yếu là nhà sàn hình thuyền và hình mai rùa.
Làng Đường Lâm
Theo các nhà kiến trúc cho rằng làng xã Việt Nam có tính quần thể cao, có kiểu kiến trúc đơn giản nhẹ nhàng phù hợp với khí hậu và tập quán của người Việt Nam. Làng luôn được bao quanh bằng những luỹ tre xanh, sau luỹ tre xanh đó là những mái nhà tranh ấm cúng, cưu mang che chở cho con người. Hầu hết các nhà nông thôn điển hình đều xây dựng theo kiểu có dãy nhà trên và dãy nhà ngang thường là ba gian hai chái. Có sân trước, vườn sau dàn hoa cây cảnh. Bao quanh nhà là hàng rào cúc tần, hay hàng hoa dâm bụt. Có gia đình mà chủ nhà là người nho nhã thích cuộc sống thanh tao thì họ chau chuốt hàng rào cây xanh rất cẩn thận. Ngày ngày cắt tỉa, chăm sóc như một thú vui nhằm trang trí thêm cho phần ngoài ngôi nhà ấm cúng, lịch lãm. Trước đây, khi cuộc sống của người nông dân còn khó khăn, gia đình nào xây sân, bó hè bằng gạch Bát Tràng, trồng bên nhà một gốc mít chĩu quả - được coi là một gia đình nông thôn giàu có. Ngôi nhà của gia đình Chủ tịch Hồ Chí Minh đang được bảo tồn gìn giữ tại làng Kim Liên, huyện Nam Ðàn, tỉnh Nghệ An, vẫn giữ nguyên nét kiến trúc điển hình của một ngôi nhà nông thôn Việt Nam như thế. Xưa hầu hết các nhà đều được làm bằng tranh tre nứa lá, gỗ. Nay, trong thời đại có tốc độ đô thị hoá nhanh, thì nhiều làng quê Việt Nam đã biến đổi có những dãy phố trong làng; phong cách xây dựng cũng theo kiến trúc đô thị mới.
Nhà ở của người nông dân Việt Nam ở các vùng khác nhau cũng có những nét đặc trưng khác nhau. Nếu ai có dịp đi dọc chiều dài đất nước, hẳn sẽ rất thú vị khi thấy rằng nhà cửa làng mạc ở Việt Nam tuy bình dị, dân dã nhưng không vùng nào giống vùng nào. Ðiều đó xuất phát từ điều kiện và hoàn cảnh sống của từng vùng, phản ánh cả tâm tính của con người của vùng đó.
Nam bộ ít có bão tố, lại nhiều kênh rạch, con người phải dồn sức vào chăm chút ghe xuồng và vườn tược, nhà cửa rất đơn sơ. Mấy cây que làm cột, làm kèo, một ít lá dừa nước vừa lợp mái vừa thưng vách.
Lên Tây Nguyên, nắng lửa, mưa ngàn, mái nhà được làm theo kiểu nhọn vút, kèo cột vững chãi, hoa văn và tượng gỗ trang trí cho nhà của người sống và nhà mồ của người chết.
Vùng miền Trung Việt Nam cát trắng, đất sỏi, gió Lào, mưa nhiều, bão lắm nên mái nhà thấp. Mái lợp dày, cột lớn. Chân cột kê đá tảng, mộng mạng chắc chắn như đúc, nhà có thể khiêng đi nơi khác mà không hư hỏng.
Ðồng bằng Bắc bộ là vùng đất cổ, làng cổ. Nhà cửa ý thức được truyền thống cha truyền con nối rất rõ. Nhà ngói, sân gạch, cây mít, tường vôi là một công thức để con người đủ yên tâm cho đời mình và cho con cháu đời sau.
Lên Tây Bắc, Việt Bắc xa biển gần rừng, sẵn mưa nhưng ít bão nên nhà sàn cao, mái doãng, lợp ngói máng (thứ ngói xếp tiếp vào nhau không cần ràng buộc). Hoặc lợp bằng những mảng gỗ pơ mu, gỗ hoàng la chẻ mỏng. Hầu như nhà nào cũng có một hàng rào nứa vót nhọn cao vây quanh để chống thú dữ.
Ở Huế, ngoài thành quách, thì nhà cửa có một nét rất đặc trưng mang tính cách Huế - đó là nhà vườn. Kiến trúc nhà vườn Huế độc đáo đã làm phong phú thêm cho bức tranh kiến trúc Việt Nam.
K.D (st)

Lễ cúng mùa lên rẫy của người Vân Kiều

Từ bao đời nay, thu nhập chủ yếu của đồng bào Vân Kiều, Pa Cô ở miền tây Quảng Trị dựa vào sản xuất nương rẫy theo phương thức “phát, cốt, đốt, trỉa” theo từng mùa mưa.
Những năm mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi thì cuộc sống dân bản sẽ được ấm no, hạnh phúc, nhưng nếu không may xảy ra thiên tai mất mùa thì cuộc sống sẽ hết sức khó khăn.
Do tâm lý “nhờ trời” như vậy nên lễ cúng mùa lên rẫy được bà con đặc biệt tôn trọng. Cứ 7 - 10 năm một lần, dân bản lại cùng nhau góp công, góp của để tổ chức lễ cúng.
Vị già làng và thầy mo thay mặt dân bản mời ông trời xuống dự lễ, phù hộ mùa màng tươi tốt.
19 giờ 30 tối, trong không khí mát mẻ, bầu trời có trăng, sao, bà con Vân Kiều, Pa Cô từ già trẻ, gái trai khắp các bản làng nườm nượp đổ về bờ suối bên dòng sông Đakrông, ở xã Húc Nghì (huyện Đakrông), bắt đầu một đêm mở hội cầu mùa.
Trước khi diễn ra lễ cúng, khi ông mặt trời còn chưa gác núi, dân bản cùng khách mời là nghệ nhân từ những bản xa trong những bộ trang phục đẹp nhất đã kịp có mặt để cùng nhau nhảy múa theo dọc con suối. Cũng vào thời gian này, việc giết gà, nấu cơm, luộc trứng… làm lễ cúng đã được đàn ông trong bản chuẩn bị hết sức chu đáo. Khi mặt trời vừa đi ngủ thì cũng là lúc mọi người kéo nhau tập trung về địa điểm chính nơi diễn ra lễ cúng.
Cùng lúc này, già làng Hồ Lâu - chủ lễ, long trọng tuyên bố lý do: “Hôm nay dân bản tổ chức lễ cúng để cầu nguyện cho đất trời, ông bà tổ tiên phù hộ lên nương làm rẫy, mong lúa mới thơm đầy làng, mong cây ngô, cây sắn nhiều hạt, nhiều củ”. Sau lời tuyên bố của già làng tại gian nhà chính nơi đặt những lễ vật quan trọng của buổi lễ, thầy mo thay mặt dân bản mời ông trời xuống dự lễ, ăn uống và nhận lời cầu nguyện của thầy mo cùng các già làng.
Tiếng của thầy mo cất lên lúc trầm, lúc bổng hòa trong tiếng trống dồn dập, tiếng chiêng vang vọng. Họ không chỉ cầu mong cho mùa màng tươi tốt, bội thu, mà còn cầu mong cho cuộc sống dân bản luôn được bình yên, tránh được ốm đau dịch bệnh, thiên tai, mọi người luôn thương yêu, đoàn kết và giúp đỡ nhau trong cuộc sống.
Trong khi thầy mo và các già làng tiến hành lễ cúng thì dưới cây nêu, nơi buộc vật hiến tế (trâu, dê), đông đảo dân bản già trẻ, gái trai sẽ cùng nhau nhảy múa, thưởng thức ngụm rượu cần mềm môi. Và cứ thế cuộc vui sẽ diễn ra đến sáng hôm sau...
K.D (st)

Ty mẻo của người Nùng Dín

Không ai rõ/chẳng ai hay/từ đận nào/ta mời mày về làm bạn/Lũ chuột rạn/ lũ gián nâu/ gặp mày đâu/ đều khiếp vía/Yêu mày thế/Ty mẻo ơi!". Đó là lời ca thân thiết, giản dị mà đồng bào Nùng Dín dành cho ty mẻo (con mèo).
Không chỉ giúp chủ đuổi gián, bắt chuột bảo vệ lúa, ngô, khoai, sắn, con mèo còn được người Nùng Dín coi là biểu tượng của sự thuận hòa, may mắn, loại trừ tai ách.
Ty mẻo của người Nùng Dín
Với người Nùng Dín, họ chỉ xin và cho ty mẻo về nuôi chứ không bao giờ bán mua... Người già trong các bản kể rằng: Thủa xưa, có một độ bản làng bị lũ lụt, mùa màng thất bát, năm sau bị đói kém và không còn thóc giống để trồng cấy. Thương gia chủ, ty mẻo đã bàn với ty man (con chó) đi lấy trộm thóc giống của nhà giàu bên kia núi. Ty man không giỏi trèo leo nên ở ngoài canh gác để ty mẻo vào tha thóc giống ra.
Trên đường về phải bơi qua con suối nước đang dâng cao, ty mẻo lại không biết bơi nên đành ở lại chờ nước rút. Ty man lợi dụng lúc bạn không để ý đã vác bao thóc bơi trước về bản để tâng công. Có hạt giống gieo mùa mới, mọi người vui lắm nên ghi công cho ty man và tổ chức ăn tết mừng lúa mới vào ngày Tuất (ngày con chó) mà quên mất ty mẻo.
Buồn vì mình bị cướp công, nhưng ty mẻo vẫn sống rất chung thủy với con người. Sau này khi biết chuyện, để sửa sai, bà con Nùng Dín đã thống nhất với nhau ưu tiên cho ty mẻo được ăn trước cả con người và ăn ngon hơn ty man.
"Ty mẻo con chét ràn" (con mèo quản bảy nhà), hầu như trong bất cứ gia đình Nùng Dín nào cũng nuôi ít nhất 1 con mèo. Đồng bào đặc biệt ưu ái mèo vàng với quan niệm đó là mèo kin (mẻo chim) - mèo giữ của, giữ lộc. Khác với các loại vật nuôi khác người Nùng Dín không bao giờ làm thịt ty mẻo. Nếu ty mẻo bị chết sẽ được đem đi chôn. Nếu là ty mẻo chưa già mà chết, người ta sẽ chôn ở gốc cây ăn quả để đến mùa quả sai trĩu cành. Ty mẻo già chết sẽ được chôn ở nơi không có người qua lại để chúng được yên nghỉ.
Người Nùng Dín
Người Nùng Dín khá cầu kỳ trong thủ tục mai táng ty mẻo đã gắn bó với gia đình mình lâu năm bằng một con gà luộc chín và một sải vải trắng để cúng. "Đó là cách để chúng tôi trả ơn con vật rất thân cận đã sống với gia đình mình trong nhiều năm. Khi linh hồn của ty mẻo được siêu thoát, nó sẽ phù hộ cho chúng tôi tiếp tục nuôi được một ty mẻo khôn ngoan để gia đình được thuận hòa, trong êm, ngoài ấm..." - già Vì Văn Ung (bản Téng, xã Tùng Lâu, huyện Mường Khương, Lào Cai) chia sẻ.
K.D (st)