(TQĐT) - Cách ngã ba Đầm Hồng, xã Ngọc Hội khoảng 3 km là thôn Tạng Khiếc, xã Phú Bình (Chiêm Hóa). Ở đây có di tích Chiến thắng Bản Heng - một di tích lịch sử trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp của dân tộc ta đã được Bộ Văn hóa - Thông tin xếp hạng di tích quốc gia từ tháng 11-2005. | |
Hà Linh Chiến thắng Bản Heng thể hiện ý chí quyết tâm đánh thực dân Pháp bằng mọi cách, mọi phương tiện. Di tích Chiến thắng Bản Heng có giá trị nghiên cứu lịch sử quân đội, là bài học quý báu về chiến tranh du kích, minh chứng cho đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện của Đảng ta; đồng thời khẳng định khả năng, trình độ tác chiến của lực lượng quân đội với du kích địa phương. Chỉ với phương tiện chiến đấu thô sơ, nhưng nhờ mưu trí, dũng cảm và khéo léo, các học viên Trường võ bị Trần Quốc Tuấn và bộ đội, du kích địa phương đã nêu gương sáng về tinh thần chủ động tấn công, làm thất bại âm mưu hợp quân ở Bản Thi của địch. Chiến thắng Bản Heng cách đây đã hơn nửa thế kỷ, nên trận địa và nơi bố trí công sự nay không còn nhận thấy, chỉ còn cây cầu sắt soi mình trên dòng suối Nà Khoang. UBND tỉnh đang chỉ đạo ngành văn hóa thông tin và chính quyền địa phương thực hiện kế hoạch gìn giữ, tôn tạo di tích và xây dựng một số hạng mục công trình cần thiết phục vụ cho du khách đến tham quan, nghiên cứu và học tập. Nơi đây cũng đã được đưa vào tuyến tham quan chính thức trong hệ thống các di tích của tỉnh, góp phần giáo dục truyền thống và niềm tự hào, tình yêu quê hương xứ sở cho các thế hệ hôm nay và mai sau.
|
Thứ Hai, 5 tháng 9, 2011
Di tich Chiến thắng Bản Heng
Đền thờ Quốc công và những dòng phả ký
Cách đây gần 300 năm (1738), ở triều vua Vĩnh Hựu, đền Bắc Mục (ảnh) được thành lập để thờ phụng vị Anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo, đồng thời cũng là nơi bái vọng Thánh Mẫu theo truyền thuyết từ thời đại Hùng Vương. | |
PGS.TS. Trần Mạnh Tiến Ngôi đền nay chỉ sót lại vài phế tích. Nhưng ký ức của nhân dân phố huyện vẫn còn lưu giữ nơi bái vọng thiêng liêng đó. Trong những di tích còn sót lại có tập Thần phả đền Bắc Mục của thân nhân ông Nhữ Văn Đạt* là những người được nhân dân phố huyện giao cho nhiệm vụ quản lý ngôi đền này lưu giữ được. Thần phả đền Bắc Mục là tập tài liệu bằng chữ Hán về văn hóa, lịch sử và có ý nghĩa về văn học, do các nhà nho ở thế kỷ trước kế tiếp nhau ghi chép về quá trình xây dựng đền, cùng các sinh hoạt văn hoá tâm linh liên quan đến một số sự biến của lịch sử. Nổi bật trong đó là một số bài ký, bài từ, bài thơ, các câu đối, đề từ với nhiều lời hay ý đẹp, thể hiện ý chí, đạo lý và tâm nguyện của nhân dân đối với cha ông và quê hương đất nước. Có bài như Đền thờ Hưng Đạo Đại vương xưa (Cổ tích Hưng Đạo Đại Vương linh từ), cho thấy một bức tranh tươi sáng về con người và thế giới thiên nhiên kỳ thú, giàu đẹp ở một vùng quê và ý nghĩ sâu sắc của người cầm bút đối với đương thời và hậu thế: Con người sống trên đời phải hiểu rõ cội nguồn với nòi giống tổ tiên, cần tôn vinh những người có công với nước và sinh tạo giống nòi. Phải biết trân trọng cái đẹp đẽ cao cả, có tình yêu với quê hương xứ sở, đó là đạo lý ở đời! Bài văn cũng phác họa bức tranh ngôi đền ở vào vị trí hài hoà sơn thuỷ, trong đó có màu sắc linh thiêng cổ điển, nhưng vẫn toát lên chân thành tâm nguyện của người xưa mong muốn cho con cháu quê hương đất nước được hoà bình thịnh vượng. Lại có bài ký sự lịch sử chép về sự tồn tại và diễn biến hoạt động thờ phụng với những thăng trầm của lịch sử ngôi đền này trong khoảng hơn 200 năm. Tuy chỉ là những phác thảo lịch sử về một di tích văn hoá của một số nhà nho, nhưng bài ký cũng nói lên ý thức của các vương triều trong lịch sử về vị trí của văn hoá tâm linh ở một vùng phên dậu của đất nước. Đây cũng là một bức tranh phác họa về tội ác man rợ của quân xâm lược đối với nhân dân xứ Tuyên xưa và truyền thống đoàn kết cộng đồng dân tộc trong việc xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước.... Thần phả đền Bắc Mục còn có những bài sắc phong của nhiều triều vua: Cảnh Hưng (1743), Duy Tân ( 1912), Khải Định (1923), cho thấy tầm vóc lớn lao của vị Anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo trong lịch sử dân tộc. Việc phong sắc còn thể hiện mục tiêu trị quốc an dân, phát triển văn hoá, giữ vững quốc phòng của các triều đại, nhất là những vùng phên dậu của đất nước. Cùng với quan điểm lấy dân làm gốc, trong tiến trình lịch sử, các vương triều rất chú trọng đến sự duy trì các sinh hoạt văn hoá tâm linh để dựng nước và giữ nước. Qua thời gian, ngôi đền Bắc Mục sừng sững gần 300 năm, đã bị bom Mỹ phá huỷ. Nhưng những con chữ có hồn trong mỗi trang Thần phả sẽ khó phai mờ theo năm tháng. Những tưliệu trong Thần phả đền Bắc Mục còn lại không nhiều, nhưng phần nào cũng nói lên những dấu tích văn chương, lịch sử cùng hình bóng con người và thiên nhiên xứ sở ở một vùng quê phía bắc Tuyên Quang mấy thế kỷ đã qua. Những dòng chữ trong ký phả cho thấy niềm tự hào về quê hương đất nước giàu đẹp, tinh thần đoàn kết cộng đồng để xây dựng và bảo vệ cuộc sống trên mảnh đất này, về truyền thống uống nước nhớ nguồn của nhân dân ta. Từ đầu năm nay, nhân dân trong vùng và du khách thập phương đã đóng góp xây dựng lại ngôi đền khang trang, tiện cho việc thờ Quốc công Trần Quốc Tuấn. Giới thiệu về đền Bắc Mục và Thần phả đền Bắc Mục, chính là để khẳng định vẻ đẹp tinh thần riêng cho mỗi vùng quê hương, đồng thời để người dân địa phương thêm tự hào về quê hương xứ sở.
|
Phát hiện di tích khảo cổ hang Phia Mùn
Đầu năm 2007, Bảo tàng tỉnh tiến hành cuộc điều tra, thám sát khảo cổ học tại xã Sơn Phú (Nà Hang). Tại đây, đoàn đã phát hiện di tích khảo cổ hang Phia Mùn. | |
Nguyễn Hữu Thọ (Bảo tàng Tuyên Quang) Di tích Phia Mùn là một hệ thống mái đá vôi karts chạy dài khoảng 40 m dưới chân núi Phia Mùn, trong một thung lũng nhỏ thuộc địa phận bản Nà Lạ, xã Sơn Phú. Theo tên gọi của đồng bào Tày nơi đây thì Phia Mùn có nghĩa là ngọn núi tròn. Cửa hang hướng về phía đông nam, cao hơn mực nước dưới chân núi chừng 10 đến 12 m.
Bề mặt của hang Phia Mùn khá bằng phẳng, mái đá cao, thoáng và rộng, độ ẩm không lớn và luôn khô ráo. Trên bề mặt hang, nhân dân địa phương đã phát hiện được một số công cụ lao động bằng đá như rìu bôn đá có nấc có vai; vỏ các loài nhuyễn thể như ốc núi. Căn cứ vào những hiện vật mà nhân dân phát hiện được trên bề mặt của hang, đoàn thám sát khảo cổ học đã tiến hành đào hố thám sát tại vách phía đông của mái đá có tổng diện tích là 3 m2. Kết cấu địa tầng của hố thám sát khá thống nhất. Bề mặt là lớp sét vôi màu xám khá rắn chắc, do môi trường canxi cácbonnát (CaCO3) kết hợp với nước mưa nên lớp đất này đã bị phong hóa mạnh, tầng lớp sét vôi này dày khoảng từ 7 đến 10 cm. Dưới địa tầng sét vôi là tầng văn hóa có cấu tạo bởi lớp đất màu nâu sẫm kết lẫn đá dăm, đá bị phong hóa mềm. Lớp này, dày khoảng từ 15 – 20 cm. Tại đây, đã phát hiện được hàng chục tiêu bản của các loài nhuyễn thể như ốc núi, ốc suối; xương răng động vật bán hóa thạch của các loài như linh trưởng, càng cua, hạt thảo quả, họ càphê, họ trám... cùng một số hiện vật thuộc loại hình công cụ lao động bằng đá như rìu bôn có nấc có vai, rìu mài tứ giác, mảnh tước... được chế bằng các loại đá quarts. Đặc biệt ở tầng này, đã phát hiện được một mũi dao bằng chất liệu đá quarts được chế tác với kỹ nghệ ghè mái khá tinh sảo. Điều đó, cho thấy kỹ thuật chế tác công cụ lao động của người dân thời đó đã đạt đến trình độ rất cao của nghệ thuật chế tác công cụ đá. Ở lớp thứ 3 trong khu vực hố thám sát có độ sâu từ 30 – 40 cm, đã phát lộ dấu tích than tro dày khoảng 20 cm, xung quanh là lớp đất màu nâu đỏ khá rắn do bị tác động của nhiệt. Rất có thể, đây là nơi người nguyên thủy đã dùng để đốt lửa và nướng chín thức ăn. Ngoài ra, còn phát hiện được khá nhiều mảnh gốm thô có hoa văn khắc vạch, văn chải, văn vặn thừng... có niên đại vào khoảng hậu kỳ đá mới - sơ kỳ kim khí (cách ngày nay gần 7.000 năm). Đặc biệt ở độ sâu khoảng 60 cm, ở vách phía đông của hố thám sát, đã phát lộ một phần của bộ di cốt người tiền sử dưới dạng bán hóa thạch (gồm xương đòn chân và xương ngón chân, xung quanh được kè chặn bằng loại đá phiến sét). Gần khu vực này, còn phát hiện được một số viên thổ hoàng. Nhưng do tính chất quan trọng của di chỉ hang Phia Mùn, đoàn khảo cổ đã quyết định không cho triển khai mở rộng phạm vi thám sát nữa để bảo quản nguyên trạng cho di cốt và di chỉ đợi hoàn tất thủ tục pháp lý để tiến hành khai quật với quy mô lớn. Có thể nói, cuộc điều tra thám sát khảo cổ học tại di chỉ hang Phia Mùn với diện tích không lớn nhưng mật độ phân bố hiện vật rất dày với tổng số 395 hiện vật/3m2 với nhiều loại hình hiện vật, có ý nghĩa và giá trị khoa học to lớn. Lần đầu tiên trên vùng đất Tuyên Quang phát hiện được di tích thuộc giai đoạn hậu kỳ thời đại đá mới văn hóa Hòa Bình có niên đại cách ngày nay từ 5.000 – 7.000 năm. Điều đó đã khẳng định sự phát triển liên tục và mang tính liền mạch của người tiền sử trên vùng đất cổ Tuyên Quang. Đây là giai đoạn phát triển sau của di chỉ hang Phia Vài, xã Xuân Tân (Nà Hang). |
Đền Cảnh Xanh - Ngôi đền độc đáo nhất xứ Tuyên
Đó là lời khen tặng của những du khách các tỉnh, thành phố dành cho ngôi đền Cảnh Xanh (hay còn gọi là đền Cây Xanh), phường Minh Xuân (thị xã Tuyên Quang). | |
Thèn Hương Theo truyền thuyết, thời Hùng Vương thứ 18, Tản Viên Sơn Thánh (con rể Hùng Vương) có một người con gái thông minh, xinh đẹp, văn võ toàn tài, huý là La Bình hay còn gọi là Cô Bé. Cô đi đến đâu, mưa tạnh, rét ngừng, muông thú ùa đến giao duyên làm bạn. Vua đã phong hiệu cho nàng là "Thượng ngàn công chúa cai quản các cõi rừng của Nam Giao". Từ đó, Cô Bé trở thành bà chúa của rừng xanh. Một hôm, Thượng Ngàn công chúa hạ giá se mây thăm thú đại ngàn. Từ trên trời cao, nàng nhìn xuống Lô giang, dòng sông khúc quanh khúc lượn, ghềnh đá chênh vênh, trăng gác đầu non hắt hiu ánh vàng trải xuống dòng sông mềm như dải lụa. Thấy phong cảnh hữu tình, nàng hạ giá nghỉ lại nơi đây. Đêm ấy, người dân trong làng đều mộng thấy có một thần nữ dung nhan ngời ngợi, đầu đội mũ xanh, thắt lưng xanh, khoác áo choàng xanh lộng lẫy giáng ngự bên hồ, muông thú khắp nơi kéo về mở hội xao động cả vùng sơn cước. Sáng ra, ai cũng kể lại giấc mộng đêm qua, rồi cùng nhau đến nơi xem xét. Lạ thay, nơi đây chỉ còn lại một cây xanh, thân rễ đan xen, cành lá rủ xuống giống như động tiên thiên hình vạn trạng. Thấy sự kỳ lạ, mọi người mang hương hoa đến vái lạy, rồi lập một am nhỏ tại gốc cây để tuần rằm nhang khói. Thời gian trôi đi, cây xanh đã phủ kín am thiêng, thấy không tiện cho việc thờ phụng lâu dài, người dân trong vùng đã dâng lễ xin Bà chúa Thượng ngàn cho lập đền thờ trong khu vực cây xanh như hiện nay... Đền Cảnh Xanh được dựng theo hình chữ Đinh, gồm toà tiền đường và hậu cung, mái được đắp nổi rồng chầu mặt nguyệt với bốn đầu đao cong vút cánh điệu. Trong đền hiện còn lưu giữ một số hiện vật có giá trị, như quả chuông đồng cổ, 3 bức đại tự bằng chữ Hán và 5 đạo sắc thời Nguyễn. Lễ chính đền vào ngày 18 tháng Giêng âm lịch; ngày mùng 3 tháng Tư lễ vào hè; ngày 3 tháng Bảy lễ ra hè; ngày 20 tháng Tám giỗ Đức Thánh Trần; ngày 10 tháng Chạp lễ tất niên. Ông Nguyễn Đình Khược, Trưởng đền Cảnh Xanh cho biết: Từ đêm giao thừa Mậu Tý đến nay, nhà đền đã đón hơn 7.000 lượt khách tham quan, đông gấp rưỡi năm trước. Ngoài bà con trong tỉnh, còn có rất đông du khách từ Hà Nội, Hải Phòng và cả những đoàn khách từ miền
|
Đền Thượng
Đền Thượng (xã Tràng Đà, thị xã Tuyên Quang), thờ Ngọc Lân Công chúa mà dân gian vẫn thường gọi với lòng thành kính là Mẫu Thoải. Đền tọa lạc trên thế “Gối sơn nghênh thuỷ”, trước đền là sông Lô hùng vĩ, sau đền là núi Dùm.
| |
Minh Tuyên
Đền Thượng còn lưu giữ được 5 đạo sắc của các triều vua phong tặng cho thần. Hiện vật cổ nhất còn giữ được là sắc phong của vua Cảnh Hưng năm thứ 4 (1743). Nội dung các sắc phong của vua ban vừa mang dấu ấn lịch sử vừa mang tính chất văn chương, ca ngợi phẩm chất cao quý và sức mạnh linh thiêng của các nương thần phù trợ cho nước, cho dân. Văn bia và sử sách còn ghi rõ: Trong cuộc đánh dẹp khởi nghĩa của Nùng Văn Vân, Tổng đốc Lê Văn Đức đã làm lễ cầu đảo ở đền Thượng và đền Hạ. Dẹp loạn xong, nhà vua ban cấp sắc phong cho hai ngôi đền và dùng những mỹ từ cao quý nhất phong tặng cho các nương thần. Đền Thượng nổi tiếng linh thiêng, quanh năm không chỉ người dân vùng Tuyên Quang đến lễ bái, cầu xin phúc lộc, mà khách từ bốn phương cũng về đây đông như chảy hội, nhất là vào những kỳ lễ hội chính 12-2 và 12-7 âm lịch hằng năm. Bà Nguyễn Thị Hoà, tổ trưởng tổ quản lý đền Thượng cho biết: Đền Thượng là một trong ba ngôi đền nổi tiếng linh thiêng của thị xã Tuyên Quang. Hàng năm, đền thu hút rất đông khách đến tham quan, vãn cảnh. Năm 2007, đền Thượng đã đón 41.812 lượt khách. Các hiện vật do khách thập phương đến công đức từ đầu năm đến nay trị giá 74 triệu đồng, bao gồm: ngựa gỗ, hạc gỗ, giá vàng...
Tục rước Mẫu của người dân thị xã Tuyên Quang đã có từ lâu đời. Vàongày 12-2 và 12-7 âm lịch hằng năm, lễ rước bắt đầu từ đền Ỷ La ra đền Hạ rồi từ đền Thượng về đền Hạ. Đây là lễ hội lớn nhất trong năm của người dân thị xã Tuyên Quang. Đến thời gian kháng chiến chống thực dân Pháp, do loạn lạc, tục rước Mẫu đã bị lãng quên. 2 năm gần đây, đáp ứng nhu cầu tâm linh của người dân, đồng thời khai thác tiềm năng, thế mạnh phát triển kinh tế - xã hội địa phương, UBND thị xã Tuyên Quang đã khôi phục tổ chức lễ hội đền Hạ, rước Mẫu từ đền Thượng về đền Hạ vào ngày 12-2 âm lịch. Trong những ngày diễn ra lễ hội, người dân địa phương tổ chức nhiều hoạt động văn hoá, văn nghệ, trò chơi dân gian như: Chọi gà, kéo co, cờ tướng, hát chầu văn...
Hành hương về đất MẫuTrong “Tam tòa thánh Mẫu” có một vị ở Tuyên Quang. Ấy là Mẫu Thoải - Bà mẹ cai quản vùng sông nước theo quan niệm của dân gian. Đối với những người theo Đạo Mẫu, đầu xuân, họ hành hương về đất Mẫu, nơi có các đền thờ chính của các vị Thánh Mẫu.
Truyền thuyết về Mẫu Thoải (hay Mẫu Thủy) gắn liền với truyền thuyết về hai di tích Đền Thượng và Đền Hạ ở Thành Tuyên. Người xưa kể rằng, đời trước có hai công chúa là Ngọc Lân (tức Mai Hoa công chúa) và Phương Dung công chúa (tức Quỳnh Hoa công chúa) theo xa giá đi xem xét địa phương đỗ thuyền ở bờ sông. Đến đêm nổi cơn mưa gió, hai công chúa vụt bay lên trời, người ta cho là linh dị, lập đền để thờ. Nơi con thuyền đỗ bên bờ sông xưa là Đền Thượng, nay thuộc xóm 14, xã Tràng Đà (TP Tuyên Quang). Theo quan niệm của dân gian, hai vị công chúa chính là hiện thân của con gái Long Vương. Theo quan điểm của một số nhà nghiên cứu vềvăn hóa, sở dĩ Đền Thượng thờ Ngọc Lân công chúa và Đền Hạ thờ Phương Dung công chúa được tôn là Mẫu Thoải vì có sắc phong của nhà nước phong kiến xưa. Người dân xứ Bắc theo đó mà thờ phụng.
Lễ hội Đền Hạ (TP Tuyên Quang). Ảnh: Huy Hoàng
Đối với những người theo Đạo Mẫu, đầu xuân, họ hành hương đến các đền thờ chính của các vị Thánh Mẫu. Họ sẽ đến những đền, phủ chính thờ Mẫu Thượng Thiên (Mẫu Liễu Hạnh), Mẫu Thượng Ngàn và Mẫu Thoải. Nơi thờ chính Mẫu Liễu là Phủ Tây Hồ (Hà Nội) và Phủ Giầy (huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định). Mẫu Thượng Ngàn được thờ chính ở Đền Cô, xã Tân An, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai và Mẫu Thoải ở Tuyên Quang. Quan niệm dân gian cho rằng, Mẫu Thượng Thiên cai quản chung, Mẫu Thượng Ngàn cai quản miền rừng núi và Mẫu Thoải cai quản vùng sông nước. Dân gian cũng cho rằng, sông nước gắn liền với sự sinh sôi, nảy nở. Nếu muốn cầu cho mùa màng bội thu, cây cối tươi tốt, tài lộc đầy nhà thì họ thường cầu lên Mẫu Thoải. Ấy thế là hàng năm, người ta nô nức hành hương về Thành Tuyên.
Ông Bùi Văn Tuấn, Tổ trưởng Tổ Quản lý Đền Thượng, xã Tràng Đà cho biết, thời gian vừa qua, có rất đông khách du lịch hành hương đến Đền Thượng. Ngày cao điểm, đền đón hơn 4.000 lượt khách. Tổ Quản lý đền phải căng ra để sắp xếp cho khách thuận vào tế lễ. Cũng theo ông Tuấn, đền đã phải “đặt lịch” với những đoàn khách thường niên lâu năm ở Hà Nội như đoàn ở Lưu Phái (Hà Nội) thường đi 400 người đến vào rằm tháng 2 hàng năm; đoàn ở phố Hàng Quạt (Hà Nội) đến vào ngày 28 tháng Giêng… Đền Thượng đã trở thành điểm đến không thể thiếu của nhiều đoàn khách hành hương ở các địa phương trong cả nước.
Ngày lễ lớn của đền là ngày 12-2 âm lịch hàng năm, rước Mẫu từ đền Thượng về Đền Hạ, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài tỉnh. Năm nay, lễ rước Mẫu nằm trong Chương trình Du Xuân trảy hội Thành Tuyên do UBND thành phố Tuyên Quang tổ chức. Lễ hội Đền Thượng, Đền Hạ và Đền Ỷ La nằm trong chuỗi các hoạt động lớn của chương trình. Năm nay,Ban Tổ chức sẽ phục dựng lại không khí rước Mẫu cổ xưa. Ấy là rước Mẫu qua đường sông. Xưa, đường xá khó khăn, người dân Thành Tuyên rước Mẫu từ Đền Thượng đến Đền Hạ phải qua sông Lô, sang bãi Quánh (phường Tân Hà) rồi theo đường bộ đến Tam Kỳ (đền Hạ). Mọi công việc đang được chuẩn bị gấp rút để đảm bảo ngày lễ chính tới đây Lễ hội rước Mẫu được diễn ra an toàn, đậm đà sắc màu văn hóa phục vụ nhân dân và du khách.
Theo Gia Linh (báo Tuyên Quang Online)
|
Đền Minh Lương
Đền Minh Lương thuộc địa phận xã Lang Quán (Yên Sơn), cách thị xã Tuyên Quang 11 km theo đường Tuyên Quang -Hà Giang. Ngôi đền toạ lạc trên một quả đồi, ba phía được bao bọc bởi 2 dòng suối có tên gọi là ngòi Lịch và ngòi Cơi. Hai dòng suối trong, mát này giao nhau trước cửa đền, chảy qua cầu Cơi ở km 10 rồi hoà vào sông Lô. | |||
Thèn Hương Ông bà xót thương cô bé, không nỡ chôn, nên đặt cô nằm ở trên sàn. Đến sáng đã thấy mối đùn lên đắp mộ cho cô bé. Dân làng thấy vậy đều cho là cô đã linh hoá nên lập miếu thờ. Thời kỳ giặc Cờ đen, cô bé Minh Lương đã hiển linh giúp quan quân triều đình thoát khỏi rừng rậm, sau đó dũng mãnh dẹp sạch giặc Cờ đen. Sau đó Cô còn hiển linh bốc thuốc, giúp dân chữa bệnh thoát cơn hiểm nghèo. Lễ chính đền vào các ngày mùng 10 tháng Giêng; mùng 4 tháng Tư; 24 tháng Sáu; mùng 10 tháng Chạp âm lịch. Hiện nay, ở gần cầu Bợ còn hai hang động là hang Mang và hang Đồng. Dân chài đến gần hai hang đều thắp hương cầu khấn hai ông sà phù hộ cho thuyền được thuận buồm xuôi gió. Còn ở đền Minh Lương thì không lúc nào ngớt khách đến tham quan, cầu nguyện. Bà Lộc Thị Nguộc, 69 tuổi, thủ nhang đền gần chục năm nay cho biết: Đền thờ cô mỗi năm một đông khách đến lễ hơn. Từ tết Nguyên đán Mậu Tý đến nay, đền đã đón gần 10 nghìn khách tham quan, du lịch tâm linh. Hiện nay, đền Minh Lương nằm giữa một quần thể du lịch tâm linh của xã Thắng Quân, gồm đền Lương Quán và Đầm Mây (nơi có lễ hội Đầm Mây nổi tiếng của huyện Yên Sơn). Cách quần thể du lịch tâm linh không xa là những ngôi làng nhỏ của đồng bào dân tộc Dao, Tày luôn hết lòng với khách, tạo nên một tua du lịch văn hoá, tâm linh hấp dẫn.
|
Kim Quan - Điểm du lịch văn hóa, lịch sử hấp dẫn
TQĐT - Cách đây hơn 50 năm, xã Kim Quan (Yên Sơn) đã vinh dự được Bác Hồ, Trung ương Đảng, Chính phủ chọn làm địa điểm đóng trụ sở làm việc, lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Hiện nay các điểm di tích lịch sử ở Kim Quan được gìn giữ, tôn tạo và trở thành điểm tham quan thu hút nhiều du khách. | |
Minh Tuyên Tại đây đã diễn ra nhiều sự kiện quan trọng: Bộ Chính trị họp quyết định giảm tô, giảm tức và thực hiện cải cách ruộng đất; ra Nghị quyết “Tiếp tục thấu triệt phương châm đánh chắc, đề cao quyết tâm, tích cực giành toàn thắng cho chiến dịch Điện Biên Phủ”; Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 6 (khoá II) bàn về thay đổi nhiệm vụ chiến lược là: “Hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ”; nhận định về khả năng chấm dứt chiến tranh, ký kết hiệp định Giơ-ne-vơ. Các cuộc họp của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp tại hội trường hoặc khu vực hầm an toàn. Bác Hồ thường đến họp, làm việc với Tổng Bí thư Trường-Chinh và các đồng chí lãnh đạo Chính phủ tại hai địa điểm này. Kim Quan còn là nơi Bác Hồ, Trung ương Đảng, Chính phủ đón tiếp các đoàn khách quốc tế. Từ an toàn khu ATK Kim Quan, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Văn Đồng đã đi dự Hội nghị Giơ-ne-vơ... Đến thăm Khu di tích lịch sử ATK Kim Quan hôm nay, trong quần thể các điểm di tích trải rộng trong khu rừng Nà Lơi và Vực Nhù, thôn Khuôn Điển, xã Kim Quan, được bao bọc bởi dòng sông Phó Đáy. Du khách không chỉ được tìm hiểu về những sự kiện lịch sử, mà còn được ngắm cảnh đẹp thiên nhiên, núi rừng hùng vĩ, với dòng sông Phó Đáy thơ mộng, nguồn nước luôn trong xanh hiền hoà, chứng kiến cuộc sống của đồng bào các dân tộc nơi đây đang từng ngày đổi thay. Ông Triệu Phúc Quyên, Bí thư Đảng uỷ xã cho biết: Xã có các dân tộc: Kinh, Tày, Nùng, Dao, Mông, La Chí, Cao Lan, Tống, Hoa. Mỗi dân tộc có những nét văn hoá độc đáo riêng, chung sống đoàn kết, đang tích cực thi đua thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo. Nhân dân các dân tộc cùng gìn giữ, xây đắp truyền thống của vùng quê cách mạng, bảo vệ những di tích lịch sử quý giá và hy vọng một ngày không xa khu di tích này sẽ được quy hoạch xây dựng khang trang, hệ thống đường giao thông được mở rộng, dịch vụ du lịch phát triển để đón nhiều du khách đến tham quan.
|
Đôi nét về đền Đôi Cô
Đền Đôi Cô, thuộc phường Nông Tiến (thị xã Tuyên Quang) thờ phụng và ngưỡng vọng cô đôi Thượng Ngàn và cô bơ Thoải Cung (con của Mẫu Thượng Ngàn và Mẫu Thoải Cung). | |
Chúc Ngọc Huyền Đền được dựng trên một gò đất cao bên dòng sông Lô. Bên phải đền là cầu Nông Tiến bắc qua sông Lô. Trước đây đền chỉ có một cung nhỏ rộng chừng 10m2 và rất ít người biết đến. Năm 1990, bà Quân Thị Hoa, tổ 10, phường Nông Tiến đã xin phép tu sửa và mở rộng ngôi đền. Toàn bộ kinh phí xây dựng đền là tiền công đức của khách thập phương. Anh Nguyễn Nam Sơn, chủ khách sạn Nam Hải (Hà Nội) đã công đức 70 triệu đồng tu sửa đền Đôi Cô. Ngoài ngôi đền chính ra, đền Đôi Cô còn có các đơn nguyên kiến trúc khác như am thờ Sơn thần (thần núi) và am thờ các cô. Quan Sơn thần là người trông coi vùng núi quanh khu vực đền, ngài được coi là thổ công của đền. Lầu thờ các cô là ba vị cô nương: Cô Chín, cô Bơ, cô Bảy. Ba cô là thị tỳ của Thánh Mẫu. Trong năm, đền Đôi Cô có các ngày Lễ: Lễ Thượng nguyên (10-1 âm lịch) là ngày lễ giải hạn cho nhân dân, đồng thời cũng là ngày làm lễ xuống đồng, bắt đầu một mùa màng mới. Hội Phủ Giầy (2-3 âm lịch) là lễ rước Mẫu; Lễ vào hè (4-4 âm lịch); Lễ ra hè, nhập thu (24-6 âm lịch); Lễ tất niên (10-12 âm lịch); Lễ cầu mưa (từ 8-4 đến 10-4 âm lịch) là ngày lễ cầu mưa thuận gió hoà, mùa màng tốt tươi. Lễ hội đền Đôi Cô đã trở thành nét đẹp văn hóa tâm linh của người dân phường Nông Tiến nói riêng và thị xã Tuyên Quang nói chung, thu hút sự tham gia của khách thập phương.
|
Yên Sơn bảo tồn các di tích lịch sử văn hoá
Huyện Yên Sơn hiện có 99 di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh, trong đó có 20 di tích được xếp hạng cấp tỉnh và 14 di tích được xếp hạng cấp Quốc gia. Trong những năm qua, huyện đã chú trọng công tác tôn tạo, bảo tồn và phát huy các di tích lịch sử văn hoá, khôi phục các lễ hội truyền thống, giúp nhân dân hiểu và tôn thêm niềm tự hào dân tộc. | |
Bài, ảnh: Huyền Linh Yên Sơn còn nổi tiếng với di tích đình làng Giếng Tanh, thôn Giếng Tanh, xã Kim Phú được công nhận Di tích kiến trúc nghệ thuật cấp tỉnh. Đình làng Giếng Tanh là tên thường gọi của nhân dân địa phương đã có từ lâu đời. Theo thần phả và tư liệu dân gian còn lưu truyền tại địa phương, Đình được xây dựng năm 1706. Tương truyền, có một cụ già tên là Tiêu Hiệp Phượng thương dân sống trong cảnh bần hàn, đã đến đền thờ Hùng Vương xin vua Hùng phù hộ cho dân qua cơn hoạn nạn. Trước lời cầu xin của ông, vua Hùng cắt cử hai vị tướng đã được phong sắc với hiệu là “Đức vua cả Ngọc Sơn quân linh ứng đại vương và Đức vua cả Nghiêm Sơn trung chính lệnh ứng đại vương” đến miền Yên Sơn để bảo hộ dân làng Giếng Tanh. Từ ngày có 2 vị tướng bảo hộ, dân làng làm ăn yên ổn, mùa màng bội thu. Để tỏ lòng biết ơn 2 vị thành hoàng, người dân đã dựng lên ngôi đình để tưởng nhớ và lấy ngày 10 tháng Giêng là ngày giỗ làng. Vì vậy, cứ vào ngày 10 tháng Giêng hàng năm, người dân Giếng Tanh lại tổ chức lễ hội. Mỗi nhà đều góp gạo, góp thịt hoặc hoa quả để cùng với cộng đồng làng xã mang lên tế đình. Mọi người cùng cầu mong một năm mưa thuận, gió hoà, mùa màng tốt tươi, nhân dân có cuộc sống no ấm. Lễ hội đã trở thành sinh hoạt văn hoá truyền thống không chỉ thu hút người dân trong huyện, trong tỉnh tham gia mà còn thu hút khách thập phương về dự. Ông Tiêu Cao Bắc, 76 tuổi, thôn 15, xã Kim Phú cho biết: “Từ thời ông, cha của ông đã sống ở đây và hàng năm nhân dân đều nô nức chuẩn bị tham dự lễ hội đình làng. Từ năm 2006 đến nay, ông được nhân dân tin tưởng bầu làm quản lý đình (hay còn gọi là ông trùm đình). Người được bầu làm ông trùm phải được nhân dân bầu, có gia đình nền nếp, con cháu ngoan ngoãn, thảo hiền. Năm 2009, huyện đã chọn tổ chức Lễ hội Đình làng Giếng Tanh quy mô cấp huyện, đây vừa là niềm vinh dự, tự hào cho nhân dân trong làng, vừa là lời nhắc nhở đối với mỗi người dân hãy góp phần gìn giữ, bảo tồn nét đẹp văn hoá của dân tộc mình”.
7 xã khu ATK Yên Sơn có 64 di tích lịch sử văn hoá, trong đó riêng xã Kim Quan có 16 di tích. Nơi đây, Bác Hồ và hầu hết các cơ quan Trung ương Đảng, Chính phủ đã ở và làm việc trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Đến xã Kim Quan, chúng ta được đến thăm lán ở, làm việc và hầm an toàn của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại thôn Khuôn Điển, được xếp hạng di tích lịch sử cấp Quốc gia. Đây là nơi ở và làm việc của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ đầu năm đến tháng 8 năm 1945. Chính tại nơi này, Người đã chỉ đạo nhiều phiên họp của Bộ Chính trị, Hội đồng Chính phủ, lãnh đạo toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta giành thắng lợi trong chiến dịch Đông Xuân 1953 - 1954, mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, đưa cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của dân tộc ta đến thắng lợi hoàn toàn. Tại thôn Khuôn Điển còn có các di tích: Hầm an toàn của Trung ương Đảng, hầm an toàn của Chính phủ, văn phòng làm việc của Tổng Bí thư Trường Chinh... Trong kháng chiến, nhân dân các dân tộc xã Kim Quan đã giúp đỡ, che chở cho cách mạng. Ngày hôm nay, nhân dân các dân tộc xã Kim Quan vẫn luôn tự hào về những truyền thống đó và cùng nhau gìn giữ, góp phần xây dựng quê hương ngày càng đổi mới. |
Những ngôi đền nổi tiếng ở Tuyên Quang
Ngày xuân đi lễ đền vãn cảnh, thắp hương tưởng nhớ các vị thần có công với dân, với nước, cũng là dịp để ta hiểu biết thêm các di sản văn hóa và để tâm hồn ta thêm thư thái… | |||
(Theo các tài liệu lịch sử) Đền Cấm, xã Tràng Đà (thị xã Tuyên Quang), nằm trên nền đất cao, không gian thoáng đãng bên bờ sông Lô, phía sau tựa lưng vào núi Cấm. Từ một ngôi miếu nhỏ, qua nhiều đợt trùng tu, nâng cấp, nay đền Cấm có kiến trúc khang trang. Gian giữa đặt tượng Bà chúa Thượng ngàn gọi là Lâm Cung Thánh Mẫu; phía trên án thờ treo bức Đại tự Linh Lâm miếu bằng gỗ. Tiếp đến là bức cuốn thư với ba chữ “tối linh từ” (Đền rất linh thiêng). Trước án đặt hai bức tượng ở thế đứng, kích thước như người thực, mặc võ phục, tay cầm kiếm. Đó là tượng Khuyến thiện và Trừ ác. Hai vị đứng đó như khuyên bảo khách thập phương hãy vứt bỏ tà tâm, giữ lòng thanh bạch trước khi bước vào cõi linh thiêng. Bà Chúa Thượng ngàn tạc ở tư thế ngồi, đầu đội mũ tì lư, khoác áo choàng màu xanh của núi rừng. Khuôn mặt bà chúa toát lên vẻ vị tha, nhân ái. Phía dưới án là ban thờ ngũ hổ tướng quân, oai phong lẫm liệt, thể hiện sức mạnh thiên nhiên, quan niệm về âm dương ngũ hành. Hằng năm đền có các ngày lễ: Mùng 10 tháng Giêng là lễ Thượng nguyên, giải hạn; mùng 2 tháng 5, ngày Bà chúa bản đền mở tiệc; ngày mùng 10 tháng 4 lễ vào hè, cầu mát; ngày 16 tháng 2 và tháng 7 lễ hoàn cung, có rước tượng Mẫu. , xã Tràng Đà (thị xã Tuyên Quang), thờ Mẫu thần, được xây dựng năm 1801. Tương truyền đời trước có hai công chúa là Ngọc Lân (tức Mai Hoa công chúa) và Phương Dung công chúa (tức Quỳnh Hoa công chúa) theo xa giá đi xem xét địa phương đỗ thuyền ở bờ sông. Đến đêm nổi cơn mưa gió, hai công chúa vụt bay lên trời, người ta cho là linh dị, lập đền để thờ. Ngày lễ lớn của đền là ngày 12-2 âm lịch hàng năm, rước mẫu từ đền Thượng về đền Hạ, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài tỉnh. Cảnh quan của đền thật là huyền ảo, hữu tình. Trước mặt đền là dòng sông Lô chảy hiền hòa, phía sau là những dãy núi trùng điệp. Đến đền Thượng, du khách vừa đi lễ, vừa chiêm ngưỡng vẻ đẹp thơ mộng của phong cảnh nơi đây. Đền Hạ, phường Tân Quang (thị xã Tuyên Quang) được xây dựng vào năm 1738, thờ Mẫu thần. Đền có mái đao cong duyên dáng với những biểu tượng rồng phượng đắp nổi trên lớp mái ngói vẩy. Các ngày lễ lớn được diễn ra từ ngày 11 đến ngày 16 tháng 2 âm lịch. Khu đền nằm bên bờ sông Lô, nơi có khúc sông uốn lượn hình rồng. Di tích mang đậm nghệ thuật kiến trúc tôn giáo. Hiện nay, trong đền còn có nhiều pho tượng cổ có giá trị về mặt nghệ thuật và lịch sử cùng nhiều bức tranh chạm khắc có giá trị nghệ thuật cao. Đền Hạ được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là di tích quốc gia năm 1992. Đền Cảnh Xanh, phường Minh Xuân (thị xã Tuyên Quang) được xây dựng năm 1935-1936. Đền thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, người anh hùng dân tộc đã có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông. Ngoài ra, đền còn thờ Đức Thánh Mẫu Thượng ngàn. Bà là vị chúa cai quản vùng núi. Ngày lễ lớn của đền là ngày lễ Thượng nguyên 11-12 tháng Giêng âm lịch, thu hút rất đông khách thập phương. Phong cảnh của đền kỳ thú và trang nghiêm, có cây cổ thụ hàng nghìn năm uy nghi, tuyệt mỹ. Đền Kiếp Bạc, phường Tân Quang (thị xã Tuyên Quang), nằm bên bờ sông Lô ở thế địa linh, đầu tựa sơn, chân đạp thủy, phong cảnh hữu tình, tạo cho đền vẻ thanh tao. Đền được xây dựng cuối thế kỷ 19, thờ phụng Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, người anh hùng dân tộc chống giặc ngoại xâm Nguyên Mông. Đền được xây dựng theo thuyết phong thủy “Tiền minh đường, hữu hậu chẩm”, lấy dòng Lô uốn khúc làm tiền minh đường là nơi tụ thủy, tụ phúc, những mong làm ăn phát đạt, dân khang, vật thịnh; lại lấy ngọn La Sơn làm hậu chẩm tạo thế vững chắc. Hiện đền còn lưu giữ được một số di vật có giá trị như 2 quả chuông đồng, 13 pho tượng thờ, 4 đạo sắc phong của các triều vua, 2 bức hoành phi, 2 đôi chân đèn, đôi câu đối và bộ bát bửu. Năm 2007, đền Kiếp Bạc được tiến hành trùng tu, tôn tạo, trở thành công trình văn hóa tiêu biểu, là nơi thu hút khách thập phương đến tham quan. , phường Minh Xuân (thị xã Tuyên Quang), được xây dựng cuối thế kỷ 19, thờ Đức Thánh Mẫu Thượng Thiên. Đền lấy núi Cố làm hậu chẩm. Đền ở thế đất cao, cây cối tốt tươi. Đền có kiến trúc hình chữ “Đinh” gồm tòa Tiền đường và Thượng điện, phía ngoài là cổng tam quan. Tòa Tiền đường của đền là công trình kiến trúc ba gian, kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói mũi hài, trên bờ nóc đắp nổi hình đôi rồng chầu mặt trời. Kiến trúc của tòa Tiền đường khá đơn giản. Tòa Thượng điện là nơi đặt ban thờ Thánh Mẫu Thượng Thiên cùng bộ Tam tòa Thánh Mẫu của đạo thờ Mẫu Việt Nam. Đền Đồng Xuân được UBND tỉnh xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp tỉnh năm 2007. Đền Ỷ La, phường Ỷ La (thị xã Tuyên Quang) được xây dựng năm 1747, theo kiến trúc tôn giáo tín ngưỡng thờ Mẫu. Sau nhiều lần trùng tu, đền hiện còn lưu giữ khá nhiều di vật, cổ vật quý hiếm có niên đại từ giữa thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20. Trong hậu cung có bộ tượng Mẫu (Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thoải Phủ, Mẫu Sơn Trang); trung cung có bộ Ngọc Hoàng (tượng Ngọc Hoàng, tượng Nam Tào, tượng Bắc Đẩu, Long Vương); bộ Quan Hoàng (quan Hoàng Ba, quan Hoàng Bảy, quan Hoàng Mười; hệ thống khán thờ, câu đối, sắc phong, chuông đồng… Đền Ỷ La là một di tích lịch sử văn hóa, kiến trúc nghệ thuật có giá trị và là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân. Hiện nay, đền Ỷ La đã trở thành một trong những điểm du lịch của thị xã để du khách thập phương đến thăm viếng, lễ đền tỏ lòng thành kính. Đền Pác Tạ, xã Vĩnh Yên, thị trấn Nà Hang. Đền được xây dựng vào thế kỷ 14, đền nằm dưới chân núi Pác Tạ, cửa đền quay ra hướng nam trông ra dòng sông Gâm tạo nên cảnh sắc sơn thủy hữu tình. Đền thờ phụng vị hôn thê của Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật, người có công lớn trong cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên Mông lần thứ hai - năm 1285. Người dân đến với Pác Tạ linh từ để bày tỏ lòng thành kính, cầu mong cuộc sống bình yên, dân khang, vật thịnh. Núi Pác Tạ, đền Pác Tạ là điểm du lịch sinh thái, tâm linh hấp dẫn. Đền Bắc Mục, xã Nhân Mục (Hàm Yên) được xây dựng năm 1738 thờ phụng vị anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo. Đây cũng là nơi thờ Thánh Mẫu theo truyền thuyết từ thời đại Hùng Vương. Đền được công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh. Đền Bắc Mục không chỉ là dấu tích văn hóa lịch sử lâu đời mà còn phản ánh tinh thần đoàn kết dân tộc, chống giặc ngoại xâm, tôn thờ những người có công với nước. , xã Yên Phú (Hàm Yên) được xây dựng từ thế kỷ 19. Lúc đầu là một miếu nhỏ nằm sát bờ sông Lô. Năm 1905, được trùng tu, xây dựng lại. Đền có bia đề “Đại than thủy khẩu cảm ứng long mẫu Quỳnh Nương thần vị”. Do nhu cầu tín ngưỡng của nhân dân, đền còn được thờ thêm Bà chúa Thượng ngàn. Đền có địa thế đẹp, mặt tiền nhìn xuống dòng Lô, lưng tựa vào núi Đền hùng vĩ có nhiều cây cao cổ thụ, không khí trong lành mát mẻ, tĩnh mịch, tạo cho du khách đến tham quan, vãn cảnh nghỉ ngơi, tu nhân tích đức.
Đền Đồng Xuân
Đền Thượng |
Đền Lâm Sơn Linh Từ
Đền Lâm Sơn Linh Từ, nằm trên địa bàn tổ 2 phường Nông Tiến (thành phố Tuyên Quang), nằm dưới chân núi Dùm bên dòng Lô lịch sử, xung quanh nhiều cây cổ thụ tạo nên cảnh sắc sơn thủy hữu tình. | |
Bích Lộc
Xưa kia đền chỉ là một ngôi miếu nhỏ được người dân địa phương dựng lên để thờ phụng “thần núi”. Đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp đặt ách cai trị tại Tuyên Quang, chúng tiến hành khai thác khoáng sản tại chân núi Dùm và bắt công nhân làm việc cực nhọc trong điều kiện khắc nghiệt, không được trang bị bảo hộ lao động nên có nhiều người chết, người ta cho rằng đã động vào đất thiêng làm Bà chúa Thượng ngàn nổi giận. Bởi vậy nhân dân địa phương cùng các công nhân phu mỏ đã quyên góp tiền của để dựng lên ngôi đền thờ Bà chúa Thượng ngàn hay còn gọi là Chầu Đệ Nhị. Đền chính có kiến trúc 4 mái đao cong, nóc đền trang trí hiệu tự. Đền Lâm Sơn Linh Từ là nơi hội tụ của nhiều lớp văn hóa tín ngưỡng cổ mang tính chất bản địa và là công trình kiến trúc mang đậm phong cách nghệ thuật thời Nguyễn. Đền Lâm Sơn Linh Từ từ khi khởi dựng đến nay đã trải qua biết bao biến cố thăng trầm của lịch sử nhưng luôn có được sự tôn kính của người dân thành Tuyên cũng như du khách thập phương. Ngôi đền vẫn luôn được chăm sóc, tu tạo và hiện nay còn lưu giữ được nhiều di vật, hiện vật với những đường nét, mảng khối và màu sắc mang phong cách nghệ thuật đặc trưng của một giai đoạn lịch sử như hoành phi, câu đối, tượng thờ và một số hiện vật có giá trị như: Bức đại tự bằng chữ hán, đôi câu đối bằng chữ hán, lư hương và đỉnh trầm, ba quả chuông đồng trong đó có một quả nặng trên 100 kg... Cũng như bao ngôi đền thờ mẫu khác, đền Lâm Sơn Linh Từ mới được phục dựng đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của người dân lao động. Nền tảng tâm linh của đền là thờ Mẫu. Đền Lâm Sơn Linh Từ mở cửa đón du khách thập phương đến thắp hương, vãn cảnh vào các ngày trong tuần. Đền đông du khách đến nhất là vào các ngày lễ chính như: Ngày mồng 2 tháng Giêng lễ rước nước, khai bút; ngày 15-16 tháng Giêng lễ Thượng nguyên; ngày 15 và 16 tháng 2, lễ tiệc mẫu; ngày 15 và 16 tháng 4, lễ vào hè; ngày 15 và 16 tháng 8, lễ đón Đức Đại Vương... |
Lăng Can vùng quê đậm bản sắc văn hóa dân tộc
Cách thành phố Tuyên Quang chừng 145km và mất khoảng 3 tiếng đồng hồ du khách đã có thể đến với xã Lăng Can (Lâm Bình), nơi đây có nếp nhà sàn truyền thống của người Tày, những tấm thổ cẩm tuyệt đẹp với hoa văn độc đáo được dệt lên từ đôi tay chuyên cần khéo léo của những người phụ nữ… | |
Bài, ảnh: Đào Thanh Từ bao đời nay, những đồi Tre Keo, đèo Khau Lắc và những đồi cọ Nà Gường, Pù Mô xanh mướt một màu bao bọc quanh những nếp nhà sàn làm nên một Lăng Can đẹp tựa như một bức tranh.
Nhà sàn truyền thống của người Tày ở Lăng Can có bố cục mặt bằng hình chữ nhật. Hai đầu hồi còn được mở rộng, kéo dài thêm làm sàn phơi, sàn rửa. Diện tích trung bình 150 - 200 m2, chiều cao trung bình 7- 9m tính từ nền lên đến nóc. Phổ biến là loại nhà kiểu 4 gian 2 chái có chiều dài khoảng 18 - 20m, rộng khoảng 8 - 10m. Nhà có hai mái chính có độ dốc vừa phải, mái trước và mái sau bằng nhau hợp thành một hình tam giác cân. Phía hai đầu nhà còn có hai mái phụ để che mưa nắng cho phần hiên, cầu thang phía trước và phần sàn rửa, cầu thang phía sau. Hai mái phụ này không gặp nhau với mái chính ở bờ nóc mà được làm thấp hơn, ở phía dưới mái chính, những rui mè liên kết với nhau bằng cách buộc với một thân vầu, hay gỗ đặt cao hơn vị trí câu đầu của bộ vì nóc đầu tiên và cuối cùng một chút. Nhìn bên ngoài vẫn thấy đây là một ngôi nhà 4 mái cân xứng. Vật liệu lợp mái là lá cọ được người dân lấy ở những rừng cọ trong vùng. Do nguồn lá cọ tại địa phương sẵn có nên mái được lợp rất dày, bền chắc. Gầm sàn được sử dụng để chứa củi, đặt cối giã gạo, để quạt hòm, cối xay, cối giã, để cày bừa và các loại nông cụ, xe đạp, xe máy. Kết cấu khung nhà sàn của người Tày ở Lăng Can tương đối thống nhất về tổng thể, phong phú về chi tiết ở phần kết cấu vì nóc. Hầu hết là loại vì kèo 4 hàng cột, gồm 2 kèo, 2 cột cái, 2 cột quân. Cũng có loại nhà theo kiểu 6 hàng cột, thêm 2 hàng cột hiên. Các cột được liên kết với nhau bằng câu đầu, thanh ngang, các bộ vì liên kết với nhau bằng thanh xuyên dọc. Kết cấu vì nóc đơn giản nhất chỉ gồm một thân cột đỡ chỏm kèo đứng chân lên một thanh ngang liên kết hai đầu cột cái. Các nhà sàn được làm từ nhiều loại gỗ khác nhau như đinh, táu, lim… Nếp nhà sàn luôn gắn bó cùng người dân Lăng Can, nó là địa chỉ, là nỗi nhớ nhung trong kí ức, là niềm tự hào của biết bao người đi xa quê lòng luôn nao nao nhớ về cội nguồn. Trong tiềm thức của những người dân nơi đây ai cũng quý trọng và giữ gìn nếp nhà sàn truyền thống của dân tộc mình. Đến Lăng Can vào mùa xuân này khi cây cối đang đâm chồi nảy lộc, ấy cũng là mùa mà các cô gái sắp đến tuổi dựng vợ gả chồng miệt mài bên khung cửi để dệt vải, dệt chăn bông… chuẩn bị về nhà chồng. Chị Nguyễn Thị Lựu là người phụ nữ đảm đang, khéo léo và có tài trong việc quay tơ dệt sợi ở thôn Nà Khà cho biết, người phụ nữ đảm đang phải là người biết quay sợi dệt thổ cẩm. Nhìn tấm thổ cẩm người ta có thể đánh giá được đức tính của người phụ nữ ấy. Hiện nay, dù nghề dệt thổ cẩm không còn phát triển mạnh như trước nữa nhưng ý thức duy trì nghề này vẫn ăn sâu trong tâm thức của mỗi người dân. Nếu đẩy mạnh đầu tư khôi phục và phát triển, thì nghề dệt thổ cẩm ở Lăng Can sẽ trở thành sản phẩm hàng hoá, là động lực thúc đẩy nghề này ở địa phương phát triển, tăng thêm thu nhập cho người dân. Lăng Can không chỉ có nhà sàn, thổ cẩm, mà nơi đây còn có đền Pủ Báo, thác Tát Trà và Vàng Dân quanh năm tung bọt trắng xoá. Mới đây, trong lễ công bố Nghị quyết của Chính phủ về việc thành lập huyện mới Lâm Bình, Lăng Can được chọn làm trung tâm địa giới hành chính của huyện lỵ. Do đó, cùng với Thượng Lâm vốn nổi tiếng với 99 ngọn núi, Xuân Lập với điệu khèn Mông ngây ngất đắm say lòng người… Lăng Can sẽ là điểm đến hấp dẫn du khách. |
Điểm hẹn bên dòng Lô
Nằm bên dòng Lô lịch sử, thành phố Tuyên Quang hội tụ đầy đủ mọi tiềm năng để phát triển du lịch: Có núi cao, sông dài, nhiều thắng cảnh tự nhiên, đặc biệt có hệ thống đền, chùa được xây dựng từ hàng trăm năm nay với lối kiến trúc nghệ thuật cổ độc đáo đã và đang thu hút du khách thập phương đến tham quan, thưởng ngoạn. | |
Hương Thu
Ngay phía hữu ngạn sông Lô, địa phận phường Tân Quang có đền Hạ, nổi tiếng với vẻ đẹp “sông Lô ở trước mặt, núi Là ở sau lưng”. Đền được xây dựng vào năm 1738, thờ hai Công chúa Ngọc Lan và Phương Dung. Kiến trúc nghệ thuật độc đáo ở chỗ tất cả các cột, kèo, thượng lương, cửa võng đều bằng gỗ, được chạm khắc tinh xảo hình long, ly, quy, phượng, tùng, cúc, trúc, mai. Những hình long giáng thủy cung, cây, hoa được chạm trổ, đục rỗng trên thân cột, cửa võng, uốn lượn mềm mại như nét vẽ. Xuôi theo dòng Lô, đến địa phận Hưng Thành, du khách sẽ ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của soi Lâm, một đảo nhỏ xanh tươi rộng tới hai chục ha. Giữa lòng thành phố phồn hoa nhộn nhịp, soi Lâm nổi bật với vẻ hoang sơ, thanh khiết. Người dân ở đây đã biết trồng các loại rau, quả chất lượng cao làm hàng hoá đem bán ở các chợ trên bờ. Đặc biệt, soi Lâm nổi tiếng với món ngô nếp dẻo, thơm ngon, không hề bị lai tạp. Nếu muốn “lên non”, du khách có thể sang xã Tràng Đà, nơi đây có 3 ngôi đền nổi tiếng: Đền Thượng, đền Cấm, đền Ghềnh Quýt. Đền Cấm phía sau lưng dựa vào núi Cấm, trên núi có thắng cảnh Cổng Trời, có con suối nhỏ trong lành ngày đêm róc rách chảy qua phía sau đền, dưới những gốc si già xum xuê toả bóng. Khắp thành phố, đâu đâu cũng bắt gặp những ngôi đền, chùa cổ kính, vừa là điểm tham quan, vừa là nơi sinh hoạt văn hoá tâm linh. Đó là chùa Linh Thông, đền Mẫu ở Ỷ La; đền Pha Lô ở Nông Tiến; đền Quang Kiều, chùa An Vinh ở Hưng Thành; chùa Hương Nghiêm, thành Nhà Bầu ở An Khang. Riêng 2 phường Minh Xuân và Tân Quang có tới 8 di tích kiến trúc nghệ thuật, gồm chùa Trùng Quang, đền Đồng Xuân, đền Cảnh Xanh, đền Mỏ Than, nhà thờ xứ Tuyên Quang (phường Minh Xuân); đền Hạ, đền Kiếp Bạc, thành cổ Tuyên Quang (phường Tân Quang). Sẽ rất thiếu sót nếu chưa kể đến hồ công viên Cây Xanh, một trong những hồ nhân tạo và cây xanh mới trồng đẹp của khu vực miền núi phía Bắc. Ở đây, du khách có thể bách bộ vòng quanh công viên, ngồi nghỉ ngơi hít thở không khí trong lành, đón luồng gió mát từ phía mặt hồ, ngắm nhìn Đài tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ, một trong 20 công trình kiến trúc tiêu biểu của quốc gia. Thoạt nhìn, đài tưởng niệm giống như hình bóng cây đa Tân Trào, rồi lại như một đài sen giữa những lớp sóng sông Lô hùng vĩ. Thành phố cũng đã có những dãy phố theo ngành hàng, như phố văn hoá ẩm thực, phố vàng bạc, phố đồ gỗ mỹ nghệ, phố điện tử điện lạnh cùng hệ thống nhà hàng, nhà nghỉ, khách sạn với hàng trăm cơ sở đầy đủ tiện nghi, sẵn sàng phục vụ nhu cầu ăn, nghỉ của du khách tốt nhất. Trong quy hoạch phát triển du lịch, thành phố tập trung quy hoạch, kêu gọi và thu hút đầu tư phát triển Khu du lịch sinh thái Núi Dùm - Cổng Trời (thuộc xã Tràng Đà, phường Nông Tiến), soi Tình Húc (phường Hưng Thành); kiểm tra, rà soát lại các di tích lịch sử, văn hoá để xây dựng kế hoạch đầu tư khôi phục, tôn tạo; quy hoạch phát triển các dịch vụ nhà hàng, khách sạn, nhà nghỉ, các khu phố chuyên kinh doanh và các điểm vui chơi giải trí. Phát triển tua du lịch của thành phố gắn với Khu du lịch lịch sử, văn hoá Tân Trào - ATK; Khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm; Khu du lịch sinh thái Nà Hang, Hàm Yên, Chiêm Hoá và các tuyến du lịch liên tỉnh, quốc tế. |
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)