Thứ Năm, 2 tháng 1, 2014

Bí mật Chúa Bầu dưới Cổ thành Trung Đô

(Kienthuc.net.vn) - Những bí mật về Chúa Bầu dần được bóc tách trong những lớp đất sâu dưới di chỉ khảo cổ thành Trung Đô.
Từ xưa, cao nguyên trắng Bắc Hà (Lào Cai) đã có một ngôi đền thiêng thờ anh hùng Gia quốc công Vũ Văn Mật mà người bản địa vẫn quen gọi là Chúa Bầu.
Chúa Bầu cao nguyên 
Ông Ngô Văn Huân, Cán bộ Phòng Văn hoá - Thông tin huyện Bắc Hà cho biết, sử sách ghi lại vào thời vua Lê Chiêu Tông (1516 - 1522) tại làng Ba Động, huyện Gia Phúc (nay là Gia Lộc, Hải Dương). Hai anh em họ Vũ lúc bấy giờ là Vũ Văn Uyên và Vũ Văn Mật đã lên Khau Bầu - Đại Đồng của trấn Tuyên Quang sinh sống, lập nghiệp. 
Sau một thời gian ngắn, thấy tù trưởng Đại Đồng tàn ác, bất nhân, ngược đãi dân lành, lại xảy ra nạn giặc giã cướp bóc khắp nơi, anh em họ Vũ đã tích trữ lương thảo, chiêu binh mãi mã cùng người dân địa phương thu phục được nhiều tù trưởng người dân tộc thiểu số lập nghiệp trên vùng đất của trấn Tuyên Quang.
Các sử gia đều đánh giá về những việc làm của hai đầu lĩnh họ Vũ đã thu phục được dân chúng trong vùng về tụ hội, sinh cơ lập nghiệp. Họ Vũ đã chọn vùng đất Phúc Khánh (nay là thị trấn Phố Ràng của huyện Bảo Yên, Lào Cai) để xây dựng căn cứ, đặt doanh Yên Bắc. 
Từ đó, vùng đất này trở nên đông đúc bởi người Kinh dưới xuôi di cư lên sát cánh cùng người Tày, người Nùng, người Dao và nhiều đồng bào dân tộc thiểu số khác làm cho vùng đất dọc theo sông Chảy lên tận tổng Ngọc Uyển (Bảo Nhai ngày nay) thịnh vượng dài lâu.
Cụ Cừ chỉ phiến đá thiêng sau đền. 
Sau một thời gian dài, số binh sĩ của anh em họ Vũ lên tới hàng vạn người, họ liên kết với các tù trưởng tiến hành xây dựng vùng căn cứ ngược ven dòng sông Hồng và sông Chảy. Ở đâu có loạn đều được Vũ Văn Mật dẹp loạn, giúp nhà Lê chống giặc xâm lấn biên ải. 
Trong "Kiến văn Tiểu Lục" của Lê Quý Đôn đã viết: "Ở vùng Ngọc Uyển (tức là Trung Đô, Bảo Nhai và vùng phụ cận bây giờ) Mật đã cho xây thành, đắp lũy chống nhau với nhà Mạc ngót 20 năm ròng".  
Gia quốc công Vũ Văn Mật đã cho đắp thành Nghị Lang vững chãi, xây lũy cứ ở Trung Đô tổng Ngọc Uyển để giữ yên bờ cõi, không cho giặc ngoài xâm lấn. Còn Vũ Văn Uyên được triều đình phong cho chức Đô Tổng binh trấn Tuyên Quang và tước Khánh Dương Hầu.
Khi nhà Mạc chiếm ngôi nhà Lê (1527 - 1592), tình hình trở nên bất ổn, giặc giã nổi lên khắp nơi, giặc phương Bắc thừa cơ nhòm ngó biên ải. Anh em nhà họ Vũ kêu gọi các tù trưởng người dân tộc thiểu số trấn giữ các cửa thành không cho quân nhà Mạc lên phá thành và giặc ngoài tràn đến.
Sau khi Vũ Văn Uyên chết, Vũ Văn Mật tiếp tục trấn giữ nơi biên giới phía Tây và được vua Lê Trang Tông (1533 - 1548) sắc phong Tổng binh trấn Tuyên Quang, tước Gia quốc công Vũ Văn Mật tiến hành thiết lập lại vùng Đại Đồng kéo dài đến vùng Ngọc Uyển của châu Thủy Vĩ thành 11 dinh. Đồng thời, cử các tướng dưới quyền trông coi cẩn mật. 
Vì Vũ Văn Mật cho dời căn cứ từ thành Nghị Lang, xây thành đắp lũy trên Gò Bầu nên nhân dân địa phương gọi ông là Chúa Bầu. Sau khi Vũ Văn Mật qua đời, con trai là Vũ Công Kỷ tiếp tục trấn thủ. Họ Vũ sau hơn một trăm năm đã kết thúc vai trò lịch sử ở trấn Tuyên Quang kéo dài lên tận vùng phía Bắc châu Thủy Vĩ, nơi triều đình nhà Lê gọi là dinh An Tây. Đền thờ Bắc Hà cũng được hình thành để tỏ sự thành kính, tưởng nhớ công lao đối với Chúa Bầu.
Đền Trung Đô nhận bằng công nhận di tích. 
Ngôi đền thiêng
Ông Trần Quang Phượng, Trưởng ban Quản lý đền Bắc Hà cho biết, trước đây đền Bắc Hà chỉ là một ngôi đền nhỏ án ngữ dưới gốc cây cổ thụ nghìn năm tuổi. Một cành của cây cổ thụ bị gãy cắt đôi ngôi đền nhưng ban thờ chính và bát hương không bị ảnh hưởng.
Qua mỗi đời, ngôi đền lại được trùng tu rộng rãi thêm. Và những chuyện linh thiêng cũng từ đó lan truyền. Nhiều kẻ vì hám lợi vào đền trộm cắp đồ cổ đã bị quả báo. Thậm chí, có người ở huyện Bắc Hà vào đền lấy 3 pho tượng Tam Đa, gia đình đang êm ấm bỗng dưng phát điên phát dại. 
Chuyện mới nhất cách đây chưa lâu, có một người mang vật quý vào đền nhưng lại ngồi lên tảng đá phía sau đền. Khi vị khách đứng lên thì không còn thấy vật quý đâu nữa. Nghĩ đã mạo phạm đến Chúa Bầu nên người ấy gặp từ đền thắp hương khấn vái. Khi ra tảng đá, lại thấy vật quý xuất hiện. 
"Nói đến chuyện tâm linh thì nhiều khi hư cấu. Theo tôi thì đền nào cũng thiêng nếu chúng ta thành tâm. Đền Bắc Hà cũng vậy nên rất nhiều người coi đây là điểm tựa tâm linh. Họ đến để cầu an, cầu tài lộc và xin con với những vợ chồng hiếm muộn", ông Phượng cho biết.
Cụ Đỗ Văn Cừ (80 tuổi) là người gắn bó với đền Bắc Hà từ rất lâu nên hiểu mọi chuyện. Cụ Cừ bảo, ngôi đền này không đơn thuần chỉ là thờ Chúa Bầu mà còn thờ cả những tướng lĩnh dưới trướng của ông. Nên theo quan niệm tâm linh, đền Bắc Hà còn là nơi ngự trị của quan quân triều đình nên sự tôn kính là cần thiết.
Chiếc điếu cày của Chúa Bầu. 
Chiếc điếu cày bí ẩn 
Trên ban thờ Chúa Bầu hiện nay, vẫn còn những vật dụng như đạn súng thần công, những chiếc bát đĩa của Vũ Văn Mật xưa kia. Thậm chí, chiếc điếu cày mạ đồng hình rồng phượng cũng được tìm thấy trong khi khai quật di chỉ khảo cổ thành Trung Đô.
Thành Trung Đô xưa được xây dựng vào thế kỷ XVIII để thờ Chúa Bầu. Trong khi khai quật, các nhà khảo cổ đã tìm thấy một số vật dụng như súng thần công cùng một số sắc phong do vua ban. Trong đó, có cả chiếc điếu cày mà nhiều người cho rằng, chủ nhân của nó chính là Chúa Bầu.
Tuy các sử sách không nhắc đến việc Gia quốc công Vũ Văn Mật nghiện thuốc lào nhưng những câu chuyện dân gian thì khẳng định chắc như đinh đóng cột rằng, chiếc điếu cày ấy là do chính Chúa Bầu sử dụng khi còn sống. Vì vậy, chiếc điếu được đặt long trọng trên ban thờ cùng các vật dụng khác.
Cụ Đỗ Văn Cừ cho hay: "Những vật dụng này cần phải được bảo vệ, gìn giữ cẩn thận. Vừa rồi, khi vào Nghệ An tìm mộ Chúa Bầu ở huyện Yên Thành chúng tôi cũng đã thu thập được 6 sắc phong do vua Lê ban cho Chúa Bầu. Đó là những chứng cứ chứng tỏ công lao của Gia quốc công đối với đất nước".
Hiện tại, thành Trung Đô còn 3 ngôi mộ ở dưới một gốc cây lớn. Một mộ đôi của vợ chồng tướng quân dưới trướng Chúa Bầu là Hoàng Vần Thùng. Ngôi mộ còn lại là của con gái Chúa Bầu tên là Vũ Nàng Hiến. Các nhà khảo cổ cho rằng, tuy đã khai quật thành Trung Đô nhưng những bí mật của Chúa Bầu vẫn chưa thể khai mở bóc tách hết.
"Ở đền Trung Đô, tướng quân Hoàng Vần Thùng kế tục sự nghiệp của Chúa Bầu. Cách đình làng khoảng 2km về hướng bắc là di chỉ thành cổ là một dải lũy xếp bằng đá cao gần 2m bao bọc một quả đồi bên suối Nậm Thin. Đền Trung Đô đã được Nhà nước trao bằng Di tích lịch sử Quốc gia vào năm 2010".
Ông Ngô Văn Huân (Cán bộ Phòng Văn hoá - Thông tin huyện Bắc Hà)
Trần Thế

Hệ sinh thái U Minh Hạ: Điểm du lịch sinh thái lý tưởng

ThienNhien.Net – Nếu là người yêu thích thiên nhiên, muốn đi du lịch sinh thái để tận hưởng vẻ đẹp của quê hương đất nước, thì Vườn quốc gia U Minh Hạ – tỉnh Cà Mau – là một địa điểm du khách không nên bỏ qua.

Nằm về phía Tây tỉnh Cà Mau, cách thành phố Cà Mau không khoảng 25km, mất hơn 30 phút ngồi ô tô, du khách sẽ đến Vườn quốc gia U Minh Hạ. Đây là một khu rừng tự nhiên, với loài cây chiếm ưu thế là Tràm – Melaleuca Cajuputi mang đậm nét đặc trưng của hệ sinh thái rừng tràm trên nền đất phèn, than bùn ngập nước theo mùa của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Một kiểu hệ sinh thái không còn nhiều ở Việt Nam và trên thế giới. Rừng ở đây có nhiều loài động, thực vật quý hiếm phục vụ nghiên cứu khoa học, bảo tồn nguồn gen, phát triển du lịch sinh thái. Ngoài ra, đây còn là cái nôi của cách mạng miền Nam trong hai cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm.

Vườn quốc gia U Minh Hạ được thành lập ngày 20/11/2006 trên cơ sở hợp nhất Khu bảo tồn thiên nhiên Vồ Dơi với một phần diện tích rừng tràm U Minh Hạ thuộc các lâm ngư trường: U Minh III, Trần Văn Thời. Vườn quốc gia U Minh Hạ có tổng diện tích 8.527ha nằm trên địa bàn huyện U Minh và Trần Văn Thời. Trong đó, khu Vồ Dơi rộng trên 3.600ha là khu rừng nguyên sinh duy nhất còn sót lại của tỉnh Cà Mau. Hơn 25.000ha rừng vùng đệm thuộc các đơn vị Công ty lâm nghiệp U Minh Hạ, Trung tâm nghiên cứu ứng dụng rừng ngập. Đây là khu bảo vệ cần thiết đảm bảo cho sự phục hồi của các loài đặc hữu của hệ sinh thái rừng ngập với nhiều loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam và thế giới.

Vườn quốc gia U Minh Hạ có địa hình tương đối bằng phẳng, độ chênh cao bình quân so với mặt nước biển từ 1,5m đến 2,5m, độ chênh cao trong vùng rừng từ 0,5m đến 2m nghiêng và thấp dần về phía Tây Bắc sang Đông Nam. Trên lâm phần có hai loại đất chính đó là đất than bùn và đất sét; diện tích đất than bùn 1.664ha (chiếm 22,7% diện tích), diện tích đất sét 6.863ha (chiếm 77,3% diện tích). Quá trình cố định đất hình thành than bùn từ sự phá hủy của nhiều nguyên nhân. Đất ở đây được hình thành lâu đời từ nguyên đại đệ tứ, do sự bồi đắp của phù sa ven biển mang lại từ hệ thống sông Cửu Long, qua thời gian cố định dần, cùng với sự có mặt của thảm thực vật cây rừng ngập và sinh khối rơi rụng của nó trong điều kiện yếm khí vì bị ngập nước thường xuyên từ 5 đến 6 tháng/năm (khoảng tháng 6 đến tháng 10 hàng năm) nên đã hình thành lớp than bùn có độ dày từ 0,5m đến 1m; dưới lớp than bùn là tầng đất sét có chứa phèn tiềm tàng ở các độ sâu khác nhau.

Vườn quốc gia U Minh Hạ là vùng đất ngập nước theo mùa, thảm thực vật ở đây là hỗn hợp rừng tràm, trảng cỏ ngập nước theo mùa và đầm lầy trống. Đứng trên đài quan sát rừng (đài cao 25m ở vị trí trung tâm) phóng tầm mắt nhìn bao quát toàn cảnh, du khách không khỏi ngỡ ngàng trước bạt ngàn màu xanh của lá, của rừng như kéo dài vô tận và cảm thấy con người nhỏ bé trước thiên nhiên rộng lớn. Bên dưới tán rừng du khách sẽ khám phá được sự đa dạng sinh học hiếm có.

Về thực vật, tại đây có ba kiểu thảm thực vật chính đó là rừng tràm bán tự nhiên, rừng tràm trồng và trảng cỏ ngập nước theo mùa. Theo các nhà khoa học, hệ thực vật ở đây gồm 78 loài, thuộc 65 chi và 36 họ. Trong đó, cây gỗ chủ yếu là Tràm (Melaleuca Cajuputi) và một số loài cây gỗ khác như Móp (Alsbiuia Spathulata), Bùi (Ilex Cymosa), Tràm khế (Eugenia Jamlolana), Tràm sẽ (Eugenia Liucata); cây bụi có một số loài đại diện như Mua lông (Melastona Pelyauthium), Mật Cật gai (Lienala Spinosa), Bòng Bòng (Lygedium Myerephyllum), Dầu đấu ba lá (Enodia Lepta), Bí bái (Aetenychia Laurifellia); thảm tươi có các loài đại diện như Sậy (Phragmites Karka), Choại (Stenochleân Palustrie), Cỏ đuôi lươn (Machaerinafalcata), Mây nước (Flagellaria Indica), nhiều loài dương xỉ, tảo… Đây thực sự là một bảo tàng sinh thái sống về các loài thực vật thuộc hệ sinh thái rừng ngập úng của khu vực đồng bằng sông Cửu Long nói riêng và cả nước nói chung.

Về động vật rừng ở đây gồm 161 loài thuộc 66 họ và 27 bộ. Trong đó có hơn 40 loài thú, nhiều nhất là các loài thú như: heo rừng, nai, khỉ vàng, cà khu, cầy hương, dơi quạ, chồn, rái cá lông mũi… Hơn 182 loài chim, trong đó có các loài quí hiếm như: gà đẫy, gà soái, khoang cổ, chàng bè, le le, diệc, cò trắng, cò đen, cò lùn, còng cọc, hạt cổ trắng… Hơn 36 loài bò sát thuộc 16 họ và 3 bộ, trong đó phải kể đến như: rắn hổ đất, rắn hổ mang chúa, rắn mai gầm, trăn gấm, kỳ đà nước, tắc kè, tê tê, rùa vàng, rùa răng (càng đước), rùa nắp… Lưỡng thê có 11 loài thuộc 5 họ và 2 bộ và nhiều loài côn trùng khác. Ngoài ra, trên lâm phần có hơn 100km kênh mương với tổng diện tích mặt nước hơn 1 triệu mét vuông (chưa kể diện tích của các thảm cỏ ngập nước theo mùa) đây thực sự là thiên đường cho các loài cá nước ngọt sinh sống và phát triển. Vào mùa khai thác cá, du khách dễ dàng bắt gặp nhiều loài cá có giá trị khoa học và kinh tế như: cá lóc, sặc rằn, sặc bướm, trê vàng, rô đồng, thác lác, trạch…

Hệ động vật ở đây không những phong phú về thành phần loài mà còn có mức độ tập trung cá thể rất lớn. Nhiều loài động vật quí hiếm đã chọn nơi đây làm chỗ trú ngụ vì hệ sinh thái rừng và môi trường vừa thích nghi vừa được bảo vệ tốt. Du khách có thể tận mắt nhìn thấy vườn dơi, vườn cò, máng diệc… với nhiều loài chim bay đi, bay về từng đàn nhộn nhịp trông rất đẹp mắt.

Nhằm bảo tồn nguồn gen các loài động thực vật quí hiếm, phát huy các giá trị của vùng rừng, sử dụng bền vững tài nguyên rừng, đồng thời phục vụ nghiên cứu khoa học và phát triển du lịch sinh thái, vừa qua, UBND tỉnh Cà Mau đã thông qua quy hoạch Khu du lịch sinh thái Vườn quốc gia U Minh Hạ và phê duyệt dự án đầu tư xây dựng với tổng kinh phí đầu tư cho giai đoạn 1 (2008-2011) là 144 tỷ đồng.

Theo đó, Vườn quốc gia U Minh Hạ được chia làm 3 phân khu chức năng để đầu tư là: Khu dịch vụ hành chính, khu phục hồi sinh thái và khu bảo tồn nghiêm ngặt. Trong đó khu du lịch có quy mô khoảng 1.708ha, bao gồm toàn bộ phân khu dịch vụ hành chính và một phần khu rừng ngập nước. Các hạng mục công trình như khu vui chơi giải trí, khu văn hóa truyền thống, tái tạo làng rừng, khu ẩm thực dân gian, khu nuôi thuần dưỡng thú bản địa, bến bãi câu cá… đang được thiết kế, thi công. Hệ thống đường nhựa, hệ thống cấp nước sinh hoạt, đài quan sát rừng cùng một số công trình dịch vụ khác đã được xây dựng hoàn thành phần nào đáp ứng nhu cầu nghiên cứu khoa học và tham quan du lịch sinh thái của du khách trong và ngoài tỉnh.

Nhiều công ty du lịch trong và ngoài nước cũng đã đến tìm hiểu và đăng ký đầu tư khai thác du lịch tại đây. Việc Vườn quốc gia U Minh Hạ được tổ chức UNESCO chính thức công nhận là Khu dự trữ sinh quyển của thế giới thực sự là tin vui cho tỉnh Cà Mau nói riêng và cả nước nói chung. Rồi đây, trong tương lai gần, khi các hạng mục công trình của gói đầu tư giai đoạn 1 hoàn thành, Vườn quốc gia U Minh Hạ thực sự là điểm du lịch sinh thái lý tưởng cho du khách trong nước và quốc tế.
Theo Bản tin Kiểm lâm, 09/2009

Khai trương điểm du lịch sinh thái lớn nhất Tây Nguyên

ThienNhien.Net – Chào mừng kỷ niệm 10 năm thành lập tỉnh, ngày 31/12, Công ty TNHH Thương mại và dịch vụ Lâu Đài đã tổ chức khai trương điểm du lịch sinh thái thác Lưu Ly tại xã Nâm N’Jang (Đắk Song).
Theo đó, sau gần 1 năm triển khai xây dựng các hạng mục như: cầu thang xuống thác, khu lưu trú, bồn hoa, nhà điều hành, nhà nghỉ chân, nhà vệ sinh…, khu du lịch thác Lưu Ly chính thức đi vào hoạt động, phục vụ du khách tham quan, nghỉ dưỡng.
Thác Lưu Ly được đưa vào khai thác, phục vụ du lịch sinh thái (Ảnh: Đức Hùng/Báo Đắk Nông)
Thác Lưu Ly được đưa vào khai thác, phục vụ du lịch sinh thái (Ảnh: Đức Hùng/Báo Đắk Nông)
Được biết, khu du lịch sinh thái thác Lưu Ly có diện tích khoảng 85 ha, đang được quy hoạch để xây dựng các dịch vụ như: lưu trú nghỉ dưỡng, nhà hàng ẩm thực, nhà hàng lưu niệm, phát triển các sản phẩm du lịch leo núi thám hiểm, dã ngoại, biểu diễn văn hóa nghệ thuật…
Điểm du lịch sinh thái thác Lưu Ly được xem là điểm dừng chân lý tưởng của du khách trong chuyến hành trình tìm hiểu về “Con đường xanh Tây Nguyên”, kết nối với các tour du lịch của các tỉnh Đà Lạt, Bình Phước, Đắk Lắk và TP. Hồ Chí Minh.
Theo Đức Hùng/Báo Đắk Nông, 01/01/2014

Quýt Quang Thuận: Quả ngon còn một chút này!

(Dân trí) - Quýt Quang Thuận là một đặc sản của tỉnh miền núi Bắc Kạn, tuy chưa phải là thứ quả nổi tiếng được nhiều người biết đến như bưởi Năm Roi, nhãn lồng Hưng Yên, vải thiều Lục Ngạn.... nhưng nó lại mang hương vị đặc trưng riêng của núi rừng Tây Bắc.

Khi tiết trời se lạnh của mùa đông đến cũng là lúc những quả quýt Quang Thuận - huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn bắt đầu mang vị ngọt. Chỉ cần thưởng thức một lần các bạn sẽ nhớ mãi hương vị ngọt thơm tuyệt vời của nó.
Cam, quýt Quang Thuận là một đặc sản của tỉnh miền núi Bắc Kạn
Cam, quýt Quang Thuận là một đặc sản của tỉnh miền núi Bắc Kạn
Cam, quýt Quang Thuận là một đặc sản của tỉnh miền núi Bắc Kạn
Cam, quýt Quang Thuận là một đặc sản của tỉnh miền núi Bắc Kạn
Khi xưa, thứ trái cây này ở Quang Thuận chỉ có trên núi cao hoặc mọc tự nhiên trong các cánh rừng già, theo tay nải của bà con leo lên những ngọn núi cao, vừa xoè lá che chắn nắng mưa, vừa cho quả thơm ngọt trong những ngày lễ chạp cuối năm. Rồi tiếng lành đồn xa xuất phát từ chính bản thân hương vị tuyệt vời khiến những người một lần được thưởng thức quýt Quang Thuận đều không quên được. Và thứ trái cây đặc sản núi rừng ấy đã nhanh chóng được nhiều người biết đến.
Chắc hẳn ai đã từng dừng chân ở Bắc Kạn khi nếm thử hương vị của quýt Quang Thuận chắc sẽ nhớ mãi không quên. Nếu như bưởi Năm roi, nhãn lồng Hưng Yên được ví như như một người đẹp đăng quang thì cam quýt Quang Thuận như một người đẹp của núi rừng vẫn còn giữ nguyên nét hoang sơ mà chưa bị một tác động bởi nền công nghiệp hóa chạm tới.... 
Mùa quýt bắt đầu từ tháng 9 âm lịch, kéo dài tới Tết Nguyên đán
Mùa quýt bắt đầu từ tháng 9 âm lịch, kéo dài tới Tết Nguyên đán
Mùa quýt bắt đầu từ tháng 9 âm lịch, kéo dài tới Tết Nguyên đán
Mùa quýt bắt đầu từ tháng 9 âm lịch, kéo dài tới Tết Nguyên đán
Người Bắc Kạn thường hay nói với nhau là có hai thứ quả của quê mình, nếu đến mùa mà ai không ăn thì nhất định sẽ hối tiếc. Quýt Quang Thuận có hình quả dẹp, vỏ mỏng, dễ bóc, múi dễ tách, vỏ chín có màu vàng tươi, có quả nặng tới 300 – 400g. Mùi thơm trái quýt khó có thể lẫn mà nếu bóc vỏ, dù có vầy vò tay mấy lần dưới nước, mùi thơm đó cũng không hết.
Quýt có mùi thơm đặc trưng, ngọt, mát và pha lẫn vị hơi chua. Nếm quýt Quang Thuận bạn sẽ cảm nhận được vị ngọt đậm của núi rừng, sự mát thanh của suối nguồn tinh khiết, hương thơm nồng nàn của khí trời mùa xuân và cả vị mặn mòi của mồ hôi người trồng quýt.
Đối với người dân nơi đây cây cam, quýt đã gắn liền từ nhỏ và nó chính là cuộc sống của họ
Đối với người dân nơi đây cây cam, quýt đã gắn liền từ nhỏ và nó chính là cuộc sống của họ
Đối với người dân nơi đây cây cam, quýt đã gắn liền từ nhỏ và nó chính là cuộc sống của họ
Đối với người dân nơi đây cây cam, quýt đã gắn liền từ nhỏ và nó chính là cuộc sống của họ
Để có một giống quýt ngon như vậy người dân Quang Thuận đã phải rất vất vả chăm sóc và đấu tranh với thời tiết, với thiên nhiên để bảo vệ giống quýt này. Đối với người dân nơi đây cây quýt đã gắn liền từ nhỏ và nó chính là cuộc sống của họ.
Cây quýt lớn cành lá xum xuê toả rộng, xanh mướt, mỡ màng. Những cây quýt như thế trái rất to gần bằng chén múc chè. Quả quýt càng lớn càng đẹp. Một cây quýt đã tuổi trưởng thành trở lên cho chừng vài trăm quả. Quýt vừa mới chín, vỏ màu vàng tươi, vào trong như một lúm đồng tiền duyên dáng trên gò má căng tròn của thiếu nữ xinh đẹp.
Cách thưởng thức quýt cũng không thể tuỳ tiện như các loại trái cây khác.
Cách thưởng thức quýt cũng không thể tuỳ tiện như các loại trái cây khác.
Cách thưởng thức quýt cũng không thể tuỳ tiện như các loại trái cây khác.
Cách thưởng thức quýt cũng không thể tuỳ tiện như các loại trái cây khác.
Cách thưởng thức quýt cũng không thể tuỳ tiện như các loại trái cây khác. Khi thưởng thức thứ quả này, bạn hãy tách nhẹ vỏ mỏng, tháo gỡ lớp tơ màu sữa bao quanh những múi quýt và hãy dùng môi cắn nhẹ để thứ nước vàng óng màu mật ong ngọt mát thanh tao cứ thấm từ từ vào lưỡi. Như vậy, bạn mới cảm nhận hết sự sảng khoái từ vị quýt rừng Quang Thuận.
Mùa quýt bắt đầu từ tháng 9 âm lịch, kéo dài tới Tết Nguyên đán. Những người sành ăn đã thử nếm một lần quýt hương là mê, là nghiện để rồi lại đếm ngày, bấm tháng chờ đợi đến tận mùa quýt sang năm…
Bài: Minh Phan
Ảnh: Song An

Đậu phụ kẻ Mơ

(Dân trí) - Không phải ngẫu nhiên mà rất nhiều món ăn từ đậu như bún đậu mắm tôm, đậu nướng… lại được liệt vào danh sách những món ăn ngon chốn Hà thành. Nói không ngoa: đậu Mơ đã làm nên điều đó…

Đậu Mơ hay còn gọi là Đậu làng Mai Động (còn gọi là Làng Mai), một làng cổ thuộc vùng Kẻ Mơ, Hà Nội. Người dân nơi đây truyền rằng: nghề làm đậu làng Mai Động ra đời ngót 2000 năm nay.
Hương thơm của đậu làng Mơ cũng khác biệt so với đậu phụ ở những nơi khác
Hương thơm của đậu làng Mơ cũng khác biệt so với đậu phụ ở những nơi khác

Nghề làm đậu phụ hầu như ở vùng miền nào cũng có, nhưng đậu phụ làng Mơ vẫn nổi tiếng hơn cả. Người xưa truyền lại rằng nghề làm đậu phụ vốn xuất xứ từ làng Mơ – Mai Động, do chính ông tướng Tam Trinh từ thời Hai Bà Trưng sáng chế ra và truyền lại cho dân chúng trong làng, rồi lưu giữ cho đến tận ngày nay.
Cũng có lời truyền rằng đậu phụ Mơ do được nấu bằng nước giếng làng mơ nên đặc biệt thơm ngon. Hương thơm của đậu làng Mơ cũng khác biệt so với đậu phụ ở những nơi khác.
Người dân làng Mơ truyền nghề từ đời này qua đời khác cũng không quên truyền cái tâm làm nghề cho con cháu. Quy trình làm đậu nào xay, nào nấu đậu, nào gói, nén, nào bóc đậu… đều được người dân nơi đây thực hiện một cách cẩn thận, chăm chút đến từng khâu nhỏ.
Những người sành ăn chỉ sờ vào miếng đậu là sẽ biết ngay có phải đậu phụ Mơ hay không
Những người sành ăn chỉ sờ vào miếng đậu là sẽ biết ngay có phải đậu phụ Mơ hay không
Người làm đậu thường dậy từ rất sớm, khoảng 3 giờ sáng để bắt đầu công việc của mình. Để có được mẻ đậu ngon thì việc chọn đậu tương là giai đoạn quan trọng đầu tiên, Đậu tương phải được chọn kỹ, hạt tròn đều, vàng mẩy rồi phơi khô, xay vỡ đôi cho tróc vỏ mới đem ngâm để lấy nước cốt rồi mới cho vào túi vải thô, thưa sợi, vắt bớt chất xơ, lọc ra nước đậu sống đem nấu chín. Đây là khâu quyết định chất lượng của đậu phụ, bởi đậu chín non hay quá lửa đều không đạt chất lượng.
Phần nước tinh chất này sau khi chín tới thì được đổ ra chum đất lớn, để nguội bớt rồi hòa với phần nước chua sao cho đậu tương kết tủa thành bánh, có ánh vàng nhạt, người ta vẫn hay gọi là “óc đậu”. Người làm đậu sẽ dùng một chiếc thìa kim loại có dạng hình tròn, đáy lõm vớt “óc đậu” cho vào chiếc khăn xô nhỏ, tiếp đó đặt vào khuôn gỗ.
Đậu vào khuôn xong sẽ chuyển sang ép, thời gian cho công đoạn này thường mất khoảng ba mươi phút. Sau khi ép xong, đậu được dỡ ra để nguội và bóc lớp “áo” vải xô. Quá trình này được gọi là lột đậu. Chiếc đậu thành phẩm vừa lột ra vẫn còn nóng hổi, được xếp lên sàng. Nếu bán ngay người ta sẽ mang thẳng ra chợ, còn để đến chiều bán thì đậu sẽ được thả vào nước lạnh để bảo quản.
Những người sành ăn chỉ sờ vào miếng đậu là sẽ biết ngay có phải đậu phụ Mơ hay không? Miếng đậu sờ thấy mát tay, dày mình, thơm lừng vị đậu tương, màu vàng hồng, mịn, lại có bốn góc vuông cong đến đặc biệt thì ắt hẳn chính là đậu phụ làng Mơ.
Những người sành ăn chỉ sờ vào miếng đậu là sẽ biết ngay có phải đậu phụ Mơ hay không

Chế biến công phu, nhưng món đậu phụ xưa nay vẫn là một trong những món ăn bình dân nhất. Và với người sành ăn Hà Nội, từ một thức bình dân ấy đã cho ra đời biết bao món đặc trưng đất kinh kỳ
Cũng giống như chả cá Lã Vọng, cốm làng Vòng, bánh cuốn Thanh Trì… đậu Mơ mang những đặc trưng mùi vị riêng. Vị mát ngậy nhận được ngay từ đầu lưỡi, rồi từ từ cảm thấy được vị béo, ngọt ngào trong bánh đậu… những bánh đậu phụ trắng mịn, hấp dẫn khiến không ít người nhớ nhung mỗi khi xa quê.
Mỗi khi Đậu Mơ xuống phố, nó lại trở thành món khoái khẩu của nhiều người Hà Nội, trở thành nỗi nhớ thường trực và luôn góp mặt trong mọi bữa cơm. Nhiều người tìm đến chợ Mơ chỉ đơn giản mua một vài bánh đậu, cũng có người đến đây để thưởng thức tại chỗ mùi vị riêng trong thứ đậu đặc biệt ấy.
Không phải là món ăn cao sang, tốn kém đậu Mơ đã len lỏi vào khắp phố phường Hà Nội, tiếng rao "đậu Mơ" của ai đó vọng từ bên ngoài cũng đủ để người ta nhớ đến vị mát mịn, béo ngậy riêng có của thứ đậu này.
Minh Phan
Ảnh: Internet

Đặc sản chỉ có ở nơi “một tiếng gà ba tỉnh nghe rõ”

(Dân trí) - Ninh Giang (Hải Dương) được ví là nơi có tiếng gà gáy ba tỉnh đều nghe rõ. Là một thị trấn duyên dáng, được con sông Luộc bao bọc, Ninh Giang đã ghìm sâu tên mình vào lòng người bằng đặc sản quê mình: Bánh gai Ninh Giang.

Xưa, bánh gai hiếm lắm, chỉ được dùng trong ngày tết hay nhà có giỗ chạp. Ngày thường, hàng xóm láng giềng có việc đi xuống huyện về biếu chiếc bánh, nhà đông người thì phải xắt thành từng ấy miếng, mỗi người một miếng nhỏ nhâm nhi vị ngọt đượm của bánh.
Theo tương truyền, nghề làm bánh gai đã có từ rất lâu, khoảng hơn 700 năm trước
Theo tương truyền, nghề làm bánh gai đã có từ rất lâu, khoảng hơn 700 năm trước
Cách thành phố Hải Dương gần 30 km về hướng đông nam, giáp Hải Phòng và Thái Bình, Ninh Giang được ví là nơi có tiếng gà gáy ba tỉnh đều nghe rõ.
 
Là một thị trấn duyên dáng, được con sông Luộc bao bọc, Ninh Giang đã ghìm sâu tên mình vào lòng người bằng đặc sản quê mình: Bánh gai Ninh Giang.
Ngày lễ tết, nhà nào muốn mua chục bánh gai để thắp hương cho các cụ, phải đạp xe xuống thị trấn, cách nhà chục cây số để đặt trước rồi áp tết xuống lấy bánh.
Tết mà có chục bánh gai đặt cạnh mâm ngũ quả, cạnh chiếc bánh chưng trông thật sung túc và ấm áp.
Theo nhiều cụ già tại thị trấn Ninh Giang, nghề làm bánh gai đã có từ rất lâu, khoảng hơn 700 năm trước. Ban đầu, bánh tròn như quả chanh, không có lá bọc. Cho tới nay cả huyện Ninh Giang chỉ có thị trấn Ninh Giang là làm bánh gai.
Hiếm thì như thế, nhưng nay du khách đi vòng quanh thị trấn, đâu đâu cũng thấy những chồng bánh gai, như mời chào, níu kéo khách qua đường.
Bánh có vỏ bánh làm từ bột nếp hoà với lá gai đã được giã nhuyễn làm lên sắc đen huyền, ánh lên hấp dẫn lạ kỳ.
Theo tương truyền, nghề làm bánh gai đã có từ rất lâu, khoảng hơn 700 năm trước
Người Ninh Giang không luộc bánh gai mà hấp trong khoảng hai tiếng đến khi bánh dậy mùi thơm ngậy đặc trưng.
Lá gai trông giống như lá dâu, có răng cưa, thường được trồng ở vùng cao. Lá gai khô đóng bịch lại. Lá đẹp phải là loại lá to, các lá quện lại thành từng tảng nhỏ. Khi kéo từng chiếc lá thấy được cái mềm mại, dẻo của lụa, mùi thơm ngai ngái của lá khô. Lá phải sáng màu. Loại lá nhỏ, lẫn hoa, vón cục thi không được dùng. Lá đem nghiền nhỏ thành thứ bột xốp xốp, mịn màng mát rượi.
Công đoạn làm bánh được người Ninh Giang làm rất cẩn trọng. Từ cách chọn hạt gạo, hạt đỗ cũng phải sành. Đỗ xanh, phải là loại đỗ chè, hạt nhỏ,vỏ hơi mốc mốc. Xục tay vào thúng đỗ phải nghe thấy tiếng xạo xạo, coong coong của hạt đỗ già đã tách.
Khi thổi lên đỗ mới bở, thơm và ngậy. Đỗ đãi sạch vỏ, bỏ sạn, đem cho vào nấu chín. Mở vung nồi đỗ, mùi thơm thơm ngầy ngậy xộc vào cánh mũi; phải đợi một chút, quay mặt cho hơi bay vợi đi, khi đó mới nhìn rõ màu vàng ươm, mỡ màng của đỗ. Hạt đỗ căng tròn, nhón tay xiết lại, nhấc hai đầu ngón tay thấy dinh dính, nhưng xốp và mịn. Nghiêng dưới ánh sáng. thấy những hạt sáng như của khoai tây luộc bở tơi.
Cây gai, nguyên liệu chính làm bánh gai
Cây gai, nguyên liệu chính làm bánh gai
Nhân bánh cũng được chuẩn bị công phu không kém. Mỡ cánh (mỡ cổ lợn) được muối bằng đường thật khéo, sao cho mỡ lợn không còn ngấy, có độ giòn như mứt bí. Hạt sen chế biến sao cho mỗi hạt đều mềm và không nát, còn nguyên hương vị.
Bánh gai được nặn lên bằng bàn tay của những người thợ bánh khéo léo có hình vuông nhỏ nhỏ xinh xinh mà chất chứa trong đó là bao nhiêu đặc sản của đất trời.
Sau khi nặn, bánh được gói bằng lá chuối khô, gói nhiều lớp để có thể giữ bánh được lâu và mang đi xa. Người Ninh Giang không luộc bánh gai mà hấp trong khoảng hai tiếng đến khi bánh dậy mùi thơm ngậy đặc trưng.
Khi ăn bánh, thực khách sẽ phải ngất ngây với vị ngọt mà thanh, vị ngậy mà không ngán, lại dẻo mịn từ vỏ bánh đến mềm xốp của nhân bánh.
Minh Phan (tổng hợp)

Chu du làng cây cảnh đẹp nhất trời Nam

(Dân trí) - Thành Nam vốn nổi tiếng với 4 làng “Vị”: Vị Hoàng và Vị Xuyên với chuối ngự tiến vua, hoa quả để cúng tiến, Vị Lương với ẩm thực và Vị Khê với nghề cây cảnh “danh bất hư truyền”…

Làng Vị Khê (Điền Xá, Nam Trực, Nam Định) là một thôn nằm dọc bờ sông Hồng, đất đai màu mỡ, ruộng đồng phì nhiêu. Đây là một làng hoa, làng cây cảnh không chỉ nổi tiếng cả nước. Theo ngọc phả đình Vị Khê, nghề trồng hoa cây cảnh làng Vị Khê có từ thế kỷ XIII (1211) do Thái uý Tô Trung Tự truyền dạy.
Mỗi thế cây, dáng cây còn được tạo thếvới những vẻ đẹp khác nhau và mang một triết lý khác nhau
Mỗi thế cây, dáng cây còn được tạo thếvới những vẻ đẹp khác nhau và mang một triết lý khác nhau
Mỗi thế cây, dáng cây còn được tạo thếvới những vẻ đẹp khác nhau và mang một triết lý khác nhau
Với người Vị Khê, nghe tên gọi, ngắm thế cây, hiểu được phần nào triết lý nhân sinh của ông cha mình thuở trước, chuộng sự thanh cao (hạc lập), cương trực (trực siêu) cùng nếp sống gia đình hòa thuận, với tình cảm mẹ con ôm ấp thân thương (mẫu tử tương thân), với sự dìu dắt của người cha đối với con trai đang rụt rè dấn bước trên đường đời đầy chông gai, cạm bẫy (phụ tử tương tùy)...
Vị Khê, Điền Xá không chỉ là làng hoa mà còn là làng cây cảnh với đa, sung, lộc vừng, sanh, si, tùng, tùng La Hán...Với nhiều kiểu dáng thế cây phong phú, đa dạng như long thăng, long giáng, trực, trực quân tử, trực siêu, thế huyền, thế song phục, huynh đệ, mẫu tử tương thân, phụ tử tương tuỳ...
Mỗi thế cây, dáng cây còn được tạo thếvới những vẻ đẹp khác nhau và mang một triết lý khác nhau. Đối với cây thế Trực, phải phù hợp với những gia đình có cách sống trung thực, có trước, có sau. Bộ tứ quý là cầu mong cuộc sống 4 mùa đều ấm no đầy đủ. Bộ Ngũ phúc khẳng định gia đình có phúc hậu, có đức độ và con cháu thành đạt. Bộ huynh đệ đồng khoa là gia đình vinh hiển... Nhìn vào gia đình chơi bộ cây nào, khách đến chơi có thể hiểu được phần nào về gia đình đó. Nhưng thế cây còn là bài học để các cụ răn dạy con cháu ăn ở có lễ nghĩa, chuyên cần học tập và vươn tới một cuộc sống no đủ, hạnh phúc...
Mỗi thế cây, dáng cây còn được tạo thếvới những vẻ đẹp khác nhau và mang một triết lý khác nhau
Những ngày cuối năm, về với làng hoa Vị Khê thấy bát ngát những vườn hoa, cây cảnh, cây thế chen nhau nối liền từ trong làng ra tới tận chân con đê đại hà
Những nghệ nhân cây cảnh ở Vị Khê bảo rằng, dù có tỉa, có uốn theo dáng nào đi nữa, với những triết lý thổi hồn vào từng thế cây, ông cha ta cũng luôn hướng đến chân - thiện - mỹ, cái gốc trường tồn của sự sống bao đời. Tâm hồn thanh khiết của bậc tiền nhân được lưu giữ trên mỗi góc vườn, nhành cây nhắc nhở con cháu về tính nhân văn của nghề truyền thống.
Để tạo được dáng cây, những nghệ nhân có khi phải dành cả cuộc đời với sự tỉ mỉ, kiên trì, uốn tỉa tạo dáng cho từng nhánh cây, chồi cây, có khi phải mấy năm mới hình thành một nhánh cây đẹp.
Những ngày cuối năm, về với làng hoa Vị Khê thấy bát ngát những vườn hoa, cây cảnh, cây thế chen nhau nối liền từ trong làng ra tới tận chân con đê đại hà. Ngay cả dưới chân đê phía bờ sông, là những thảm hoa đủ các màu rực rỡ.
Từ trên bờ sông Hồng nhìn xuống cả làng, nhà nào cũng trồng cây cảnh, cây thế
Từ trên bờ sông Hồng nhìn xuống cả làng, nhà nào cũng trồng cây cảnh, cây thế
Vào thời gian này, du khách tới Vị Khê sẽ được đắm mình trong một không gian trong lành với cỏ cây hoa lá, được ngắm nhiều loại hoa quý hiếm của dân tộc cùng các loại hoa mới đang du nhập vào Việt Nam như lan tiêu, móng rồng, mộc hương, ngọc lan, dạ hợp, hoa nhài, phong lan, ngọc điểm, vanđa, hồ điệp, phi điệp, đuôi chồn và các loại hoa nghinh xuân như mai hồng, mai vàng, trà my, đỗ quyên, đào bích, đào phai nở đúng vào dịp Tết Nguyên đán, rực rỡ trong nắng xuân, gợi lên sự sum họp đề huề, mang ước vọng cầu mong Phúc - Lộc - Thọ bất tận cho mọi nhà.
Từ trên bờ sông Hồng nhìn xuống cả làng, nhà nào cũng trồng cây cảnh, cây thế. Nhiều nhất là các loại cây: Sanh, Si, Tùng La Hán, Vạn Tuế, cau Vua... được uốn tỉa chăm sóc công phu thành các dáng, thế, ẩn chứa quan niệm triết học Phương Đông tạo nên sự kỳ thú hấp dẫn du khách.
Minh Phan (tổng hợp

Ngày cuối năm ở làng cây cảnh Vị Khê, Nam Định

Cùng ghé thăm Nam Trực (Nam Định) vào những ngày giáp Tết Bính Thân để tìm hiểu nghề trồng cây cảnh nổi tiếng nơi đây.

Theo VTV)

Kỳ lạ cây 400 năm tuổi có khả năng "cứu" ngư dân

Từ lâu cây sộp cổ thụ có tuổi đời trên 400 năm tại tổ 2, thị trấn Vạn Giã, huyện Vạn Ninh (tỉnh Khánh Hòa) được biết đến như là một “nhà dự báo” thời tiết đại tài của ngư dân.

Cây sộp này có đường kính bóng mát 20m, cao khoảng 30m. Theo những bậc cao niên trong vùng, mỗi khi trời sắp mưa, những chùm rễ của cây sộp sẽ tự động chuyển sang màu trắng. Khi thấy dấu hiệu này, ngư dân trong vùng sẽ cho tàu thuyền nằm bờ nhằm hạn chế tai nạn xảy ra.
 
Kỳ lạ cây 400 năm tuổi có khả năng cứu ngư dân
Ông Nguyễn Hồng Sơn, Trưởng ban quản lý khu di tích cây Sộp Vạn Giã, nơi chăm sóc cây sộp cho biết: “Khả năng dự báo thời tiết khi trời sắp mưa của cây được người trong vùng khẳng định từ lâu nay rồi. Còn về độ tuổi của cây, dùng phương pháp "siêu tra, suy sâu", tức là hỏi từ những ông cố, ông sơ trong vùng thì biết rằng cây đã có từ cách đây 400 năm”.
Chùm ảnh cây sộp có khả năng dự báo thời tiết:
Theo

Theo

Theo

Theo
Theo Một thế giới

Kinh nghiệm dân gian dùng lá lốt chữa 'bệnh nhà giàu'

Gần đây một số người mắc bệnh gút (gout) đã truyền nhau kinh nghiệm ăn các món có lá lốt để điều trị căn bệnh vốn được cho là “bệnh của nhà giàu”.

Cây lá lốt (tên khoa học là Piper lolot C. DC) thuộc họ Hồ tiêu (Piperaceae) là một loại cây thảo sống dai thường mọc nơi ẩm ướt ở trung du, miền núi có chiều cao 30 – 40cm, mọc bò, thân cành có phủ ít lông và phồng lên ở các mấu.
Lá đơn nguyên mọc so le, hình tim, rộng, nhẵn, mép uốn lượn, đáy hình tim, đầu lá thuôn nhọn, gân lá chằng chịt hình mạng lưới, cuống lá có bẹ ở gốc. Cụm hoa là một bông đơn độc ở kẽ lá. Quả mọng chứa một hạt. Cây ra hoa, có quả vào mùa thu, từ tháng 8 đến 10. Rễ, thân làm vị thuốc, lá dùng như một loại rau ăn hoặc làm thuốc. Theo kết quả nghiên cứu hiện đại, lá lốt có tác dụng kháng khuẩn, chống viêm và giảm đau khá tốt.
Theo Đông y, lá lốt có vị nồng, hơi cay, tính ấm, công dụng ôn trung (làm ấm bụng); tán hàn (trừ lạnh); hạ khí (đưa khí đi xuống); chỉ thống (giảm đau); yêu cước thống (đau lưng, đau chân), tỵ uyên (mũi chảy nước tanh thối kéo dài), trị nôn mửa, đầy hơi, khó tiêu...
Kinh nghiệm dân gian thường dùng lá lốt đơn lẻ hoặc phối hợp với một số vị thuốc khác như rễ cỏ xước, lá xương sông, rễ bưởi bung... sắc lấy nước uống hoặc ngâm tay chân để chữa các chứng đau nhức xương khớp, đau vùng ngực và bụng do lạnh; chứng ra nhiều mồ hôi tay, chân; mụn nhọt, đau đầu, đau răng…
Lá lốt có thể dùng tươi, phơi hay sấy khô, mỗi người chỉ nên ăn từ 50 – 100g lá lốt mỗi ngày. Gần đây một số người mắc bệnh gút (gout) đã truyền nhau kinh nghiệm ăn các món có lá lốt để điều trị căn bệnh vốn được cho là “bệnh của nhà giàu”.
Kinh nghiệm dân gian dùng lá lốt chữa bệnh nhà giàu
Lá lốt có tác dụng kháng khuẩn, chống viêm và giảm đau... Sau đây là một số tác dụng của cây lốt.
- Chữa đau nhức xương, khớp khi trời lạnh: 5-10g lá lốt phơi khô (15-30g lá tươi), sắc 2 bát nước còn ½ bát, uống trong ngày. Uống khi thuốc còn ấm, nên uống sau bữa ăn tối. Mỗi liệu trình điều trị 10 ngày hoặc lá lốt và rễ các cây bưởi bung, vòi voi, cỏ xước (mỗi vị 30g), tất cả đều dùng tươi thái mỏng, sao vàng, sắc với 600ml nước, còn 200ml chia 3 lần uống trong ngày. Uống liên tục trong 7 ngày.
- Chữa đau bụng do nhiễm lạnh: Lá lốt tươi 20g, rửa sạch, đun với 300ml nước còn 100ml. Uống trong ngày khi thuốc còn ấm, nên uống trước bữa ăn tối. Dùng liên tục trong 2 ngày.
- Chữa chứng ra nhiều mồ hôi ở tay, chân: Lá lốt tươi 30g, rửa sạch, để ráo cho vào 1 lít nước đun sôi khoảng 3 phút, khi sôi cho thêm ít muối, để ấm dùng ngâm hai bàn tay, hai bàn chân thường xuyên trước khi đi ngủ tối. Thực hiện liên tục trong 5-7 ngày. Hoặc lá lốt 30g, thái nhỏ, sao vàng hạ thổ. Sắc với 3 bát nước còn 1 bát. Chia 2 lần, uống trong ngày. Uống trong 7 ngày liền. Sau khi ngừng uống thuốc 4 đến 5 ngày lại tiếp tục uống một tuần nữa.
- Chữa bệnh tổ đỉa ở bàn tay: 30g lá lốt tươi, rửa sạch, giã nát, vắt lấy 1 bát nước đặc, uống trong ngày. Còn bã cho vào nồi đun với 3 bát nước, đun sôi khoảng 5 phút rồi vớt bã để riêng. Nước dùng để rửa nơi có tổ đỉa, sau đó lau khô lấy bã đắp lên, băng lại. Ngày làm 1-2 lần, liên tục trong 5-7 ngày.
- Chữa phù thũng do suy thận: Lá lốt 20g, cà gai leo, rễ mỏ quạ, rễ tầm gai, lá đa lông, mã đề mỗi vị 10g. Sắc với 500ml nước còn 150ml, uống trong ngày. Uống sau bữa ăn trưa khi thuốc còn ấm. Dùng trong 3-5 ngày.
-Chữa mụn nhọt vỡ mủ lâu ngày không liền miệng: Lá lốt, lá chanh, lá ráy, tía tô, mỗi vị 15g. Cách làm: Trước tiên lấy lớp vỏ trong của cây chanh (bỏ vỏ ngoài) phơi khô, giã nhỏ, rây bột mịn rắc vào vết thương, sau đó các dược liệu trên rửa sạch, giã nhỏ đắp vào nơi có mụn nhọt rồi băng lại. Ngày đắp 1 lần. Đắp trong 3 ngày.
- Chữa đầu gối sưng đau: Lá lốt, ngải cứu mỗi vị 20g (tất cả dùng tươi), rửa sạch, giã nát, thêm giấm chưng nóng, đắp, chườm nơi đầu gối sưng đau. Mỗi liệu trình điều trị 10 ngày. Hoặc lá lốt và rễ các cây bưởi bung, vòi voi, cỏ xước, mỗi vị 30g, tất cả đều dùng tươi thái mỏng, sao vàng, sắc với 600ml nước, còn 200ml chia 3 lần uống trong ngày. Uống liên tục trong 7 ngày.
Đặc biệt, món canh lá lốt nấu với thịt, cá là món ăn bổ dưỡng, giúp người già chống đỡ được một số bệnh tật, nhất là làm giảm đau nhức xương, khớp nhất là trong lúc giao mùa, từ mùa hại chuyển sang mùa thu.

7 phương thuốc dùng cho Hoàng đế Trung Hoa đến nay còn ứng dụng

Nhân ngày đầu xuân năm mới, xin nêu một số phương thuốc tiêu biểu mà ngày nay vẫn lưu truyền, được sử dụng khá hiệu quả trong trị liệu nhiều bệnh.

Nếu điểm qua từ Âu đến Á, từ Đông chí Tây về các phương thuốc nổi tiếng thời cổ xưa, có lẽ nổi bật nhất vẫn là những cổ phương được hình thành trong thời gian thịnh vượng nhất của các triều đại phong kiến Trung Hoa.
Những cổ phương ấy còn lưu lại ở những y thư. Nhân ngày đầu xuân năm mới, xin chỉ nêu một số cổ phương tiêu biểu mà ngày nay vẫn lưu truyền, được sử dụng khá hiệu quả trong trị liệu nhiều bệnh.
Bát tiên trường thọ
Điều mong ước “Trường sinh bất lão” không những chỉ là giới quyền quý cao sang mà còn là ước mơ của nhân loại. Bởi vậy, ngay từ thời xa xưa, các danh y đã dày công tìm kiếm những phương thuốc có công hiệu ấy. Trong quá trình tìm kiếm, họ đã phát hiện ra một phương thuốc thần diệu như thuốc tiên để kéo dài tuổi thọ. Đây là phương thuốc được các danh y Trung Quốc đã tìm ra có lẽ vào thời Tây Hán và đặt tên là “Bát tiên trường thọ” (có lẽ phương thuốc được các danh y nổi tiếng thời bấy giờ như thánh y Trương Trọng Cảnh mà khi ấy vị vua trị vì là Hán Vũ Đế, tên thật là Lưu Triệt (156 TCN – 87 TCN), là vị Hoàng đế thứ bảy của nhà Tây Hán trong lịch sử Trung Quốc.
Tương truyền vua Vũ Đế đời nhà Hán (Trung Quốc) muốn bất tử nên đã sai các bậc lương y nổi tiếng thời ấy chế ra các thuốc Đan sa để uống. Do uống nhiều quá, chẳng những không thành tiên để hưởng sự bất tử, mà nhà vua còn mắc thêm chứng bệnh bị sốt, khát nước, đi tiểu nhiều lần…, làm sức khỏe suy sụp. Trương Trọng Cảnh (tên hiệu là Tràng Sa), là một lương y nổi tiếng của Trung Quốc thời bấy giờ, đã chế ra phương thuốc “Bát vị” sắc cho nhà vua uống làm sức khỏe của vua hồi phục. Về sau qua ứng dụng trong trị liệu, Thánh y Trương Trọng Cảnh, Tiên Ất và các bậc lương y nổi tiếng khác tiếp tục gia giảm, biến hóa thành "Bát tiên trường thọ” và được lưu giữ, ứng dụng cho đến ngày nay.
7 phương thuốc dùng cho Hoàng đế Trung Hoa đến nay còn ứng dụng
Hán Vũ Đế (156-87 TCN)
Phương thuốc ”Bát tiên trường thọ” ta thấy nó tác dụng đến các tạng phủ của cơ thể khiến có công năng kéo dài tuổi thọ đến thần diệu.
Phương thuốc có tám vị, như các danh y xưa đã chọn. Với cách phối ngũ thật tuyệt vời khiến phương thuốc đã phát sinh công năng tăng cường tối đa việc bồi bổ thận âm nhằm kéo dài tuổi thọ cho cơ thể.
Phương “Bát tiên trường thọ” bao gồm các vị như Thục đia 16g, Sơn thù 8g, Hoài sơn 8g, Phục linh 6g, Đơn bì 6g,Trạch tả 6g, Mạch môn 6g, Ngũ vị tử 4g. Ngày uống 1 thang, chia 3 lần, cần uống liền 7 – 10 ngày...
Xét từng vị trong phương cho thấy: Thục đia có tác dụng trực tiếp vào thận để bổ thận âm, bổ tinh, sinh huyết. Vị Sơn thù tác dụng bổ liễm âm, giữ tinh, ích khí, đuổi phong tà, phối hợp để tăng tác dụng bổ thận âm của vị thục địa. Hoài sơn tác dụng vừa bổ thận, vừa kiện tỳ, phối hơp với phục linh giúp cho tỳ vị tăng cường khả năng vận hóa chất dinh dưỡng từ thức ăn, uống để nuôi cơ thể và biến thành tinh, huyết đưa về tàng trữ tại thận. Phục linh được phối hợp với Hoài sơn để kiện tỳ vị, vừa thanh trừ thấp nhiệt ở hạ tiêu, làm cho thận âm khỏi bị hao tán. Đơn bì tác dụng thanh trừ nhiệt ở tạng can, tạng tâm để yên cho tạng thận. Trạch tả tác dụng lợi tiểu để trừ thấp nhiệt ở hạ tiêu, làm dưỡng khí bố lên làm thính tai, mắt. Mạch môn tác dụng bổ phế âm, tức là gián tiếp bổ thận âm lại còn có tác dụng thanh nhiệt ở tạng tâm. Ngũ vị tử tác dụng bổ thận, dưỡng tâm huyết, sinh tân dịch.
Phương “Kim quỹ thận khí hoàn” của Thánh y Trương Trọng Cảnh.
Vào thời Đông Hán (năm 25 - 220 sau Công Nguyên, còn gọi là thời Hậu Hán), Thánh y Trương Trọng Cảnh (các thầy thuốc về sau đều gọi là Tôn Sư, tôn ông là Thầy, vì công lao trước tác của ông để lại cho hậu thế quá lớn. Trong Đông y tôn ông là Y Thánh) đã lập ra phương Bát vị thận khí hoàn (còn gọi là Kim quỹ thận khí hoàn, Quế phụ địa hoàng hoàn, để phân biệt với Tế sinh thận khí hoàn). Cho tới ngày nay phương thuốc này vẫn được trọng dụng.
Phương thuốc gồm: Can địa hoàng (Sinh địa) 32g, Sơn dược 16g, Sơn thù (sao rượu) 16g, Phục linh 12g, Trạch tả 12g, Đan bì 12g, Quế chi 8g, Phụ tử (chế) 8g.
Toàn phương có công năng chủ trị các chứng thận dương bất túc. Lưng là phủ của Thận, Thận là gốc của Tiên thiên, trong đó ẩn chứa Mệnh môn hỏa. Nơi động khí của Thận chính là Mệnh môn. Nạn thứ 8 sách Nạn Kinh có chép: “Đây là rễ của mười hai kinh mạch, là cửa của hô hấp, là nguồn của tam tiêu”. Đàm ẩm, thủy thũng, cước khí, chuyển bào (phụ nữ có thai bí tiểu (dùng cẩn thận)). Lưng đau chân mỏi, từ nửa thân trở xuống thường lạnh giá, bụng dưới đau co thắt, tiểu tiện không thông, hoặc tiện nhiều lần, về đêm càng tiểu nhiều, dương nuy (liệt dương), tảo tiết (xuất tinh sớm). Lưỡi nhạt mà nhớt, mạch hư nhược. Bộ xích trầm tế.
Đến giai đoạn triều nhà Thanh cũng là thời thịnh vượng nhất trong các triều chính phong kiến Trung Quốc. Bởi vậy ngoài yêu cầu “trường sinh bất lão” người ta còn có nhu cầu làm đẹp. Từ đó mà nhiều phương thuốc trường sinh và dưỡng nhan được ra đời.
Như chúng ta đã biết, Từ Hy là người thống trị thực tế của cả hai triều Đông Trị và Quang Trị cuối đời Thanh Trung Quốc. Bà là một người không chỉ giỏi về mưu kế thao lược, quyền hành mà còn là một người có thuật làm đẹp thật xuất sắc. Chính vì vậy mà ngay cả khi bà đã bước vào tuổi cao niên nhưng dung nhan của Từ Hy vẫn không suy giảm, bà vẫn giữ được phong thái như xưa, luôn trường thọ, bất lão. Dưới đây xin giới thiệu những bí phương mà thời nhà Thanh Từ Hy Thái Hậu đã tin dùng.
7 phương thuốc dùng cho Hoàng đế Trung Hoa đến nay còn ứng dụng
Từ Hy Thái Hậu (1835-1908)
Một số phương từ cúc hoa dùng trong các phương thuốc dưới đây là các loại cúc như Cam cúc, bạch cúc hoa, cúc hoa hồng, hoàng cúc,…đều thuộc họ Cúc Asteracae (Compositae).
Cúc hoa diên linh cao (phương thuốc bí truyền trích từ trong cuốn “Từ Hy Quang Tự y phương tuyển nghị” của Trần Khả Dực đời nhà Thanh)
Cách chế đơn giản chỉ cần đem những cánh hoa cúc tươi (mỗi lần có thể nấu chừng 2kg; nếu là hoa cúc khô thì có thể nấu mỗi lần chừng 500g là vừa) đổ ngập nước, nấu còn một nửa, lọc bỏ bã, lấy nước cô lại cho đặc. Trộn nước thuốc này với mật ong để nấu thành cao. Ngày uống 2 - 3 lần, mỗi lần dùng 12 - 15g pha với nước sôi để nguội, uống vào lúc đói bụng.
Trong phương này gia thêm mật ong trắng cho cô lại thành cao thì càng tăng cường tác dụng tích cực, khiến con người cơ thể nhẹ nhàng mà không có cảm giác đói, trẻ lâu, kéo dài tuổi thọ vì mật ong có tính vị cam bình, bổ trung ích khí, nhuận phế, giải độc hết đau, thanh nhiệt lọc máu…
Dùng cao này thường xuyên có thể làm da dẻ hồng hào tươi mịn, tóc xanh… Bởi thế mà ngày xưa Từ Hy Thái Hậu đặc biệt yêu thích dùng cao Cúc hoa để được trường sinh bất lão. Đây là phương thuốc do Trương Trọng Nguyên và Đào Bảo Sinh chế cho Từ Hy Thái Hậu uống để sống lâu và giữ sắc đẹp lâu bền .
Bột Cúc hoa tăng sắc đẹp (theo sách “Bảo Phác Tử” của Cát Hồng đời Tần)
Hoa Cúc trắng 500g (hái ngày 9 tháng 9 âm lịch), Phục Linh 500g. Hai vị tán bột, trộn đều. Mỗi lần uống 6g với rượu ấm, ngày 3 lần. Uống lâu ngày sắc mặt sẽ hồng nhuận, mịn màng diễm lệ. Bài thuốc này ở sách “Phố tế phương” của Chu Túc, đời Minh. Gọi là trường thọ cúc hoa tán, có tác dụng tăng tuổi thọ.
Dưỡng thọ đơn (Theo sách “Ngự dược viên phương” của Hứa Quốc Trinh)
Cúc hoa, Câu kỷ tự, Viễn chí, Thạch xương bồ, Ba kích, Bạch truật, Phục linh, Địa cốt bì, Tục đoạn, Tế tân,Thục địa, Xa tiền tử, Hà thủ ô, Nhục thung dung, Thỏ ty tử, Phúc bồn tử. Mỗi thứ 30g, tán bột, luyện với mật ong, viên bằng hạt ngô, mỗi lần uống 10g, ngày 2 lần, lúc bụng đói. Phương thuốc này bổ ngũ tạng, làm đẹp dung nhan, uống lâu càng khỏe và lâu già.
Cam cúc phương:
Mầm cúc lấy vào thượng tuần tháng 3, lá cúc hái vào tháng 6, hoa cúc hái vào tháng 9, nhổ cả cây, rễ vào tháng 12, cả 4 thứ phơi trong râm cho khô, số lượng bằng nhau tán nhỏ.
Liều dùng 1 đồng cân/lần, ngày 3 lần, hoặc luyện với mật ong, làm viên bằng hạt ngô, liều 7 viên mỗi lần, ngày 3 lần. Uống liền trong 100 ngày sẽ kéo dài tuổi thọ.
Rượu Cúc:
Người xưa thường dùng hoa cúc kèm với nếp để cất rượu, gọi là “rượu cúc” hay còn gọi là “Hoàng hoa tửu”. Kinh Thi có câu “Thu ẩm hoàng hoa tửu” - mùa thu uống rượu hoa cúc.
Những ai không dùng được rượu có thể thưởng trà cúc, theo cách đơn giản như sau: Trà không ướp, bạch cúc (hoa cúc trắng khô), cam thảo; sau khi hãm rót trà ra chén, lấy một bông cúc trong bình trà thả vào chén trà, thì cũng sẽ có đủ “vị, hương, sắc” của bạch cúc hoa.
7 phương thuốc dùng cho Hoàng đế Trung Hoa đến nay còn ứng dụng
Lương y Trương Trọng Cảnh
Làm cho da tươi mịn, mềm mại, chống lão hóa:
Đây là phương “Từ Hy Thái Hậu trú nhang phương” được trích trong “Ngự hương phiêu diên lạc” là một bí phương chỉ sử dụng trong triều chính Trung Hoa, ngày xưa được sử dụng cho Từ Hy Thái Hậu để lảm đẹp và luôn trường thọ bất lão.
Dược liệu: Trân châu, lượng tùy ý.
Cách bào chế: Rửa sạch lấy vải bọc lại, đem nấu với đậu phụ khoảng 2 giờ, thì vớt trân châu ra giã nghiền nát thành bột mịn, để khô cất đi dùng dần.
Cách dùng: Mỗi ngày uống từ 7 – 8g bột trân châu với nước trà nóng. Nhớ phải cách 10 ngày mới uống 1 lần nữa như vậy.
Là một dược liệu được coi là vị thuốc quý, vì trong trân châu có chứa trên 10 loại acid amine và nhiều yếu tố vi lượng rất cần cho cơ thể, đặc biệt là có thể cải thiện được trạng thái dinh dưỡng của da và còn làm tăng cường hoạt lực của adenosine triphosphate, ATP trong tế bào cơ thể. Từ đó thúc đẩy quá trình trao đổi chất vì vậy trân châu được xem là vị thuốc dưỡng nhan, làm đẹp.
Tuy vậy trân châu không chỉ là vị thuốc làm đẹp mà còn được sử dụng để bào chế thành những loại thuốc chữa bệnh rất hiệu quả, nổi tiếng dùng làm thuốc an thần, thanh nhiệt, bổ âm, sáng mắt, giải độc và sinh cơ nhục...
Thật vậy, trong công nghiệp dược hiện đại trân châu (ngọc trai) vẫn được sử dụng để làm thuốc để chữa trị nhiều bệnh. Chẳng hạn những viên trân châu được nghiền thành bột để trở thành một loại thuốc bổ sung can xi cao cấp.
Người ta đã nghiên cứu thấy, can xi trong trân châu có khả năng cân bằng dinh dưỡng. Cụ thể là có rất nhiều những thành phần mà cơ thể con người cần thiết như các loại acide amino, vitamine và cùng những nguyên tố vi lượng với một tỷ lệ hợp lý nên có lợi cho quá trình hấp thụ canxi của con người, song ở ngọc trai lại có tính hấp thu tốt, tỷ lệ hấp thụ bình quân đạt tới 95%.
Người ta còn phát hiện ra 10 tác dụng lớn của canxi ở trân châu như phòng trị chứng loãng xương, tăng sản tố chất xương, phòng chống chứng nhuyễn xương ở trẻ, thúc đẩy sự phát triển xương cốt ở cả thanh thiếu niên.
Trân châu còn khả năng phòng chống bệnh cao huyết áp và xơ vữa động mạch hay tắc mạch máu não. Bảo hộ chức năng hệ thần kinh, chống lại sự co rút cơ bắp, thống kinh hay hội chứng khi mang thai. Tăng cường hệ miễn dịch cho cơ thể, chống mệt mỏi và kéo dài tuổi thọ. Duy trì chế độ canxi ổn định cho cơ thể, bổ gan và phòng chống sỏi thận. Tăng cường chức năng của hệ thần kinh trung ương, ổn định tinh thần, nâng cao chất lượng giấc ngủ. Tăng cường sự co bóp của cơ tim, chống lại hiện tượng mạch đập thất thường đồng thời phòng chống những bệnh liên quan đến động mạch vành. Điều tiết kiềm và axit trong cơ thể, còn điều tiết được cả lượng đường trong máu để phòng ngừa chứng tiểu đường.
Ngoài ra trân châu còn khả năng điều tiết cả các cơ ở vùng mắt, phòng chống bệnh xơ cứng động mạch ở đáy mắt, kể cả chứng đục thủy tinh thể, tăng cường thể lực.

Quảng Ngãi: Lạ kỳ giếng nước nóng giữa đồng

Không biết từ bao giờ nơi cánh đồng cạnh con sông xanh ở thôn Hà Bắc, xã Sơn Hạ (Sơn Hà, Quảng Ngãi) lại xuất hiện một giếng nước nóng. Cứ chiều đông về, người làng lại kéo nhau ra đồng tắm… nước nóng!

Bất cứ ai ngược xuôi trên tuyến Tỉnh lộ 623 qua xã Sơn Hạ vào mỗi chiều tà đều bắt gặp trên cánh đồng Gò Rộc, thôn Hà Bắc có rất nhiều người lưng trần vây quanh một cái giếng đang bốc hơi nghi ngút. Họ đang tắm!
“Bình nước nóng của làng”
Bỏ qua một chút tâm lý ngại ngùng, chúng tôi dừng xe xuống xem mọi người… tắm! Nói đúng hơn là nghe những câu chuyện kể về cảm giác thú vị của họ khi tắm nước nóng giữa đồng. Đi bộ men theo bờ ruộng nhỏ, quanh co, sau 10 phút giếng đang bốc hơi nghi ngút hiện ra trước mắt. Nước tràn đến tận miệng giếng.
Quảng Ngãi: Lạ kỳ giếng nước nóng giữa đồng
Trẻ con thôn Hà Bắc thích thú khi “tắm nước nóng giữa đồng”.
Đám trẻ con tranh nhau những hòn đá làm chỗ ngồi và bắt đầu dùng ca nhựa múc nước xối bung từ trên đầu xuống. Vừa tắm chúng vừa nói cười, trò chuyện bằng tiếng Hrê. Anh Đinh Văn Xa, thôn Hà Bắc (Sơn Hạ) đứng cạnh “phiên dịch”: “Bọn trẻ bảo trời mấy hôm nay lạnh, tắm thích hơn mấy ngày trước. Tắm xong về ăn cơm ngon lắm”.
Tiến lại gần giếng, nhìn vào mặt nước trong veo, mọi người sẽ thật sự cảm thấy bất ngờ. Nước không sâu, nhưng từ dưới lòng giếng có một lực nào đấy cứ đẩy nước lên mãi, cuộn từng vòng kêu ùng ục. Hàng chục người múc liên tục để tắm nhưng nước chẳng vơi. Đưa tay khoát nước lên rửa mặt, nước ấm nóng chẳng khác gì đã được pha “đủ độ” theo cách hiện đại của bình nước nóng.
Quanh cái miệng giếng nhỏ được ví như “bình nước nóng của làng”, bao câu chuyện làm ăn, nuôi dạy con cái cứ râm ran mãi. Rồi cả cái chuyện tắm nước nóng giữa đồng mà cả làng chẳng ai còn bị bệnh ghẻ ngứa, vẩy nến nữa. Nghe câu chuyện của chính những người làng này, tôi hiểu thêm rằng, họ ra đồng tắm nước nóng mỗi ngày không chỉ vì thích thú, hiếu kỳ mà cả vì sức khỏe nữa.
Giếng lành
Chị Nguyễn Thị Hương, thôn Hà Bắc có nhà bên tuyến Tỉnh lộ 623 trước kia từng bị vẩy nến rất nặng. Thuốc đông tây y trong Nam ngoài Bắc đủ cả nhưng bệnh chẳng thuyên giảm. Thế mà từ ngày nghe các già làng ở Hà Bắc bảo rằng cứ đi tắm nước nóng ở cái giếng giữa cánh đồng kia sẽ khỏi. Và thế là chị kiên trì mỗi chiều như vậy, giờ đã khỏi hẳn. Chị nhớ lại: “Cái bệnh vẩy nến khiến tôi khổ tâm lắm. Sau mấy năm trời kiên trì tắm nước nóng ở giếng làng, bệnh tôi khỏi hẳn. Tôi khuyên mọi người, ai mắc bệnh như tôi, hãy về đây mà tắm”.
Lời mời của chị Hương phần nào đó lại là nỗi lo của làng. Chuyện lành từ giếng nước nóng ở thôn Hà Bắc này lan nhanh, người tìm về đây tắm mỗi ngày nhiều hơn. Giếng nằm giữa đồng, không có lối đi, muốn xuống tắm phải men theo bờ ruộng nhỏ. Không ít người đã dẫm đạp nát hết lúa của bà con. Bà con buồn nên không muốn có thêm người về giếng này tắm nữa.
Người dân Hà Bắc tự hào về giữa đồng nhưng lại không muốn nhiều người biết đến, tìm về là có nguyên do. Bởi thế “cái giếng quý” chẳng được sửa soạn sạch đẹp mà trái lại rất tạm bợ.
“Mình mong có ai đó đứng ra đền bù đất cho dân làm con đường đi để mọi người đi tắm. Rồi làm cái nơi tắm cho đàng hoàng hơn” – già làng Đinh Văn Tía, thôn Hà Bắc chia sẻ.
Tiin

8 công dụng với sức khỏe của bí ngô mà bạn chưa biết

Bí ngô có rất nhiều vitamin và các loại khoáng chất đặc biệt cần thiết trong việc duy trì cơ thể khỏe mạnh.

Bạn có thể chế biến bí ngô theo nhiều cách, nhưng nước ép bí ngô là cách bảo toàn tốt nhất các chất dinh dưỡng có trong bí ngô.
Bí ngô là rất giàu vitamin như B1, B2, B6, C, E và beta carotene. Không chỉ vậy, bí ngô còn chứa nhiều kali, canxi, magiê, phốtpho, sắt, đường, carbohydrate và protein. Vì vậy mà bí ngô mang lại nhiều lợi ích sức khỏe.
Sau đây là tám lợi ích sức khỏe tuyệt vời của bí ngô:
Giúp loại bỏ trầm cảm
Nếu bạn thấy mình chán nản, suy sụp, hãy uống một cốc nước ép bí ngô, vì nó rất giàu L-tryptophan, một loại chất giúp tăng cảm giác hạnh phúc. Chúng ta sẽ thấy chán nản khi mức L-tryptophan trong cơ thể thấp. Nước ép bí ngô giúp làm tăng mức L-tryptophan và làm chúng ta thấy thoải mái và hạnh phúc.
8 công dụng với sức khỏe của bí ngô mà bạn chưa biết
Ảnh minh họa
Tốt cho thận
Nước ép bí ngô là loại đồ uống đã được chứng minh là mang lại nhiều lợi ích cho các bệnh nhân bị các bệnh liên quan đến thận.
Người bị sỏi thận có thể tự khỏi bệnh mà không cần phải phẫu thuật, nếu uống một ly nước ép bí ngô mỗi ngày cho đến khi hết sỏi trong thận.
Tuy nhiên, mức độ hiệu quả của nó còn phụ thuộc vào kích thước của viên sỏi. Bên cạnh đó, nước ép bí ngô còn giúp đào thải độc tố cho thận và giúp thận khỏe mạnh.
Làn da khỏe đẹp
Nước ép bí ngô giàu chất chống viêm, vì vậy mà nó giúp da không bị tổn thương do côn trùng cắn, mụn hay mụn trứng cá.
Uống nước ép bí ngô thường xuyên giúp thanh lọc và tăng cường sức khỏe cho làn da, loại bỏ mụn hay trứng cá. Vitamin C có trong nước ép bí ngô giúp tăng cường sức mạnh cho da và bảo vệ da khỏi bị viêm nhiễm. Vitamins A, C, E và kẽm cũng giúp làn da mau lành sau khi bị tổn thương do nhiệt.
Giảm táo bón
Nước ép bí ngô là loại đồ uống tốt cho hệ tiêu hóa. Nó rất giàu chất xơ, vì vậy mà giúp khắc phục tình trạng bị táo bón. Với những người bị táo bón, hãy uống một ly nước ép bí ngô trước khi đi ngủ buổi tối hay buổi sáng trước khi ăn sáng.
Tốt cho sức khỏe trái tim
Nước ép bí ngô có thể loại bỏ cholesterol xấu và làm sạch động mạch. Nó cũng có khả năng kiểm soát huyết áp cao và giúp trái tim đập tốt hơn. Vì vậy mà nó duy trì sức khỏe cho trái tim. Những người bị bệnh tim nên thường xuyên uống nước ép bí ngô để cải thiện tình trạng bệnh.
Ngăn ngừa loét dạ dày tá tràng
Nước ép bí ngô giúp ruột tiêu hóa thức ăn nhanh và giúp loại bỏ độc tố ra khỏi đường tiêu hóa. Vì vậy mà nước ép bí ngô có thể chữa lành vết loét dạ dày, tá tràng và các nhiễm trùng khác trong ruột.
Tốt cho đôi mắt
Nước ép bí ngô chứa rất nhiều beta-carotene, lutein và zeaxanthin, những hợp chất chịu trách nhiệm về sức khỏe của cơ mắt và các dây thần kinh liên quan đến mắt.
Thường xuyên uống nước ép bí ngô sẽ giúp bạn có một đôi mắt khỏe mạnh. Nước ép bí ngô cùng giúp đôi mắt không bị viêm nhiễm do sự thay đổi môi trường.
Các bệnh nhân bị loạn thị và thoái hóa điểm vàng nên uống nước ép bí ngô để cải thiện tình trạng bệnh. Loại nước ép này cũng là loại đồ uống tốt cho những người lớn tuổi bị bệnh đục thủy tinh thể.
Tốt cho hệ hô hấp
Chất chống oxy hóa và những chất có tính chất giảm đau trong nước ép bí ngô giúp ngăn ngừa bệnh hen suyễn dị ứng và giảm dần mức nghiêm trọng của bệnh.
Đối với trẻ em bị hen suyễn dị ứng, nước ép bí ngô là loại đồ uống tuyệt vời để cải thiện tình trạng bệnh

Trí Thức Trẻ