Thứ Tư, 1 tháng 4, 2015

Thế giới quà vặt ở Phú Yên

Gỏi sứa, chả xiên, bánh bèo chén, bánh canh hẹ hay chè mít đát là những món ăn vặt ở Phú Yên du khách không thể bỏ lỡ khi ghé thăm miền đất này.

Chả xiên, thịt nướng, bò lá lốt là quà vặt quen thuộc về đêm của nhiều bạn trẻ Tuy Hòa. Món ăn này được bày bán khá nhiều ở gần Quảng trường 1/4, các con đường dọc bờ biển. Mỗi xiên có giá 2.000-4.000 đồng ăn kèm rau thơm, xoài, nước chấm, các loại tương.
Bánh bèo chén được làm trong các khuôn là những chiếc chén nhỏ. Khi ăn, thực khách cho thêm mỡ hẹ, chà bông, vụn bánh mì giòn và nước mắm chua ngọt. Bánh được bày bán nhiều dưới chân núi Nhạn, giá 10.000-15.000 đồng mỗi khay 10 chén, bắt đầu vào chiều tối.
Cơm gà là món ăn đặc trưng của nhiều vùng miền Trung. Ở Phú Yên, bạn cũng có thể dễ dàng tìm những dĩa cơm gà ngon ngọt, chắc thịt, nước dùng đậm đà với giá 15.000-30.000 đồng.
Bánh canh hẹ là món ăn phổ biến ở Phú Yên. Nước dùng ninh từ cá biển tươi và xương cho ngọt. Khi nấu, đầu bếp sử dụng sợi bánh canh gạo mềm, dai, thêm cá dầm, chả cá và rau hẹ đặc trưng. Mỗi tô bánh canh có giá 8.000.-10.000 đồng.
Hải sản Phú Yên rất tươi ngon, giá cả phải chăng với nhiều sự lựa chọn như ghẹ, tôm, mực, ốc, cá ngừ đại dương. Bạn có thể ăn hải sản ở khu vực bờ kè Tuy Hòa nhưng có cơ hội đi xa hơn, hãy đến với Long Thủy, An Hải, Vũng Rô...
Buổi tối dạo mát ở Tuy Hòa, bạn hãy ghé một quán nướng vỉa hè dọc đường Hùng Vương. Nơi đây bày bán rất nhiều chân gà, cánh gà, cút nướng, lòng nướng, các loại ốc luộc với giá cả phải chăng.
Nem nướng Ninh Hòa là món ăn đã có mặt từ lâu ở Tuy Hòa, thu hút đông đảo thực khách.
Mỗi cuốn nem nướng có giá 6.000 đồng, ăn kèm nước mắm chua ngọt pha đậu phộng rang.
Chè mít đát là món lạ đặc trưng ở Phú Yên, được nấu đơn giản với 2 nguyên liệu mít và đát (một loại quả hái từ rừng ở địa phương) trong nước đường loãng có vị thanh, ăn rất mát. Bạn có thể dễ dàng ăn món chè này ở nhiều chợ tại Phú Yên, giá 3.000-5.000 đồng một ly.
Nằm nghỉ ngơi dưới bóng mát của những hàng dương và gió biển Tuy Hòa mát rượi, bạn hãy thưởng thức một dĩa gỏi sứa từ các hàng quán dọc bờ biển. Vị giòn sực của sứa hòa quyện với xoài, các loại rau thơm, đậu phộng tạo nét riêng cho món ăn.
Mực cơm nướng là món ăn làm say lòng thực khách khi đến với biển bãi Gốc Phú Yên.
Hồng Diễm


Bánh bèo chén - món ăn dung dị đất Phú Yên

Ngoài bánh canh hẹ, bột lọc, Phú Yên còn nổi tiếng với món bánh bèo chén hấp dẫn mà chỉ có gạo xứ Nẫu mới cho ra món ăn chơi thơm và dẻo đến vậy.


Bánh bèo là một trong những món ăn chơi có mặt ở hầu khắp các nơi. Theo đánh giá của nhiều người, dù là bánh bèo ở Huế hay nơi khác, đều cho ra hương vị không mấy khác nhau. Nhưng nếu đã thưởng thức bánh bèo Phú Yên một lần, bạn sẽ cảm nhận được nét rất riêng của món bánh xứ này.
Cách làm bánh bèo khá đơn giản, đầu tiên gạo thơm được đem xay nhuyễn đến khi thành bột. Thêm một chút muối vào bột, đổ từ từ nước lạnh và khuấy thật đều tay. Tiếp tục đổ vào nước sôi, khuấy đến khi bột tan đều mới thôi. Sau đó, ngâm bột qua đêm hoặc khoảng 4 đến 6 tiếng. Việc này giúp bánh khi ăn không có mùi bột chua và dai hơn.
anh-1-2492-1438998282.jpg
Một khay bánh bèo khoảng 10 chén có giá 10.000 đến 15.000 đồng. Ảnh: Khánh Bình
Khi gần đổ bánh, người làm sẽ gạn phần nước lắng màu trắng trong trên mặt thau bột đổ đi nhằm giúp bột trong hơn. Đổ đi bao nhiêu nước trắng thì thay vào đó bấy nhiêu nước ấm và khuấy nhẹ tay.
Sau đó, họ múc từng muỗng bột vào chén nhỏ và làm chín bằng cách hấp cách thủy. Khoảng 7 đến 8 phút, khi thấy chén bánh đổi sang màu trắng đục cũng là lúc bánh chín. Quyện vào từng chén nhỏ là hương bột gạo thơm nồng nàn lan tỏa.
Món bánh bèo Phú Yên thơm ngon hấp dẫn thực khách còn nằm ở việc chủ quán biết cách giữ chén bánh bèo nóng hổi trước khi phục vụ, phải trở tay nhiều lần mới cầm được chén bánh lên.
Một trong những nguyên liệu làm nên cái hồn của chén bánh bèo chính là chà bông, bánh mì chiên giòn và mỡ hành. Chà bông được làm bằng thịt heo, sợi mềm nhỏ, khô tơi xốp trông rất thích mắt. Vị của chà bông Phú Yên rất vừa vặn, không quá ngọt, cũng không quá mặn.
Riêng bánh mì sau khi chiên giòn được làm nhỏ ra thành từng miếng, trông giống từng tép mỡ, vàng ruộm, béo ngậy và rất xốp giòn. Còn mỡ hành, tuy là nguyên liệu nhỏ bé nhưng góp phần làm cho chén bánh trông bắt mắt và tươi ngon hơn.
Sau khi hoàn thành, người làm sẽ rắc ít chà bông, bánh mì và cả mỡ hành lên từng chiếc bánh bèo, xếp vào khay lớn khoảng 10 chén và dọn lên cho thực khách, kèm theo đó là nước mắm chua ngọt.
Trong tiết trời buổi tối se mát ở Phú Yên, cầm chén bánh bèo nóng hổi trên tay rưới lên từng muỗng nước mắm có vị cay khá đậm sẽ làm bạn cảm thấy món ăn chơi này ngon đến lạ lùng. Để thưởng thức được bánh bèo đúng vị, thực khách có thể tìm đến các hàng quán dưới chân núi Nhạn.
Lan Thoa

Nhớ con cá bống sông Trà kho tiêu

Cá bống sông Trà là một đặc sản được người Quảng Ngãi từ xưa tự hào: “Chim mía Xuân Phổ, kẹo gương Thu Xà, cá bống sông Trà, mạch nha Mộ Đức".
Đến bây giờ, cá bống sông Trà vẫn là một món ăn nổi tiếng, người khắp nơi đến Quảng Ngãi không thể bỏ qua. Cá bống sống nhiều ở đoạn sông Trà từ đuôi xã Tịnh Sơn, huyện Sơn Tịnh thẳng ra biển. Khoảng tháng 3 đến tháng 5 âm lịch, cá bống nhiều nhất, lúc này cá nhiều trứng, mập.
Cá bống sống. Ảnh: Vietravel.
Cá bống sống. Ảnh: Vietravel.
Ngày xưa, khi chưa có đập thủy lợi Thạch Nham, thời còn bờ xe nước, nước sông Trà đầy quanh năm và trong xanh, cá bống rất nhiều. Chúng thường găm dưới cát, chỉ cần bủa một tay lưới một thì bắt được cả tô cá. Cũng có người bắt cá bống bằng ống tre trống hai đầu, dài khoảng 1 m, dùng cọc nhọn cắm xuống đáy sông, cắm vào buổi chiều thì sáng hôm sau ngư dân lặn xuống bịt hai đầu ống và đổ cá ra đụt (vịt đựng). Cá bống ở trong ống rất to, nhiều con to hơn ngón tay cái. Ngư dân đem ra chợ bán, cá bống vẫn còn sống. Nhưng bây giờ thì sông Trà thường xuyên cạn nước, cá bống đang dần ít đi.  
Cá bống kho thơm phức. Ảnh: Odacsan.
Cá bống kho thơm phức. Ảnh: Odacsan.
Cá bống sông Trà có thể chế biến thành nhiều món, nhưng ngon nhất vẫn là cá bống kho tiêu. Muốn kho tiêu thật ngon, cá bống phải còn sống, đem về chà với muối để giảm bớt mùi tanh, sạch vảy, rửa sạch rồi cho vào nồi đất, ướp với gia vị như đường, nước mắm, tiêu, bột ngọt… cho thấm trước khi kho. Cá được kho rim với lửa nhỏ liu riu rồi tắt bếp, cá quéo lại, thịt săn chắc, rất thơm ngon.
Cá bống kho ngon nhất vẫn là kho bằng cái trách đất, niêu đất… Món cá bống kho tiêu ăn với cơm nóng, thêm đĩa rau muống luộc chấm với nước cá kho là ngon hết ý; hoặc cá bống kho tiêu ăn với cháo trắng cũng rất ngon, ăn phải con cá bống có trứng vàng thì lại thêm vị béo bùi thật tuyệt.
Món này ăn với cơm nóng thì không còn gì bằng. Ảnh: Dulichcauvong.
Món này ăn với cơm nóng thì không còn gì bằng. Ảnh: Dulichcauvong.
Cá bống kho tiêu cho vào hũ nhựa hoặc thuỷ tinh giữ được rất lâu (trên 30 ngày) ăn vẫn rất ngon. Hiện nay ở Quảng Ngãi nhiều người đã làm món cá bống sông Trà kho tiêu cho vào hũ bán đi khắp nơi, cả xuất sang nước ngoài. Nhưng để thưởng thức trọn vẹn hương vị của cá bống tươi ngon ở sông Trà, hãy thử một lần ghé về thăm Quảng Ngãi và thưởng thức trực tiếp món cá bống tươi ngon của sông Trà.
Cá bống sông Trà đã đi vào máu thịt của người Quảng Ngãi, đi đâu xa, trong hình ảnh quê nhà luôn có con cá bống: “Anh đi anh nhớ quê nhà - Nhớ con cá bống sông Trà kho tiêu”.
Theo Đình Trọng / Dân Việt

Quán hủ tiếu cua 72 năm

Không chỉ được thưởng thức những bát hủ tiếu trộn cua ngon lành, bạn còn có thể ăn cùng bánh pate chaud rất lạ miệng.
Quán hủ tiếu cua 72 năm
Nằm ở mặt tiền đường Tôn Thất Thiệp, quận 1, TP HCM đã hơn 72 năm, rất nổi tiếng, song hủ tiếu chà Thanh Xuân có vẻ ngoài khiêm tốn. Nếu không chú ý, bạn khó tìm thấy chiếc bảng hiệu nhỏ nép sau gốc hoa giấy cổ thụ.
Quán hủ tiếu cua 72 năm
Căn bếp lộ thiên với hai nồi nước dùng, một đang sôi nhẹ (dùng trong hủ tiếu nước), một đậm đặc (sốt của hủ tiếu trộn), mâm bánh pate chaud đầy mời gọi nằm ngay cửa quán.
Quán hủ tiếu cua 72 năm
Bên trong, vài chiếc bàn nhỏ kê rời rạc dọc con hẻm dẫn đến những căn nhà phía sau.
Quán hủ tiếu cua 72 năm
Món ăn đa dạng, nhiều mức giá như hủ tiếu thịt bằm, hủ tiếu lòng, trong đó hủ tiếu trộn tôm cua và trộn cua được yêu thích nhất. Nguyên liệu tươi ngon, nước sốt sánh và có vị đặc biệt giúp các tô hủ tiếu ở đây ghi điểm với khách hàng.
Quán hủ tiếu cua 72 năm
Bà Tươi, người bán của quán, đó cho biết nước sốt được chế biến từ cà chua và gia vị bí mật theo tỷ lệ riêng.
 Bà cũng cho biết, lúc đầu quán sử dụng sợi hủ tiếu bột lọc trong và dai. Sau này, do nhịp sống vội vã, sợi hủ tiếu được thay đổi để phù hợp với thị hiếu của đa số thực khách.
Bà cũng cho biết, lúc đầu quán dùng hủ tiếu bột lọc trong và dai, sau này được thay đổi bằng sợi khô để phù hợp với thị hiếu của nhiều người.
Quán hủ tiếu cua 72 năm
Nước dùng với vị thơm nhẹ của cua, linh hồn của món hủ tiếu nước, được dọn kèm có tác dụng để giải ngấy.
Quán hủ tiếu cua 72 năm
Quán còn có bánh patechaud ăn cùng hủ tiếu. Cách kết hợp là bóp vụn bánh vào hủ tiếu, trộn đều tất cả và thưởng thức. Những cọng hủ tiếu khô được áo một lớp nước sốt-bánh mang đến cảm giác dai, mềm, giòn, chua thanh lạ miệng.
Quán hủ tiếu cua 72 năm
Việc nhấm nháp một chiếc bánh patechaud có độ giòn, xốp, nhân thanh nhẹ khó thể tìm thấy ở Sài Gòn. "Nhiều người chọn mua bánh về thay vì ăn cùng hủ tiếu. Vì thế, mỗi ngày, quán cũng bán được khoảng 100 cái", bà Tươi chia sẻ.  

Những món ngon từ ếch hấp dẫn người Sài Gòn

Cháo ếch, lẩu ếch, ếch chui rơm hay ếch xào lăn luôn có vị trí nhất định trong lòng thực khách Sài thành, là món lâu không ăn sẽ cảm thấy thiếu.
Những món ngon từ ếch hấp dẫn người Sài Gòn
Ngay khi xuất hiện tại Sài Gòn, cháo ếch - món đặc sản được nằm trong top các món ăn không nên bỏ qua khi đến đảo quốc sư tử - nhanh chóng trở thành món ăn phải thử cho biết của thực khách mọi độ tuổi. Món ăn này có hàng loạt điểm cộng như cháo sánh mịn, ếch tươi, hương thơm, nước dùng đậm đà. Ảnh: Huỳnh Hằng.
Những món ngon từ ếch hấp dẫn người Sài Gòn
Tại TP HCM có rất nhiều nhà hàng, quán ăn bán món này, với giá thành khác nhau. Rẻ nhưng chất lượng ổn là Sentosa, chuỗi cháo ếch ngon, giá mềm với các biến tấu vị như kho sả, kho sa tế hợp với khẩu vị người Việt. Ảnh:Huỳnh Hằng.
Những món ngon từ ếch hấp dẫn người Sài Gòn
Lẩu ếch nấu măng là món ăn quen thuộc của người Hà Nội. Khi Nam tiến, sự tổng hòa của nguyên liệu, gia vị giúp lẩu ếch ghi điểm với thực khách. Ảnh: Huỳnh Hằng.
Những món ngon từ ếch hấp dẫn người Sài Gòn
Giá món lẩu dao động từ 60.000-120.000 đồng. Có khá nhiều quán ăn phục vụ lẩu ếch, trong đó có quán Tôm & Tép trên đường Nguyễn Cư Trinh (quận 1, TP HCM). Ảnh: Huỳnh Hằng.
Những món ngon từ ếch hấp dẫn người Sài Gòn
Có hai cách trình bày món ăn này: một là để chiên giòn nguyên con ếch đã làm sạch, lấy rơm phủ lên và lột sạch phần da, chiên giòn.
Những món ngon từ ếch hấp dẫn người Sài Gòn
Những cọng sả đập dập, chiên giòn giả làm rơm, giúp món ăn thêm sinh động và màu sắc. Ảnh: Huỳnh Hằng.
Những món ngon từ ếch hấp dẫn người Sài Gòn
Ảnh: Nau.vn.
Những món ngon từ ếch hấp dẫn người Sài Gòn
Không chỉ ăn ngon, một chút miến bên dưới thịt ếch và bánh mì đi kèm giúp món ăn này trở thành món ăn no. Ảnh:Bambooquannuong.

Phát hiện hang động mới tuyệt đẹp ở Hà Giang

Huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang vừa phát hiện thêm một hang động mới có cấu trúc thạch nhũ nguyên sơ.
huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang, huyện vừa phát hiện thêm 1 hang động mới có cấu trúc thạch nhũ nguyên sơ tại thôn Lùng Khúy, xã Quản Bạ.
Hang động này được cho là đẹp hơn các hang động đã có trên địa bàn tỉnh nói chung và cao nguyên đá Đồng Văn nói riêng, được đặt theo tên của thôn là hang Lùng Khúy. Hang có nhiều nhũ đá được kiến tạo sau rất nhiều năm.
Càng đi sâu vào trong hang càng xuất hiện nhiều loại nhũ đá với nhiều hình dạng khác nhau, được kiến tạo sau rất nhiều năm, tạo nên vẻ đẹp lộng lẫy.
Càng vào sâu, hang càng có nhiều loại nhũ đá với nhiều hình dạng khác nhau. Nhũ đá còn nguyên sơ, chưa có tác động của con người. 
Với rất nhiều nhũ đá trắng trong suốt theo dạng thạch nhũ, rèm nhũ, nhiều sợi nhũ dài từ 1 đến 2 mét màu trắng xếp thành hình răng lược tựa như một chiếc đàn đá khổng lồ hay có những hình nhũ như một tòa tháp, một cây hoa long lanh trong vắt.
Rất nhiều nhũ đá trắng trong suốt theo dạng thạch nhũ, rèm nhũ. Nhiều sợi dài từ 1 đến 2 mét màu trắng, xếp thành hình răng lược tựa như một chiếc đàn đá khổng lồ.
Có những nhũ đá giống như một cây hoa hay như một tòa tháp.
Có những nhũ đá giống như một cây hoa, tòa tháp.
Với vẻ đẹp nguyên sơ với nhiều nhũ đá lộng lẫy và hình thù kỳ lạ đã tạo thành một vẻ đẹp thiên nhiên hiếm có so với các hang động đã được phát hiện trên địa bàn tỉnh Hà Giang.
Với vẻ đẹp nguyên sơ, nhiều nhũ đá lộng lẫy và hình thù kỳ lạ đã tạo thành một vẻ đẹp thiên nhiên hiếm có so với các hang động đã được phát hiện trên địa bàn tỉnh Hà Giang.
Ảnh: Kim Tiến
Theo Minh Tâm / TTXVN 

Truyền thuyết ly kỳ về gò Hỏa Tinh giúp họ Trần phát nghiệp đế vương

Chuyện “mả táng hàm rồng” giúp con cháu phát nghiệp đế vương vốn đã lưu truyền lâu nay trong dân gian. 
Thế nhưng, phải đến Hưng Hà, tỉnh Thái Bình, tận mắt chiêm ngưỡng khu lăng mộ các vua Trần lừng lững như những quả đồi nổi lên giữa những cánh đồng lúa bạt ngàn mới dám tin đây thực sự là một câu chuyện kỳ bí khó có lời giải thích.
Từ duyên kỳ ngộ cứu thầy địa lý
Văn hóa dân gian đã ghi nhận một truyền thuyết đượm màu thần bí về việc chọn đất đặt mộ tổ của họ Trần.
Truyền thuyết kể lại rằng, ông tổ họ Trần là Trần Kinh đến ở hương Tức Mặc (Nam Định ngày nay) rất thạo sông nước, sống bằng nghề chài lưới lênh đênh trên sông Nhị Hà, chỗ nào cũng là nhà, lấy người con gái ở hương ấy sinh ra Trần Hấp.
Vào thời Lý Thần Tông (1128 - 1138), có một thầy địa lí đi xem tướng đất, thấy ở Hương Tinh Cương xã Thái Đường huyện Ngự Thiên phủ Long Hưng (huyện Hưng Hà, Thái Bình ngày nay) có một Gò Hỏa Tinh, thầy cười mà nói rằng: “Ở nơi bằng phẳng lại nổi lên một gò lớn, hẳn không phải là một hoang địa”.
Thầy vào làng bên nghỉ trọ trong một gia đình, biết là thầy là người giỏi xem đất gia đình ngỏ ý nhờ thầy giúp đỡ tìm nơi đặt mộ. Cảm ơn việc đối xử tốt của gia đình, thầy địa lý đã đồng ý giúp, song đề phòng bất trắc thầy dặn sau này khi trời mưa to sấm chớp thấy trên mặt mộ có màu đỏ thì phải chuyển mộ ngay, nếu không gia đình sẽ bị triệt diệt.
Tuy nhiên, xong việc đặt mộ, sợ bị lộ, người khác biết chuyện, gia đình ấy đem lòng bội bạc trói thầy địa lí quảng xuống sông. May thay gặp lúc thủy triều xuống và lúc đó Trần Hấp đánh cá gần đó thấy người kêu cứu liền tới đem thuyền và hỏi duyên cớ. Cảm ơn sự chăm lo chu đáo của Trần Hấp, thầy địa lí thưa rằng: “Tôi đội ơn người đã cứu tôi thoát nạn xin tìm nơi cát địa để báo ơn ”.
Theo sự chỉ dẫn của thầy, giờ lành ngày Tân Dậu tháng Đinh Tỵ năm Quý Sửu, Trần Hấp di mộ cha từ Tức Mặc (Nam Định) về đặt tại gò Hỏa Tinh. Mộ đặt ở hướng Càn (Bắc) nhìn ra ngã ba sông lớn, tục gọi là Cửa Vàng.
Thế đất đặt mộ cha Trần Hấp theo thầy địa lí là: “Phấn đại đương giao chiếu, liên hoa đối diện sinh, tha nhật dĩ đắc thiên hạ” (Nghĩa là phấn son cùng chiếu rọi, trước mặt nở hoa sen, sau này có người do nhan sắc mà lấy được thiên hạ), lại nói: “Nữ nhập cung phi, nam cư phụ chính”.
Linh thiêng nơi phát tích nghiệp đế vương
Có một điều rất kỳ lạ là vào những ngày giáp Tết, dù cây cỏ những khu ruộng xung quanh có héo úa do mưa rét thì cỏ trên mộ các vị vua nhà Trần vẫn mơn mởn xanh tươi và um tùm một cách kỳ lạ.
Ông Phạm Văn Cường - Thành viên Ban Quản lý Di tích đền thờ các vua Trần cho biết, dù cỏ trên mộ xanh tốt như vậy nhưng người dân xung quanh không dám đến cắt bao giờ do khu mộ có rất nhiều rắn, có người còn nhìn thấy những con rắn trắng có mào, dựng lên phun phì phì như bảo vệ mộ Vua khi thấy có người đến gần.
Ông Đỗ Văn Bình - Phó Chủ tịch UBND huyện Hưng Hà - cho biết: Bên cạnh những câu chuyện đượm màu thần bí về nơi phát tích của một triều đạicó nhiều công lao xây dựng và bảo vệ quốc gia Đại Việt trong lịch sử phong kiến Việt Nam thì vùng đất Thái Đường xưa (nay là Tam Đường, xã Tiến Đức, Hưng Hà) là nơi ghi dấu rất nhiều chứng tích về lịch sử nhà Trần.
Sử cũ chép rằng, trải qua 28 năm trước khi sinh Trần Lý, Trần Hấp đã gắn bó với vùng đất Thái Đường. Khi Trần Lý trưởng thành đã tiến về phía Bắc và định cư ở làng Hải ấp (nay là xã Canh Tân) cách Tiến Đức 3 km.
Thực tế, dòng dõi họ Trần thạo nghề sông nước, dọc địa bàn ven sông Hồng là ngư trường hoạt động chủ yếu là lẽ đương nhiên. Thái Đường với Hải ấp cũng cách nhau không đáng là bao.
Vào thời Lý Cao Tông (1176 - 1210) Hải ấp là quê hương của tướng quân Đàm Phụng Thị, một danh nhân triều Lý. Con gái của Đàm tướng quân trở thành hoàng hậu của vua Lý Cao Tông. Bà hoàng hậu họ Đàm đã sinh ra Thái tử Sảm.
Lúc ấy họ Trần ở vùng Hải ấp (Hưng Hà) là quê ngoại của Thái Tử Sảm, nhờ có nghề chài lưới mà giàu có, có thế lực, quy tụ được long dân.
Trần Lý sinh được 4 người con (2 trai, 2 gái). Một trong hai người con ấy là Trần Thị Dung, sau này kết duyên với Thái tử Sảm của vương triều Lý. Thiên tình sử đó diễn ra trong bối cảnh quốc gia có nhiều biến loạn.
Kết quả của cuộc tình mặn mà ấy là hai công chúa Thuận Thiên và Chiêu Thánh ra đời, để rồi sau này Chiêu Thánh công chúa (Lý Chiêu Hoàng) trở thành hoàng hậu đầu tiên của vua Trần, đó là Trần Cảnh (Trần Thái Tông).
Như vậy nhà Trần ở Tức Mặc chỉ có một đời, từ đời Trần Hấp đã di mộ tổ sang Thái Đường (năm Quý Sửu 1133), thì Tức Mặc chỉ còn là quê ngoại.
Tính đến Trần Cảnh thì nhà Trần ở đất Long Hưng, trước khi dấy nghiệp có tới 4 đời vua (khoảng 70 năm): Trần Hấp sinh Trần Lý, Trần Lý sinh Thừa, Thừa sinh Cảnh là vị vua khai sáng triều Trần.
Vì vậy có thể nói rằng: Thái Đường Phủ Lộ Long Hưng (Tiến Đức ngày nay) là nơi phát tích nhà Trần, nơi sinh tồn phát triển và dựng nghiệp của một triều đại có nhiều công lao xây dựng và bảo vệ quốc gia Đại Việt trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Những câu chuyện thần bí càng làm cho lịch sử gần hơn, ăn sâu hơn vào tâm thức người Việt về một triều đại có công với dân tộc.
Cách đây hơn 700 năm, tại đây, các vị vua khai nghiệp nhà Trần sinh ra và khởi nghiệp. Trong khoảng thời gian 175 năm tồn tại, triều Trần đã lãnh đạo quân dân Đại Việt lập nên những chiến công hiển hách, ba lần đánh thắng quân xâm lược Nguyên - Mông hung hãn bậc nhất thời đó.
Trong cả ba cuộc kháng chiến đó, sau thành Thăng Long, mảnh đất Long Hưng - Ngự Thiền đều là nơi nhà Trần chọn làm hậu cứ để xuất nhập thần kỳ.
Thái Đường Lăng là nơi an nghỉ vĩnh hằng của các vị vua đầu triều Trần: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông. Các hoàng hậu sau khi qua đời đều được quy về hợp táng tại các lăng mộ Thọ Lăng, Chiêu Lăng, Dự Lăng, Quy Đức Lăng.
Trong 4 vị hoàng hậu thì 2 vị được ghi rõ là Khâm Từ Bảo Thánh hoàng hậu (vợ vua Trần Nhân Tông), Tuyên Từ Hoàng Thái Hậu (em gái Khâm Từ).
Hai vị còn lại khả năng là Thuận Thiên Hoàng Thái Hậu (vợ vua Trần Thái Tông) vàNguyên Thánh Thiện Bảo hoàng thái hậu (vua Trần Thánh Tông). Đây là đặc điểm độc nhất vô nhị trong các di tích về thời đại nhà Trần trong cả nước.
Mộ tổ là tiêu chí quan trọng để có thể tìm kiếm đất phát tích của một dòng họ, một gia đình, vì vậy Thái Đường được nhà Trần chọn làm nơi đặt tôn miếu.
Do vị trí của Thái Đường thuận lợi cho giao thông vì thế được nhà Trần chọn là hậu phương của mình. Xét về địa thế quân sự, tôn miếu nhà Trần ở Thái Đường an toàn hơn cả kinh đô vì vậy các vùng phụ cận là nơi sơ tán của vương triều khi giặc kéo vào kinh đô.
Trong đó có vai trò của người con gái làng Ngừ (Trần Thị Dung) vô cùng to lớn. Cuối thời Trần, trước những cuộc lấn chiếm của người Chiêm Thành lợi thế quân sự đó không còn nữa, lặng mộ các đời sau chuyển về Yên Sinh (Quảng Ninh).
Theo baophapluat.vn

Bí ẩn tòa thành trấn thủ Biển Đông trên đảo Cát Bà thời nhà Mạc


Vịnh Cát Đồn, nơi thành nhà Mạc nhìn ra biển.
Vịnh Cát Đồn, nơi thành nhà Mạc nhìn ra biển.
Xưa nay việc đề cập tới các công trình thành lũy nhà Mạc, người ta thường nhắc nhiều đến các tòa cổ thành ở vùng biên giới Đông Bắc như Cao Bằng, Lạng Sơn mà ít quan tâm đến hệ thống phòng thủ dày đặc ở vùng biển Đông Bắc.
Tòa thành trên đảo Cát Bà (xã Xuân Đám, Cát Hải, TP Hải Phòng) đến nay vẫn là một trong những tòa thành bí ẩn trong hệ thống thành trì của nhà Mạc.
Tầm nhìn chiến lược về quân sự
Khi vương triều nhà Mạc được thiết lập, việc vừa phải đối phó với nội chiến trong nước, vừa phải chuẩn bị đương đầu với nạn ngoại xâm từ phương Bắc và phương Tây nên vương triều Mạc thường xây đắp thành lũy phòng thủ khắp nơi.
Trong hệ thống thành lũy nhà Mạc ở miền Đông Bắc, tòa cổ thành ở đảo Cát Bà thu hút được nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu lịch sử quân sự trong thời kỳ phong kiến trong và ngoài nước.
Tòa cổ thành đã bị tàn phá nhiều theo thời gian và con người, nằm tại phía Đông Bắc của xã Xuân Đám, thuộc huyện đảo Cát Hải, liền kề mép biển (vịnh Cát Đồn).
Người địa phương quen gọi tòa thành này là Thành Đồn (thay cho cái tên là thành nhà Mạc). Tòa thành được chia làm 2 khu: Đồn Thượng và Đồn Hạ. Đồn Hạ có cấu trúc gần như hình vuông, mỗi cạnh dài xấp xỉ 90m, bốn mặt tường thành được dựng theo hướng Đông Bắc - Tây Nam.
Cách khu thành phòng thủ nhà Mạc khoảng 1.500 m về phía Tây Nam là một thũng lũng khá bằng phẳng, rộng khoảng 6 ha, hiện là cánh đồng cấy lúa, trồng màu của xã Xuân Đám.
Cánh đồng này có tên là làng U - tên cổ của Xuân Đám. Tại khu vực này, các nhà khảo cổ học đã phát hiện di chỉ gốm sứ lộ thiên, phần nhiều là gốm Chu Đậu, Hợp Lễ (Hải Dương) và lác đác xuất hiện các mảnh gốm sứ Hizen (Nhật Bản), Giang Tây (Trung Quốc)...
Các nhà khảo cổ học Việt Nam và Nhật Bản thống nhất cao với nhận định rằng: Di chỉ làng cũ là trung tâm chế biến thủy sản (sản xuất nước mắm), buôn bán đồ gốm sứ thương mại cao cấp, lâm thổ sản...
Đây thực sự là một trong những tiểu cảng thuộc cụm thương cảng Vân Đồn của quốc gia Đại Việt tồn tại suốt từ thế kỷ XII đến thế kỷ XV - XVI, sau đó bị lụi tàn.
Mặt thành giáp biển là mặt thành phía Đông Bắc, cách mép nước vịnh Cát Đồn khoảng gần 30m. Ba mặt còn lại được che chắn bởi những ngọn núi cao, thấp khác nhau, địa thế rất hiểm trở vừa dễ tấn công lại dễ phòng thủ.
Phế tích có khả năng giúp nghiên cứu về quy mô, kỹ thuật xây dựng, bố cục địa thế trọng yếu quân sự... của tòa cổ thành chỉ còn lại bức tường thành kiên cố mặt tiền (mặt Đông Bắc).
Những phần tường thành khác đều đã bị thời gian, khí hậu khắc nghiệt và con người tàn phá, hiện thành chỉ còn nền móng và một vài đoạn tường thấp, cây cối mọc um tùm che khuất. Nếu chỉ nhìn thoáng qua, khó ai biết nơi đây đã từng tồn tại một tòa thành ven biển kiên cố.
Những câu hỏi cần lời giải đáp
Về lai lịch tòa cổ thành trên đảo Cát Bà còn những ý kiến khác nhau, có người nghi ngờ, nó mới được xây dựng từ thời Nguyễn. Theo thư tịch cổ và gia phả họ Mạc ở Câu Tử (xã Hợp Thành, Thủy Nguyên), họ Hoàng gốc Mạc ở Hiệp An (huyện Kinh Môn, Hải Dương) thì sau khi thấy em kế mình là Khiêm Vương Mạc Kính Điển có tài lỗi lạc, Ninh Vương Mạc Phúc Tư rất lấy làm mừng.
Tháng 5 năm Bính Ngọ (1546) vua Mạc Phúc Hải qua đời, tôn thất và triều thần suy tôn thái tử Mạc Phúc Nguyên lên ngôi báu. Lúc ấy, Tứ Dương Hầu Phạm Tử Nghi cùng Hoằng Vương Chính Trung, Định Vương Mạc Phúc Sơn gây chính biến và rút về chiếm cứ vùng Quảng Yên (Quảng Ninh ngày nay).
Nhà Minh định lợi dụng việc này, Ninh Vương bèn xin nhường chức Phụ Chính đại thần cho Khiêm Vương Mạc Kính Điển và xin đi trấn thủ Hải Đông.
Theo tài liệu lịch sử, trong khu di tích lịch sử nhà Mạc tại làng Cổ Trai, (xã Ngũ Đoan, Kiến Thụy, Hải Phòng) có ghi chép: Ninh Vương Mạc Phúc Tư (hiệu là Phúc Triệu ) là con thứ hai của Hoàng đế Mạc Thái Tông Đăng Doanh và Hoàng hậu Đậu Thị Giang, sinh năm Giáp Thân (1524) tại Tam Giang, nơi thân phụ trị nhậm.
Khi Mạc Đăng Dung băng hà, hoàng huynh là thái tử Mạc Phúc Hải lên làm vua, nối ngôi đại thống (tức vua Hiến Tông nhà Mạc). Vua Mạc Hiến Tông đã phong tước Ninh Vương cho em mình là Mạc Phúc Tư, sau đó trao cho Ninh Vương chức Thái tể - quan đầu triều.
Khi ra trấn thủ xứ Hải Đông, Ninh Vương Phúc Tư cho đắp đê, đào sông khơi ngòi; khai khẩn đất hoang, trồng cây gây rừng, khuyến khích đánh cá, làm nghề muối; cho mở chợ Chanh ở Quảng Yên, chợ Thưa, chợ Đá Bia và phố Khách, Long Mã... ở huyện Thủy Đường... để dân chúng an cư lạc nghiệp. Vương Phúc Tư cũng cho xây nhiều thành quách, đồn trại, nơi luyện quân thủy, quân bộ; mở các cảng thị để buôn bán với nước ngoài...
Suốt mấy chục năm, Lê Trịnh nhiều lần đem quân cướp phá Thăng Long cùng một số vùng khác, riêng xứ Đông do Ninh Vương cai quản, họ không xâm nhập được. Đặc biệt, ở những năm này, nhà Minh không những không dám đưa quân quấy phá, nhũng nhiễu vùng biên cương, mà còn đẩy mạnh phát triển giao thương với Đại Việt ở vùng ven biển Đông Bắc.
Ngày nay, những đê nhà Mạc, bãi nhà Mạc, rừng nhà Mạc, sông nhà Mạc, thành nhà Mạc, chợ nhà Mạc... do Ninh Vương Phúc Tư xây dựng vẫn còn lưu vết rải rác trên địa bàn các tỉnh Hải Dương, Quảng Ninh và TP. Hải Phòng.
Cung điện đồ sộ nguy nga đầu tiên ven biển của người Việt
Theo sử cũ vào thời Mạc, thành Dương Kinh được xây dựng năm 1529, nhằm thực hiện chính sách phát triển nông nghiệp, mở mang nền kinh tế hướng ra biển.
Ngoài kinh thành Thăng Long, Mạc Đăng Dung còn tạo dựng sự sầm uất ở Cổ Trai, quê hương ông và Dương Kinh, kinh đô thứ hai có vị thế gần biển, sông với nhiều ngả nối liền phố Hiến, Thăng Long, Hội An nhộn nhịp. Quy mô thực sự của thành Dương Kinh.
PGS.TS Phạm Ngọc Trung, Trưởng khoa Văn hóa - Phát triển học viện Báo chí và Tuyên truyền
Bí ẩn tòa thành trấn thủ Biển Đông trên đảo Cát Bà thời nhà Mạc - Ảnh 2
PGS.TS. Phạm Ngọc Trung nhận định về thành nhà Mạc trên đảo Cát Bà: "Trong lịch sử, nhà Mạc là một trong những triều đại có tư duy gắn liền kinh tế với quân sự.
Khi thất thế tại kinh thành Thăng Long, nhà Mạc phải lui về trấn thủ tại các vùng biên giới Đông Bắc như Cao Bằng, Tuyên Quang, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hải Phòng…
Trong quá trình rút lui, các công trình quân sự của nhà Mạc hầu hết được xây dựng với chức năng phòng thủ quân sự là chính. Việc nhà Mạc bị gọi là "ngụy triều", có thể do không hợp thời và việc lòng dân quá lưu luyến triều Lê, sỹ phu ngoảnh mặt, nhân tài không ra giúp.
Thế lực phong kiến trong nước cát cứ nhiều. Tuy nhiên, việc duy trì bộ máy quân sự suốt gần 90 năm trước khi bị tiêu diệt có thể thấy năng lực quân sự của nhà Mạc không đến nỗi nào.
Và nếu căn cứ vào những gì nhà Mạc đã làm, có thể thấy đây thực sự là một vương triều tuy thời gian tồn tại ngắn, nhưng có có vai trò tích cực nhất định trong lịch sử Việt Nam.
Việc duy trì một bộ máy chiến tranh suốt một thời gian dài trong lịch sử như vậy, việc kết hợp giao thương để lấy kinh tế nuôi quân được coi như một biện pháp phù hợp đối với nhà Mạc.
Việc xuất phát từ vùng biển, nhà Mạc thấy rõ tầm quan trọng của việc giao thương kinh tế biển, đồng thời kết hợp trấn thủ mạn biển nên việc xây dựng Thành Đồn trên đảo Cát Bà có thể thực hiện được đồng thời 2 việc: Vừa phòng thủ phía biển và vừa giao thương đối với các tàu buôn nước ngoài".
Theo doisongphapluat.com

Chi tiết xúc động khi Nguyễn Trung Trực ra pháp trường

Nguyễn Trung Trực hiên ngang dõng dạc trước pháp trường, nhìn bầu trời, nhìn đất nước và giã từ đồng bào.
Khoảng cuối tháng 9/1868, Nguyễn Trung Trực bị địch bắt. Sau khi ông bị hành hình, dân chúng khâm phục và cảm thương vô cùng đã bí mật thờ ông như một vị anh hùng trong đền thờ Nam Hải đại vương, là ngôi đền thờ Nguyễn Trung Trực tại TP Rạch Giá hiện nay. 
Giỏi thay người chài...
Người đời truyền rằng, vào buổi sáng 27/10/1868, nhân dân Tà Niên, nơi nổi tiếng về nghề dệt chiếu và nhiều nơi khác đổ xô ra chợ Rạch Giá vì thực dânPháp đem Nguyễn Trung Trực ra hành quyết ở đây.
Nguyễn Trung Trực yêu cầu thực dân Pháp mở trói, không bịt mắt để nhìn đồng bào và quê hương trước phút ra đi. Bô lão làng Tà Niên đến vĩnh biệt ông, đã trải xuống đất một chiếc chiếu hoa có chữ thọ (chữ Hán) màu đỏ tươi thật đẹp cho ông bước đứng giữa. Nguyễn Trung Trực hiên ngang dõng dạc trước pháp trường, nhìn bầu trời, nhìn đất nước và giã từ đồng bào.
Trước khi bị hành quyết, Nguyễn Trung Trực đã ngâm một bài thơ: "Thư kiếm tùng nhưng tự thiếu niên - Yêu gian đàm khí hữu long tuyền - Anh hùng nhược ngộ vô dung địa - Bảo hận thâm cừu bất đái thiên".
Thi sĩ Đông Hồ dịch: "Theo việc binh nhưng thuở trẻ trai - Phong trần hăng hái tuốt gươm mài - Anh hùng gặp phải hồi không đất - Thù hận chang chang chẳng đội trời".
Được tin Nguyễn Trung Trực thọ tử, vua Tự Đức sai hoàng giáp Lê Khắc Cẩn làm lễ truy điệu, đọc bài điếu với chính bút ngự rằng: “Giỏi thay người chài - Mạnh thay quốc sĩ - Đốt thuyền Nhật Tảo - Phá lũy Kiên Giang - Thù nước chưa xong- Thân sao đã mất - Hiệu khí xưa nay - Người nam tử ấy - Máu đỏ cát vàng - Hỡi ôi thôi vậy - Ngàn năm hương khói - Trung nghĩa còn đây".
Vua Tự Đức đã sắc phong ông làm Thượng Đẳng Linh Thần, thờ tại làng Vĩnh Thanh Vân, Rạch Giá, nơi ông đã hiên ngang thà chịu chết chứ không chịu đầu hàng thực dân Pháp.
Đã rất nhiều năm qua, dân làng Vĩnh Thanh Vân, nhất là những ngư dân luôn tôn kính và tự hào về Nguyễn Trung Trực, một người xuất thân từ giới dân chài, áo vải vậy mà đã trở thành một vị anh hùng đúng với nghĩa: "Sống làm tướng và chết làm thần và anh khí như hồng, nghĩa là khí tiết của người anh hùng rực rỡ như cầu vồng bẩy sắc".
Chi tiet xuc dong khi Nguyen Trung Truc ra phap truong
Tượng đài danh tướng Nguyễn Trung Trực.
Khắp nơi lập đền thờ
Danh sĩ Huỳnh Mẫn Đạt (1807 - 1882) vị quan nhà Nguyễn trong bài điếu Nguyễn Trung Trực, bằng tuyệt bút của mình đã thể hiện khá đầy đủ nhân cách và hai chiến công của Nguyễn Trung Trực bằng hai câu thơ: “Hỏa hồng Nhựt Tảo oanh thiên địa- Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỷ thần”. Thái Bạch dịch: “Lửa bừng Nhật Tảo rêm trời đất - Kiếm tuốt Kiên Giang rợn quỷ thần”.
Sau khi ông bị hành hình, dân chúng khâm phục và cảm thương vô cùng đã bí mật thờ ông như một vị anh hùng trong đền thờ Nam Hải đại vương, là ngôi đền thờ Nguyễn Trung Trực tại TP Rạch Giá hiện nay.
Vào năm 1970, nhân dân địa phương đã lập tượng Nguyễn Trung Trực bằng đồng màu đen đặt trước Chợ nhà lồng Rạch Giá cũ. Hiện nay, tượng thờ này được sơn lại màu nâu đỏ và đã được di dời vào trong khuôn viên khu đền thờ của ông tại TP Rạch Giá.
Nhiều tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, nhân dân đã lập đền thờ Nguyễn Trung Trực và hằng năm đều tổ chức lễ tưởng niệm trọng thể. Đình Nguyễn Trung Trực tại Rạch Giá tổ chức lễ giỗ vào các ngày từ 27 - 28/8 âm lịch.
Đình và mộ nơi này đã được công nhận là di tích Lịch sử văn hóa cấp quốc gia vào ngày 6/12/1989 (về hài cốt và mộ phần của Nguyễn Trung Trực, còn nhiều ý kiến khác nhau).
Tại huyện Tân Trụ, tỉnh Long An, nơi diễn ra trận “Hỏa hồng Nhựt Tảo oanh thiên địa” của Nguyễn Trung Trực, chính quyền và nhân dân đã xây dựng và khánh thành Đền tưởng niệm Nguyễn Trung Trực ngày 14/10/2010.
Hiện nay, hậu duệ của dòng họ Nguyễn Trung Trực đông đúc cả ngàn người sống rải rác khắp nơi, nhưng đông đúc nhất là ở hai xã Tân Đức và Tân Tiến huyện Đầm Dơi.
Theo kienthuc.net.vn