Thứ Tư, 1 tháng 5, 2019

2 bãi biển có thể vắng người dịp lễ gần Sài Gòn

BÀI VÀ ẢNH: HUỲNH HẰNG

Chưa được đầu tư, khai thác và giới thiệu du lịch nên biển Thắng Hải (Bình Thuận) và biển Sông Lô (Bà Rịa- Vũng Tàu) được đánh giá là sẽ không 'quá tải' vào dip lễ 



    Biển Thắng Hải thuộc xã Thắng Hải, Hàm Tân, Bình Thuận. Dể đến đây, từ ngã ba khu du lịch suối nước nóng Bình Châu (Bà Rịa - Vũng Tàu), bạn chạy về hướng khu công nghiệp Thắng Hải. Khi chạy qua chùa Quảng Thắng (bên phải 20m) thì rẽ vào đường đất, chạy đến cuối đường là tới.
    Bạn có thể cảm nhận được không khí làng chài Thắng Hải với những chiếc ghe tàu nhiều màu sắc nghỉ ngơi trong con sông nhỏ trên đường ra biển.
    Thời gian này, những cây hoa mai anh đào nở rộ, tạo nên bức tranh phong thủy dưới tàu, trên hoa tuyệt đẹp.
    Do dòng chạy của biển thường xuyên thay đổi theo hướng gió, mỗi lần đến đây, bạn sẽ phát hiện bãi biển có nhiều thay đổi. Từ những đụn cát nhỏ, dòng chảy đến những bãi cát trải dài.
    Vào các tháng khác, do ảnh hưởng của gió, sóng biển khá mạnh. Song vào dịp lễ 30/4 - 1/5, đến đây, bạn sẽ được bãi biển "yêu chiều" với những đợt sóng nhẹ, nước cạn, biển êm. Hiện đang có một công ty khai thác resort ngay bãi biển. Công việc xây dựng hầu như chưa tác động nhiều đến bãi biển. Tuy nhiên, do biển thường bị ảnh hưởng bởi sức gió, khu resort đang tiến hành hút cát, bạn nên hạn chế bơi xa bờ.
    Lưu ý, biển Thắng Hải chưa khai thác du lịch, xung quanh không có nhà nghỉ, khách sạn, nếu muốn ở lại bạn có thể lựa chọn các khu resort gần đó hay lên khu vực quanh chợ Bình Châu.
    Biển Sông Lô hay biển Suối ồ thuộc xã Bình Châu, huyện Bình Châu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Dể đến đây, từ chợ Bình Châu, bạn chạy xe về hướng khu du lịch suối nước nóng Bình Châu, khoảng 2,5 km, sẽ có đường đất rẽ vào. Chạy đến cuối đường là thấy cổng do người dân dựng.
    Do chưa đưa vào khai thác du lịch nên khu biển này khá hoang sơ.
    Bạn có thể chuẩn bị hải sản, mang vào khu vực bãi tắm rồi đào cát, làm bếp dã chiến.
    Biển trong xanh, cát trắng tuyệt đẹp để tắm biển.
    Hiện, nơi đây có hai bãi tắm, một là của khu resort Hò Dzô Ta. Ngoài việc thuê phòng qua đêm, bạn có thể mua vé để sử dụng các tiện ích như tắm biển, ghế, dù, tắm nước ngọt. Hai là một khu vực do người dân ở đây khai thác. Giá vé khoảng 5.000 đồng người vào cổng. 10.000 đồng/tắm nước ngọt. Bên cạnh đó, nhà dân này cũng có một căn nhà khá rộng để khách thuê qua đêm.

    Xe bánh mì Tiều duy nhất ở Sài Gòn

    BÀI VÀ ẢNH: HUỲNH HẰNG

    Phá lấu là một trong những món ăn quen thuộc của người Hoa nói chung và của công đồng người Tiều nói chung, nhưng cho phá lấu vào giữa bánh mì, ăn kèm các loại rau góp, dưa chua, chắc chỉ Sài Gòn mới có.

      Phá lấu là món ăn được nấu từ nội tạng heo hay bò cùng các loại gia vị mạnh như hoa hồi, quế, cà ri, ngũ vị hương… Một phần phá lấu ngon phải hội tụ đủ các yếu tố về thị giác – màu nâu cánh gián của nước dùng; thính giác – vị thơm của các loại gia vị hòa quyện vào nhau; Vị giác – những lát nội tạng béo mềm, ngầy ngậy của nước cốt dừa. Nói như vậy để biết, dù quen thuộc, song phá lấu không dễ chế biến.
      Xe bánh mì phá lấu Tiều trên đường Nguyễn Trải, quận 5 có tuổi đời khá lâu.
      Phá lấu ở đây được chế biến theo bí quyết gia truyền và có màu, mùi,vị khác những nơi khác.
      Quán bán từ 15h hàng ngày.
      Phá lấu là món ăn quen thuôc của công đồng người Hoa. Ngoài Trung Quốc, bạn có thể dễ dàng tìm thấy món ăn này ở Singapore, Malaysia… Song, biến tấu cho phá lấu giữa bánh mì, ăn cùng dưa chua, rau góp, chắc chỉ có thể tìm thấy ở Sài Gòn và cũng chỉ một xe trên đường Nguyễn Trãi (quận 5) .
      Kèm vào giữa bánh mì là chính nên phá lấu tại đây được chế biến có phần đơn thuần hơn về màu sắc lẫn hương vị. Món ăn cũng được tách riêng phần cái và nước. Bánh mì luôn được làm nóng bằng lò than.
      Xe bánh mì hút người đi đường.
      Có thể nhận thấy sự khác biệt giữa món phá lấu tại đây so với các hàng quán khác.
      Khi có khách mua, người bán thoăn thoắt chọn từng phần khác nhau của nội tạng, cắt miếng vừa ăn, cho vào bánh mì cùng dưa chua và rau góp. Đơn giản như thế nhưng mỗi chiếc bánh mì đều khiến thực khách cảm nhận vị béo thơm đặc trưng của phá lấu, giòn thơm của bánh mì, thanh thanh của rau.
      Mỗi ổ bánh mì phá lấu có giá khoảng 22.000 đồng. Ngoài mua bánh mì phá lấu, bạn cũng có thể mua phá lấu về nhà dùng cùng các món ăn khác như cơm, bún.
       
      Những loại rau, dưa chua, nước dùng góp phần tạo nên sự hấp dẫn của món ăn.
      Chia sẻ về món ăn, người đứng bán cho biết: “Nguyên liệu quen thuộc song, các công đoạn chế biến, công thức về tỉ lệ gia vị là gia truyền. Có nhiều người sau khi ăn, thử nấu, đều không đạt được hương vị món ăn.
      Bánh mì phá lấu Tiều như một bức tranh ẩm thực tuyệt đẹp.
      Mỗi ổ bánh mì phá lấu Tiều có giá 22.000 đồng. Bạn có thể chọn mua những phần phá lấu mình thích, người bán sẽ canh chỉnh giá của món ăn.

      Tố - sự giàu có của người S’tiêng

      San Nguyễn Thứ Năm, ngày 26/05/2016 19:01 PM (GMT+7)

      (Dân Việt) Tố (đồ đựng rượu) có từ rất lâu đời và có vai trò quan trọng trong phong tục văn hoá của người S’tiêng (huyện Bù Đăng, Bình Phước).

      Tố góp mặt trong những ngày trọng đại như lễ đâm trâu, cưới hỏi, ma chay… Tố thể hiện sự giàu có, chỉ những gia đình nào nhiều trâu-lợn mới có được chiếc tố trong nhà.
       to - su giau co cua nguoi s’tieng hinh anh 1
      Những chiếc tố của già làng Điểu Gô vẫn còn được giữ gìn tới nay. Ảnh: S.N 
      Theo già làng Điểu Gô, xã Đức Liễu, huyện Bù Đăng, tố có hình dáng và công dụng gần giống như ché rượu cần của đồng bào Tây Nguyên. Rượu cái được ủ từ men lá rừng để trong những chiếc tố này có mùi vị thơm ngon hơn hẳn. Tố không chỉ đơn thuần là vật đựng rượu mà đó còn là tài sản, là của hồi môn của gia đình, mang đậm bản sắc văn hoá S’tiêng. Ngày xưa, chỉ những gia đình có của ăn của để mới có tố trong nhà. Tố càng nhiều chứng tỏ gia đình đó giàu có và được dân làng nể trọng.
      Có nhiều loại tố như tố rang, tố tăng wot, tố kơn… được phân biệt bằng hình dáng, hoa văn hoạ tiết trên thân. Loại tố lớn nhất gọi là rơt nơn. Thoạt nhìn rơt nơn gần giống như chiếc chum của đồng bào Bắc Bộ. Chỉ những ngày lễ thật lớn, mổ tới 7 trâu, rơt nơn mới được đem ra sử dụng.
      Loại tố thứ hai gọi là xà lung, thường dùng trong lễ cưới và ma chay. Xà lung gần giống rơt nơn nhưng nhỏ hơn, được dùng làm lễ vật “trả của” trong đám cưới. Nếu trong đám cưới của người Kinh nhất định phải có trầu cau thì đám cưới của người S’tiêng ở Bù Đăng không thể thiếu xà lung. Theo phong tục trước đây, chàng trai S’tiêng muốn lấy được vợ thì việc đầu tiên là phải sắm xà lung. Xà lung được xem như tài sản chàng trai trả công cho nhà gái đã sinh thành và nuôi dưỡng cô dâu.
      Trong ngày cưới, nhà trai khiêng xà lung đi trước sang trao cho nhà gái, sau đó mới được rước dâu về, việc đó giống như hình thức nạp tài của ngưòi Nam Bộ. Ngày nay, xà lung còn ít, nên nhiều gia đình đã quy đổi số xà lung ra tiền mặt cho nhà trai đỡ vất vả. Đối với đám tang, người S’tiêng thường đập vỡ xà lung trên mộ- như một cách chia của cho người chết. Tuy nhiên, chỉ những gia đình giàu có mới giữ lại phong tục này vì xà lung đã hiếm và giá thành lại cao.
      Ngoài rơt nơn, xà lung, còn có tố tăng got. Tăng got có cổ cao hơn rơt nơn, màu sắc bắt mắt, những chiếc tai tố vẫn là số chẵn nhưng to và vồng cao hơn. Hoa văn trang trí cầu kỳ với những con rồng uốn lượn quanh thân tố. Tuy nhiên, tăng got chỉ làm vật trang trí, ít đem ra đựng rượu vì theo ông Điểu Gô “rượu ủ trong tăng got uống nhạt hơn trong rơt nơn”.

      Tập tục đắp núi cát của đồng bào Khmer Nam bộ

      Út Tẻo 

      (Dân Việt) Trước Tết Chuôl Chnam Thmay, bà con dọn dẹp, sơn phết tháp thờ hài cốt ông bà, cha mẹ mình cho gọn gàng, đẹp đẽ. Sau đó nhờ nhà sư làm lễ cầu cho linh hồn ông bà tổ tiên được siêu sanh miền tịnh độ.

      Lễ hội tết cổ truyền Chuôl Chnam Thmay của đồng bào Khmer Tây Nam bộ được diễn ra vào giữa tháng Tư dương lịch (tháng Ba âm lịch), thường thì sau tiết thanh minh khoảng tuần lễ. 

      Đây cũng là dịp họ nhờ các sư tụng kinh siêu thoát cho những tháp mộ không người thân chăm sóc.

       tap tuc dap nui cat cua dong bao khmer nam bo hinh anh 1
      Nhà sư cúng khi núi cát đắp xong.
      Theo lệ thường hằng năm, hễ gần đến lễ, bà con chuẩn bị rất chu đáo, mà trước hết tập trung ở việc ăn, mặc, ở. Các cháu nhỏ được ông, bà, cha mẹ ưu tiên sắm những bộ quần áo mới để đi chùa và đi chơi Tết với bạn bè. Mọi người sửa sang bàn thờ Phật, trang hoàng nhà cửa, dẫy cỏ đường đi, kết cổng chào... Mọi công việc ruộng rẫy lúc này cũng dừng lại. 

       tap tuc dap nui cat cua dong bao khmer nam bo hinh anh 2
      Mâm cúng núi cát.
      Để đón Xuân, người Khmer thường làm bánh tét (num chruk hay num anhsom), bánh ít (num tiênh hay num kôm), bánh gừng (num khnhây – bánh làm bằng bột nếp pha với đường, nặn thành hình củ gừng rồi chiên cho vàng), bánh bò (num akâu) và các loại mứt…, để cúng trong lễ đón Chư Thiên. Sau lễ Riêl Têvôđa tại nhà, mọi người sẽ đi đến chùa cùng tham dự các cuộc vui.

      Lễ tết này diễn ra ba ngày chính: ngày đầu gọi là Ngày đầu tiên gọi là Chol Sangkran Thmay có nghĩa là “bước đi”. Ngày này, người ta tiến hành lễ rước Maha Sangkran mới (rước Đại lịch). Lễ này có thể tổ chức sớm hay muộn trong ngày, miễn là chọn đúng giờ tốt, theo quan niệm của người Khmer (thường là lúc 7 giờ sáng, 5 giờ chiều hay 12 giờ khuya, tùy theo năm) để tắm gội sạch sẽ, mặc quần áo đẹp, mang lễ vật, nhang đèn vào chùa làm lễ rước lịch Maha Sangkra.

       tap tuc dap nui cat cua dong bao khmer nam bo hinh anh 3
      Nhà sư đắp núi cát.
      Ngày thứ hai, gọi là Thngay Von-boch có nghĩa là “thiếu hoặc thừa”. Ngày thứ ba, gọi là Thngay Lơn-săk có nghĩa là “tăng lên” (ngày thêm tuổi).

      Trong đó, ngày thứ hai có tục đắp núi cát. Thường thì buổi sáng sớm của ngày này mỗi gia đình làm lễ dâng cơm buổi sớm và buổi trưa cho các vị sư sãi, gọi là Ween-chong-ham. Trước khi thọ bát, các sư tụng kinh cầu phúc cho những người đã đem thức ăn cúng dường, đồng thời làm động tác ban thức ăn cho những oan hồn uổng tử. 

      Buổi chiều, tiến hành lễ đắp núi cát, gọi là Puôn-phnum-khsach. Đây là một tập tục lưu truyền theo sự tích về một người làm nghề săn bắn từ lúc trẻ đến già đã giết rất nhiều muông thú. Về già, ông luôn ám ảnh bởi những loài thú mà ông đã săn bắn, chúng lúc nào cũng đòi mạng ông. 

      Nhưng nhờ ông được sư sãi hướng dẫn cách đắp núi cát để tích phước. Ông bảo các loài chim muông nếu muốn đòi nợ ông thì hãy đem đi hết những hạt cát mà ông đã đắp. Nhưng các loài muông thú bất lực, đành kéo nhau đi, từ đó ông thợ săn già cố gắng tích đức cho đến một ngày ông về với cõi Phật.

      Để đắp núi cát, người ta dùng cát sạch đổ thành đống bên ngoài hành lang trước sân chùa. Theo sự hướng dẫn của các vị Achar, người ta lấy cát đắp 9 ngọn núi nhỏ gồm 8 ngọn ở 8 hướng và 1 ngọn ở chính giữa. Ngọn chính giữa tượng trưng cho trung tâm trái đất, còn lại tượng trưng cho bốn phương, tám hướng của vũ trụ. Đắp núi xong, người ta dùng tre (hoặc vật liệu khác) rào quanh 9 ngọn núi này. 

      Tiếp theo là đến phần lễ quy y cho núi, đến ngày hôm sau thì làm lễ xuất thế. Tất cả các nghi lễ này đến ngày nay được gìn giữ gọi là Anisong Puôn Phnom khsach nghĩa là phúc duyên đắp núi cát. Tục đắp núi cát có ý nghĩa ngăn trở ma quỷ và những điều xấu, đồng thời nhắc nhở mọi người nên tích phúc để ngày một cao vời, lớn lao như núi và lan dần khắp bốn phương, tám hướng. 

      Người Khmer dù bận bịu đến đâu thì tết đến cũng phải đi chùa, đặt biệt là tham gia đắp núi cát. Họ coi đây như là hành động tưởng nhở tổ tiên vừa tích đức để cuộc sống hiện tiền được tốt đẹp hơn. Quả là giá trị nhân văn không nhỏ gợi lại và vang ngân từ một tập tục cổ xưa cũ đồng bào.

      Điển tích “bà Cố Hỉ” và chuyện ngọc nữ “trộm dưa”

      Nguyễn Hữu Hiệp 

      (Dân Việt) Mỗi khi trò chuyện, nếu ai đó cố nhắc mãi những chuyện cũ không còn hợp thời, người dân lớp trước vùng sông nước Nam Bộ đã gọi trại “bà Thiên Y” thành “bà Cố Hỉ”. Vậy bà Cố Hỉ là ai?

      Do chiến tranh, một bộ phận người Chăm thiên di vào Nam, được triều đình nhà Nguyễn chỉ định cư trú tại một số nơi gần bản doanh của quân triều để tiện bảo vệ, che chở. 

      Ban đầu họ ở rải rác nhiều nơi, dần về sau, để thích nghi với sinh kế truyền thống (dệt vải, đánh bắt cá, nuôi dê cừu...), họ quần cư thành những xóm nhỏ cặp theo bờ sông, nhiều nhất là tại Châu Giang (ngang Châu Đốc). 

      Để có chỗ dựa tinh thần, định cư tại đâu họ cũng dựng miếu thờ Bà, gọi “Thiên Y” hay “Thánh mẫu”, nói đủ là “Thiên Y nương nương”, “Thánh mẫu nương nương”. Dần về sau, do toàn bộ người Chăm ở An Giang đều theo đạo Islam (Hồi giáo – theo luật của đạo này, tín đồ chỉ thờ độc nhứt thánh Alla), do đó họ không tín ngưỡng “thờ Bà” nữa. 

      Chính vì vậy, mỗi khi trò chuyện nếu ai đó cố nhắc mãi những chuyện cũ không còn hợp thời, người dân lớp trước vùng sông nước Nam Bộ đã gọi trại “bà Thiên Y” thành “bà Cố Hỉ” (nói đủ là “Thượng Động Cố Hỉ”): “Chuyện đâu hồi đời bà Cố Hỉ mà cứ nói hoài!”. Vậy bà Cố Hỉ là ai?
       dien tich “ba co hi” va chuyen ngoc nu “trom dua” hinh anh 1
      Tượng bà Thiên Y ở Tháp Chàm, Nha Trang
      Tìm hiểu được biết, bà là một vị nhiên thần, được xem là “thần tối cao” của người Chăm, “nguyên quán” tận Nha Trang, do từng tỏ ra linh ứng nên được các vua triều Nguyễn sắc phong (Gia Long, 1901; Duy Tân, 1909...).

      Về thần tích, theo Đào Thái Hanh “Những người bạn cố đô Huế”, ngày xưa ở núi Đại Điền có một ông già nhà quê và bà vợ cùng chung sống bằng nghề trồng dưa. Nhưng lần nào dưa sắp chín thì có người đến đánh cắp hết. Bực mình ông già nấp để canh dưa mong bắt được kẻ trộm.

      Một đêm ấm áp, ông thấy bên bụi cây, một cô thiếu nữ tuổi độ 13,14 đưa tay xinh đẹp hái dưa, vừa ngắm nghía vừa khen ngợi, vuốt ve và ăn ngon lành dưới ánh trăng. Ông già bắt lấy, hỏi cô và biết được cô là kẻ đánh cắp thường xuyên mùa dưa của ông. Ông rất ngạc nhiên về cách đi đứng khoan thai và mỹ miều của cô gái và ông quyết định đưa về chòi để nuôi nấng như con nuôi.
       dien tich “ba co hi” va chuyen ngoc nu “trom dua” hinh anh 2
      Bàn thờ Thượng Động Cố Hỉ tại chánh điện Thượng động miếu tại một ngôi chùa vùng Thất Sơn (An Giang)
      Suốt thời gian ấy cô ở nhà ông nông dân; sắc đẹp huyền diệu, sự trong trắng và tình yêu cảnh yên tĩnh làm cho cha mẹ nuôi cô rất mến và xem như con trời cho vậy.

      Có một hôm, thình lình vùng ấy bị trận lụt lớn, Thiên Y tự nhiên buồn bã có vẻ nhớ quê hương, đem lượm đá và chất lên như một hòn núi nhỏ và trồng hoa xung quanh để dựng lại cảnh đẹp của quê hương cô là “Đảo tam thần” xứ hoan lạc vĩnh cửu. Người cha nuôi thấy cách chơi này không vừa ý mình nên mắng quở làm cô mủi lòng và buồn nản.

      Trong lúc đó thì trôi qua một cây cổ thụ Đà Nam, gỗ rất thơm, bị trốc gốc, nước cuốn trôi giữa dòng. Thiên Y bám lấy thân cây và để trôi ra biển theo làn sóng.
       dien tich “ba co hi” va chuyen ngoc nu “trom dua” hinh anh 3
      Miếu Bằng Lăng tức Miếu Bà Thượng Động Cố Hỉ ở ấp Phú Hiệp, thị trấn Chợ Vàm, huyện Phú Tân, An Giang
      Cái xác cây bị cuốn ra Bắc và dạt vào bờ. Dân chúng ở miền đó rất ngạc nhiên thấy cây gỗ và xúm lại để lôi vào bờ. Nhưng mất công vô ích, cây gỗ quá nặng mặc dầu số lượng người bao nhiêu cũng không sao đẩy cây gỗ được.

      Tin này chẳng bao lâu được truyền đi khắp nước. Vị hoàng tử sắp lên thái tử, thấy việc lạ, đến tò mò xem vào cuộc câu bắt lạ lùng này. Vị thái tử cũng xuống nước và bỗng một tay nhấc nổi cây gỗ kéo vào bờ, và truyền cho đem vào vườn trong hoàng cung. 

      Vị thái tử này đã đến tuổi nhưng chưa có vợ. Có một đêm vừa đi qua lại gần cây gỗ để nghĩ đến tương lai mình, thình lình dưới ánh trăng mờ ảo, ông thấy một bóng người hiện ra trong sương mờ thơm ngát và đang đi đến. Thấy vậy ông rất rung động.
       dien tich “ba co hi” va chuyen ngoc nu “trom dua” hinh anh 4
      Chánh điện Miếu Bằng Lăng trước đây ghi Thượng Động Cố Hỉ, nay sửa là Thiên Y Tiên Nương
      Đêm sau, khi ông đang trầm ngâm trong cảnh hoang vắng thì lại thấy bóng ấy xuất hiện. Lần này ông đuổi theo thì điều kỳ lạ, từ bóng ấy ông thấy xuất hiện một thiếu nữ xinh đẹp. Người thiếu nữ này lúng túng định trốn nhưng không kịp nữa, ông hoàng đã ôm chặt trong vòng tay mà nàng không thoát nổi.

      Được hỏi tới, Thiên Y kể lại hết những sự kiện đã xảy ra trong đời nàng, trước khi bị trôi đến vùng này. Ông hoàng rất mê say và tâu lại vua cha về cuộc phiêu lưu tình cảm này. Vua sai các vị thiên văn xem tử vi. Họ đều đồng tình và lễ cưới được tổ chức cho Thái Tử và Thiên Y theo phong tục trong nước.

      Sau cuộc tình duyên đẹp đẽ này nàng sinh ra luôn hai đứa con. Đứa trai tên là Tri và đứa gái tên là Quý.

      Khi nào cũng bị lôi cuốn trong nỗi buồn bí ẩn, một ngày kia công chúa Thiên Y đưa hai con ra bờ biển, trốn chồng, nàng đưa hai con lên cây gỗ Đà Nam và đi vào hướng Nam.
       dien tich “ba co hi” va chuyen ngoc nu “trom dua” hinh anh 5
      Cổng vào cổ miếu Bà Thượng Động Cố Hỉ ở ấp Nhơn Khánh, xã Nhơn Nghĩa, huyện Phong Điền, Tp. Cần Thơ
      Khi trở lại cảng Cù Huân nàng bèn đi tìm lại cha mẹ nuôi trước. Mái nhà tranh cũ chẳng thấy nữa, lão nông dân và vợ đã chết từ lâu. Nàng xây một đền thờ hai vị.

      Thời kỳ ấy, dân ở Nha Trang đang còn sống lối hoang dã, chưa có phương tiện để sống và để chống lại thiên tai. Thiên Y để thời giờ giáo dục họ, những người xung quanh nàng phải tuân thủ luật pháp và phải tiết kiệm để giàu có.

      Nàng khắc hình mình trên tảng đá đẽo ở núi Cù Lao, làm xong cả nàng và con biến mất giữa ban ngày. Ông thái tử, biết sự việc, đem cả một hạm thuyền đi theo tìm. Khi họ đến cù lao, bọn man rợ trên đoàn thuyền của thái tử chém giết dân làng ở đó và đem bôi nhọ các hình chạm trên đá của công chúa. Để xử phạt bọn này, một trận bão lớn, gió xoáy làm trôi các thuyền bè, các mảnh đá vỡ biến thành tảng đá.

      Từ ngày ấy trở đi, vị Nữ thần ban bố nhiều "phép lạ" liên tiếp nhau.

      Có nhiều khi người ta thấy công chúa cưỡi con voi trắng đi dạo quanh trên đỉnh núi, và mỗi lần ra đi chơi đều có nổ ba tiếng ầm vang như lệnh đại bác. Có nhiều lần nàng xuất hiện dưới dạng tấm lụa bay vun vút trên trời hay nhiều khi nàng cưỡi đầu con cá sấu và đi lượn quanh hòn cù lao và các đảo lân cận.

      Dân làng tôn thờ nàng như vị nữ thần và nhờ nàng ban ơn cho họ hưởng bao nhiêu điều mong ước cầu nguyện.
       dien tich “ba co hi” va chuyen ngoc nu “trom dua” hinh anh 6
      Miếu thờ Thượng Động Cố Hỉ trong khuôn viên Giàn Gừa ở TP.Cần Thơ
      Trên núi có hai cái tháp, bên trái là dành cho nữ thần, bên phải là để thờ nàng và thái tử chồng nàng. Sau các tháp ấy là một ngôi chùa thờ cha mẹ nuôi của nàng.

      Có một bia mộ trước các tháp ấy chữ theo lối văn tự mà dân bản xứ chẳng hiểu gì ý nghĩa cả. Giờ đây, trong vườn mà các tháp ấy và chùa được dựng lên, nhiều khách đến tham quan hái quả trong vườn để ăn tại chỗ nhưng nếu đem đi thì sẽ bị thần phạt.

      Có một ngày trong năm, nhiều thú rừng và cá biển đến chầu yên lặng trước đền của nữ thần như là ngày kỵ giỗ theo kiểu của chúng. 

      Khi còn làm quan, đại thần Phan Thanh Giản đã có làm một bài văn tế viết bằng chữ Hán, được chạm khắc trên bia đá trân tàng tại Tháp Bà Nha Trang, nay vẫn còn.

      Trong tinh thần tôn kính thần linh, cũng nhằm thể hiện tình đoàn kết giữa các dân tộc anh em, hiện không ít nơi bà con người Việt vẫn thường lui tới những nơi thờ Bà để cầu xin những điều may mắn. 

      Vài dấu tích còn sót lại trên vùng đất này là Miếu Bà ở Chợ Vàm (huyện Phú Tân, An Giang – cũng gọi “miếu Bằng Lăng”, vì sau miếu có những cây bằng lăng rất to), miếu Bà ở Thất Sơn (An Giang – trong khuôn viên một ngôi chùa Phật), miếu Bà ở Phong Điền (Cần Thơ – cũng gọi Cổ miếu Giàn Gừa vì trong khuôn viên có những cây gừa rất to)... Tất cả đều được trùng kiến rất khang trang và tất nhiên khói hương không dứt.

      Giai thoại “Giàn Gừa”

      Đoàn công tác của Hội Nhà báo tỉnh và Hội Nhà báo tỉnh Cần Thơ tham quan Di tích lịch sử Giàn Gừa.

      Đoàn công tác của Hội Nhà báo tỉnh và Hội Nhà báo tỉnh Cần Thơ tham quan Di tích lịch sử Giàn Gừa.
      Có dịp tham quan Di tích lịch sử Giàn Gừa ấp Nhơn Khánh, xã Nhơn Nghĩa, huyện Phong Điền, TP. Cần Thơ, được nghe kể giai thoại “Giàn Gừa”, đoàn chúng tôi (Đoàn công tác Hội Nhà báo Bến Tre) được cập nhật thêm về loài thực vật đặc trưng của vùng sông nước  - cây gừa hay còn gọi cây si, cũng như tín ngưỡng dân gian của người dân Cần Thơ.
      Ngày 28-2-2019 (âm lịch) tới, tại Di tích lịch sử Giàn Gừa sẽ diễn ra Lễ hội vía Bà Thượng Động Cố Hỉ - vị nữ thần được xem là ân nhân của dân làng. Đây là hoạt động tín ngưỡng dân gian diễn ra hàng năm của người dân để thể hiện lòng tôn kính Bà.
      Miếu Bà Thượng Động Cố Hỉ được đặt trong khuôn viên Di tích lịch sử Giàn Gừa - có rất nhiều chi, cành, đan xen nhau tạo thành giàn lớn với diện tích tán cây hơn 2.700m², chiều cao trung bình khoảng 12m.
       Theo lời kể của bà Nguyễn Thị Thời - người chăm sóc khu di tích cũng là cháu cố đời thứ 5 của ông Cả Thành (người thuộc tộc họ Nguyễn), từ thời ông cố bà đã có cây gừa, đến nay hơn 150 năm tuổi. Người dân trong vùng quen gọi nơi đây "Giàn Gừa".
       “Ông Cả Thành là người gốc Bắc, ông vào Nam khai khẩn đất hoang lập nghiệp. Trong quá trình khai hoang, không may làm giàn gừa bốc cháy khiến cảnh vật hoang tàn. Không lâu sau đó, trong dòng họ Nguyễn nhiều người lâm bệnh và chết. Lúc bấy giờ, có ông đạo Bảy - vị đạo sĩ từ xa đến bốc thuốc cứu độ dân làng. Theo ông đạo Bảy, giàn gừa này là vùng đất thiêng, nơi ngự của bà Thượng Động Cố Hỉ, Bà nổi giận vì giàn gừa cháy rụi. Muốn an cư lạc nghiệp, người dân phải trồng lại cây gừa” -  bà Nguyễn Thị Thời cho biết.
      Theo lời ông đạo Bảy, người trong tộc Nguyễn đi tìm kiếm cây gừa trồng mới. Từ đó, con cháu ăn nên làm ra và hàng năm làm lễ giỗ cúng Bà. Trải qua 6 thế hệ, con cháu họ Nguyễn vẫn sinh sống trên mảnh đất này và thay nhau giữ gìn, tôn tạo nơi thờ phụng.
      Ngày 5-4-2013, UBND TP. Cần Thơ đã ký Quyết định xếp hạng Giàn Gừa là di tích lịch sử cấp thành phố. Cây gừa cổ thụ trong di tích cũng được Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam công nhận là Cây Di sản Việt Nam.
      Hiện, tộc họ Nguyễn chia làm 4 tổ để luân phiên chăm sóc gìn giữ khu di tích và lo trà nước phục vụ du khách đến tham quan.
      Theo Ban quản lý di tích TP. Cần Thơ, Di tích lịch sử Giàn Gừa hình thành cách nay hàng trăm năm. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, do địa hình hiểm yếu nên Giàn Gừa là địa điểm hoạt động cách mạng. Tại đây, diễn ra nhiều cuộc họp triển khai kế hoạch, nghị quyết, chỉ thị của Khu ủy, Tỉnh ủy, nơi cất giấu vũ khí, tập kết, chuyển quân từ vàm Rạch Sung, Bà Hiệp ra sông Cần Thơ, để vượt qua lộ Vòng Cung tấn công vào cơ quan đầu não của Mỹ-ngụy tại thị xã Cần Thơ. Từ năm 1961-1965, đây là nơi mở các khóa đào tạo, huấn luyện đội biệt động nội thành.
      Bài, ảnh: Phan Hân

      Những hàng cháo sườn đúng chuẩn Hà Nội

       Yên Vân
      ANTD.VN - Hà Nội có rất nhiều hàng cháo, thực đơn các món cháo cũng vô cùng phong phú, nhưng chỉ riêng cháo sườn mới là thứ mang đặc trưng của Hà Nội. Nó là món ăn vỉa hè theo đúng nghĩa, bởi nếu vào một nhà hàng hạng trung thôi, gọi được bát cháo sườn thì quả là “khó như lên trời”.
      Nhiều người bảo, khởi phát của những nồi cháo sườn đầu tiên được bán ở Hà Nội là để dành cho trẻ con, cái tuổi vừa mới mọc răng. Gạo được xay mịn, thịt băm nhuyễn, lại còn được ninh cho đến mức nhừ nhuyễn ra thì đương nhiên phải dành cho trẻ con rồi. Ấy thế mà chẳng phải. Cháo sườn bây giờ trở thành món ăn “quốc dân”.
      Đám thanh niên sau một hồi trà chanh vỉa hè thì rủ nhau ra ngõ Huyện ăn cháo sườn. Người già cả mỗi khi trời nóng nực, chán ăn cơm thì ăn tạm bát cháo. Học sinh buổi chiều đi học về lỡ cỡ cũng ghé vào ăn tạm bát cháo rồi mới về nhà chờ mẹ nấu cơm chiều.
      Những người Hà Nội đi xa, lâu ngày trở lại nhiều khi cũng phải ghé vào ăn bát cháo sườn để vừa hoài niệm quá khứ, vừa là đỡ cơn nhớ, cơn thèm một món ăn mà chẳng có nơi nao có và ngon bằng.
      ảnh 1
      Thủ phủ của cháo sườn Hà Nội
      “Thủ phủ” của cháo sườn Hà Nội được khoanh vùng từ đoạn phố Lý Quốc Sư cắt sang ngõ Huyện, Thọ Xương và Ấu Triệu. Không gian vỉa hè vốn bé xíu được tận dụng mọi centimét để làm chỗ ngồi cho thực khách. Những chiếc ghế nhựa được kê ra, vừa làm ghế vừa làm bàn. Chỉ đơn giản thế thôi mà nhiều gia đình mấy chục năm sống với nghề, có của ăn của để cũng từ mấy nồi cháo.
      Xưa chỉ có cháo, cùng lắm có thêm quẩy, giờ những thứ đi kèm với cháo khá “phức tạp”. Có hàng sáng tạo cho thêm ruốc. Nói chung, ruốc cũng là món không mỡ màng gì nên khá hợp, thành ra bây giờ cháo sườn kèm ruốc gần như là thứ không thể tách rời nhau được. Có hàng sáng tạo hơn thì kèm thêm thịt băm rim mặn với hạt tiêu, rồi thì trứng cút luộc, rồi thì ruốc nấm. Nếu ăn một bát đầy đủ thì những thứ đi kèm hóa ra lấn át cả món chính.
      Nhìn nồi cháo thấy nguyên liệu khá đơn giản chỉ có mỗi gạo tẻ và sườn (hoặc là sườn sụn, hoặc là thịt băm), nhưng để nấu được một nồi cháo ngon, các công đoạn chuẩn bị khá  phức tạp. Nên cơ bản, đó là một món ăn ít được các bà nội chợ nấu ở nhà.
      Gạo tẻ phải ngâm trước vài tiếng. Rồi thì đem xay, muốn bột mịn thì phải xay bằng cối đá, chứ đưa vào máy xay sinh tố thì vẫn lợn cợn lắm. Sườn thì sau khi chần qua (để làm sạch) mới đem ninh. Bếp đun phải nhỏ lửa, mở hé vung để tránh đục nước, rồi cứ phải luôn tay mà hớt bọt, sao cho nước thật trong.
      Khi sườn chín mềm mới đổ vào cùng bột vừa xay, nêm nếm cho vừa, quấy thật đều tay và nhỏ lửa để tránh bén nồi. Rồi đến khi cháo thật mịn và nhuyễn, bột bám hai bên thành nồi róc thì có nghĩa là cháo đã chín. Cháo sườn không nêm thêm hành hay rau thơm gì cả mà chỉ rắc thêm hạt tiêu hay ớt bột là đủ.
      ảnh 2
      Những hàng cháo đúng chuẩn
      Thực khách lứa tuổi học trò thuộc lòng những hàng cháo sườn trên phố, thuộc cả tính cách chủ quán. Điểm danh những hàng cháo không thể bỏ qua, đầu tiên phải kể đến quán cô Là. Hàng cháo khá nhỏ, nằm khuất sau trụ cáp điện vỉa hè Lý Quốc Sư nên nếu không phải là khách quen thì rất khó nhận ra.
      Cháo được nấu theo đúng chuẩn, tức là nấu từ gạo tẻ xay nhuyễn, dù thịt chỉ loáng thoáng trong nồi, nhưng miếng cháo “ngon từ thịt ngọt từ xương”. Một bát cháo, dăm ba miếng quẩy thôi mà khi đưa vào miệng, kết hợp với sự cay nồng của tiêu, ớt bột, thìa cháo như tan ra trong miệng.
      Hàng cháo sườn ngõ Huyện thường đông nghịt khách tầm từ trưa cho tới 3-4h chiều, chủ yếu thực khách là thanh niên. Cháo mịn và vừa miệng. Hàng cháo Huyền Anh ở Đồng Xuân thì được xem là đi tiên phong trong phong trào đổi mới cháo sườn. Nghĩa là thay vì thịt băm truyền thống thì hàng này nấu với sườn sụn. Thế là, thay vì dành cho trẻ con thì cháo sườn Huyền Anh trở thành món ăn dành riêng cho thanh niên lót dạ buổi chiều, ấm bụng lúc tối khuya.
      ảnh 3
      Có một hàng cháo nữa nhất định phải kể tới là cháo sườn của một bà cụ ở Hàng Bồ. Đã mấy chục năm, bà cụ bán cháo vẫn ngồi ở góc vỉa hè này. Miếng sườn trong nồi cháo của bà được ninh nhừ đến nỗi, thịt trở nên hồng hồng, mềm tơi ra, tan vào từng thìa cháo.
      Cũng nấu theo công thức kể trên, hàng cháo sườn trên phố Hàng Điếu cũng là nơi ăn một lần nhớ mãi. Sườn sụn ở đây được chặt khá to, nhưng ăn mềm, cháo thơm mùi gạo mới. Hàng cháo bán qua trưa, đến tầm chiều chiều thì hết.
      Cùng một cách nấu, cùng là xay bột, hàng cháo sườn nào cũng bán kèm cháo trai. Trai mua về làm sạch, rồi luộc lên, gỡ thịt, rửa sạch, bóc những lớp màng đi rồi thái nhỏ. Hành khô phi thật thơm rồi cho thịt trai vào xào, nêm mắm muối hơi mặn một chút để khi nấu cháo cho đậm vị. Nước luộc trai sau khi đã lọc sạch thì hòa chung cùng bột cháo, nấu đến khi sánh mịn là được. Có hàng thì đổ sẵn trai vào cháo, khi ăn mới múc ra bát rồi thêm quẩy, hạt tiêu, ớt bột. Nhưng cũng có hàng thì để trai riêng, khi ăn mới nêm thịt trai đã xào vào bát. Nói chung, cách nào cũng ngon.
      Nhiều người bảo, khởi phát của những nồi cháo sườn đầu tiên được bán ở Hà Nội là để dành cho trẻ con, cái tuổi vừa mới mọc răng. Ấy thế mà chẳng phải. Cháo sườn bây giờ trở thành món ăn “quốc dân”.