Chủ Nhật, 3 tháng 3, 2013

Đi ăn quán Pháp giá Việt ở khu trung tâm


Nằm ngay khu trung tâm quận 1 nhưng quán ăn Pháp có cái giá khá “dễ chịu” so với chất lượng và không gian của mình.

Nếu bạn cảm thấy mệt mỏi với việc xếp hàng chờ đợi tại quán Pháp nổi tiếng trên ở quận Bình Thạnhmà lần trước Kenh14 đã giới thiệu đến các bạn thì hôm nay chúng ta sẽ cùng “test” thử một quán Pháp khác – có chất lượng ngon ngang bằng, giá rẻ hơn 1 tí, nằm ngay khu trung tâm và đặc biệt: không phải quá đợi lâu nhé!
Quán nằm sâu trong con hẻm nhỏ số 100 Nguyễn Công Trứ - Quận 1. Hơi khó thấy vì đầu hẻm này bán rất nhiều thứ nên bị khuất, các bạn phải chịu khó chạy vào trong một tí mới tìm được.

Đi ăn quán Pháp giá Việt ở khu trung tâm 1
Món sườn non sốt BBQ hơi khô nhưng lại giòn và thơm béo

Đi ăn quán Pháp giá Việt ở khu trung tâm 2

Đi ăn quán Pháp giá Việt ở khu trung tâm 3
Một phần như vậy có giá trung bình từ 35 - 70k
Đi ăn quán Pháp giá Việt ở khu trung tâm 4
Theo tìm hiểu thì quán mở chưa được bao lâu nên đa số khách của quán là những học sinh, nhân viên văn phòng ở khu này hoặc những người đã đến ăn rồi quay lại là chính. Vì thế quán hơi đông khách vào những giờ ăn trưa, các bạn nên tránh giờ này kẻo hết bàn.
Vì là quán Pháp nên ở đây chỉ bán toàn món mặn và bánh Pháp. Các món ngon ở đây có thể kể đến như là: đà điểu sốt BBQ, bò sốt tiêu – hoặc sốt phomai, sườn heo sốt chua ngọt, và đặc biệt là món Ức vịt sốt dâu tằm (tuy nhiên món này hơi nhiều so với khẩu phần ăn của một người bình thường, nếu không có người ăn chung thì bạn hãy chuẩn bị tinh thần “take away” phần còn lại đem về nhé)
Đi ăn quán Pháp giá Việt ở khu trung tâm 5
Rau kèm rất sạch và tươi ngon, có thêm sốt dâu tằm chua chua

Đi ăn quán Pháp giá Việt ở khu trung tâm 6
Bò sốt phomai

Đi ăn quán Pháp giá Việt ở khu trung tâm 7
Thịt bò tươi - mềm và đậm đà

Đi ăn quán Pháp giá Việt ở khu trung tâm 8

Đi ăn quán Pháp giá Việt ở khu trung tâm 9
Salad cá ngừ là món dễ ăn và tốt cho sức khỏe vì không có dầu mỡ

Đi ăn quán Pháp giá Việt ở khu trung tâm 10
Món mắc nhất quán nhưng đáng đồng tiền

Đi ăn quán Pháp giá Việt ở khu trung tâm 11
Theo đánh giá chung thì món bò của quán thịt tươi và thấm gia vị, đà điểu rất mềm, sườn heo chiên trước khi sốt nên có hơi khô nhưng ngược lại ăn có cảm giác giòn cũng thú vị, mỳ ý sốt bò cũng ổn – dễ ăn… Ngoài món mặn, các loại salad ở đây cũng đáng nên thử, nhất là món salad cá ngừ sốt mayonnaise (hình như 35k).
Một phần ăn ở đây có giá từ 15k (các loại salad và bánh ngọt), 58k (bò Úc sốt BBQ) – cho đến 100k (Ức vịt là món mắc nhất của quán – nhưng là món đáng để ăn). Một phần ăn có kèm cả bánh mì tươi và đá lạnh miễn phí (xin thêm nước thoải mái, không tính tiền). Bánh Plan của quán cũng khá ngon, rất thơm và béo nhưng một phần 25k hơi nhiều (1 chén tròn to) nên ăn một mình sẽ thấy hơi ngán.

Đi ăn quán Pháp giá Việt ở khu trung tâm 12
Khoai tây chiên 30k
Đi ăn quán Pháp giá Việt ở khu trung tâm 13
Bánh ngọt Pháp sốt socola
Đi ăn quán Pháp giá Việt ở khu trung tâm 14

Đi ăn quán Pháp giá Việt ở khu trung tâm 15
Bánh táo chua chua ngọt ngọt
Đi ăn quán Pháp giá Việt ở khu trung tâm 16
Bánh ở đây có giá khoảng 15 - 25k
Nhược điểm của quán là hơi "ki bo" tương chấm nên nếu bạn nào có nhu cầu dùng nhiều thì hơi mất thời gian để xin thêm. Ngược lại, phục vụ có thể đánh giá 8/ 10 điểm. Nhiệt tình và hiền lành, chịu khó chiều khách dù bị gọi liên tục xin thêm sốt và nước.

Khám phá ẩm thực bún Đà Nẵng giữa lòng Sài Gòn


Quán nhỏ cực xinh chỉ chuyên bán các món về bún với nguyên liệu toàn bộ được “xách tay” từ Đà Nẵng vào.

Quán nằm khuất trong một con hẻm nhỏ đường Trương Quyền (quận 3) có một quán bún khá dễ thương và độc đáo. Quán nhỏ nhưng thoáng và đẹp, mới nhìn cứ tưởng như là một quán café. Đặc biệt nơi này chỉ bán bún, và bún chỉ độc nhất một phong cách ẩm thực là Đà Nẵng. 
Khám phá ẩm thực bún Đà Nẵng giữa lòng Sài Gòn 1
Quán nhỏ nhưng rất dễ thương

Khám phá ẩm thực bún Đà Nẵng giữa lòng Sài Gòn 2
Bún thịt nướng nem chua Đà Nẵng

Khám phá ẩm thực bún Đà Nẵng giữa lòng Sài Gòn 3
Bún chả bò - nem chua

Khám phá ẩm thực bún Đà Nẵng giữa lòng Sài Gòn 4
Thịt nướng ngon với công thức gia truyền lâu đời
Hỏi ra mới biết, cô chủ quán ở đây là một người phụ nữ gốc Huế nhưng sinh ra và lớn lên tại Đà Nẵng. Gia đình cô nhiều đời làm nem nướng, thịt nướng bỏ mối sỉ cho các nhà hàng tại thành phố biển xinh đẹp này. Với mong muốn đem ẩm thực quê mình vào miền Nam phục vụ đồng hương và người dân Sài thành, cô đã cho ra đời quán ăn này.
Nhìn chung, giá món ăn ở đây không phải là quá rẻ (món mặn từ 30k đến 49k/ phần, nước từ 3k trở lên) nhưng nếu so sánh khung cảnh, không gian và chất lượng thức ăn thì có thể nói đây là một quán rất đáng để trải nghiệm.
Khám phá ẩm thực bún Đà Nẵng giữa lòng Sài Gòn 5

Khám phá ẩm thực bún Đà Nẵng giữa lòng Sài Gòn 6
Sốt ớt cực ngon
Khám phá ẩm thực bún Đà Nẵng giữa lòng Sài Gòn 7
Sốt trộn bún với pate và đậu phộng lạ miệng cực ngon
Ngoài các thành phần chính quan trọng được nhập thẳng từ Đà Nẵng vào như: nem chua, chả bò và cả những cọng rau húng – rau thơm cũng được gửi từ làng rau Trà Quế - Hội An (một làng rau truyền thống rất nổi tiếng tại vùng này). Vì thế, nếu là một người sành ẩm thực, bạn đừng quên nhấm nháp thử một cọng rau này khi món được đem ra phục vụ nhé, bảo đảm sẽ cảm nhận được sự khác biệt của rau miền quê và rau thành thị ngay. Rau húng và rau quế của làng rau Trà Quế phải nói là rất thơm, rất ngọt và mùi cực kỳ nồng, không lẫn vào đâu được.
Khám phá ẩm thực bún Đà Nẵng giữa lòng Sài Gòn 8
Rau nhập thẳng từ làng rau Trà Quế Đà Nẵng

Khám phá ẩm thực bún Đà Nẵng giữa lòng Sài Gòn 9
Món ăn đậm chất Đà Nẵng nhất của quán có lẽ là món bún heo quay mắm nêm (ăn khá lạ, mắm nêm của quán rất thơm và đậm đà). Nhưng món lạ và ngon nhất thì phải kể đến món bún thịt nướng nem chua chả bò Đà Nẵng. Khi ăn món này, bạn sẽ được ăn một loại nước sốt thơm và béo ngậy được làm từ đậu phộng và pate gan như trong hình. Bún thịt nướng của người Đà Nẵng hay có sốt đậu kèm theo nhưng chưa ở đâu làm được món sốt đậu pha pate ngon và béo như vậy cả.
Khám phá ẩm thực bún Đà Nẵng giữa lòng Sài Gòn 10
Thịt heo quay giòn và đậm đà, ăn vừa miệng

Khám phá ẩm thực bún Đà Nẵng giữa lòng Sài Gòn 11
Bún heo quay mắm nêm chả bò nem chua

Khám phá ẩm thực bún Đà Nẵng giữa lòng Sài Gòn 12

Khám phá ẩm thực bún Đà Nẵng giữa lòng Sài Gòn 13
Ớt của quán cũng đặc biệt, được làm công phu từ những trái ớt rừng chín đỏ, bỏ sạch hạt trước khi chế biến. Theo công thức bí mật nào đó, sốt ớt ở đây có mùi thơm, không quá cay nhưng rất ngon miệng. Sốt ớt còn được trộn với mè rang, nhìn khá vui mắt.

Khám phá ẩm thực bún Đà Nẵng giữa lòng Sài Gòn 14

Khám phá ẩm thực bún Đà Nẵng giữa lòng Sài Gòn 15
Ớt cực thơm ngon

Khám phá ẩm thực bún Đà Nẵng giữa lòng Sài Gòn 16
Một thứ còn lại không thể bỏ qua là nước trà đá gạo rang của quán. Một ly đầy lạnh ngắt thơm lừng có giá chỉ 3k, tha hồ thưởng thức.
Khám phá ẩm thực bún Đà Nẵng giữa lòng Sài Gòn 17
Nếu đi từ hướng Điện Biên Phủ xuống thì con hẻm có tên đường là Trương Quyền này nằm phía bên tay trái ( vừa qua khỏi ngã tư Phạm Ngọc Thạch một tí, đối diện xéo với karaoke Gia Đình)
Chỗ này đông khách vào giờ trưa, rất hay hết bàn nên bạn có thể “né” một chút sớm hơn hoặc sau khung giờ này (12h – 13h). Khung giờ tuyệt vời nhất để ghé đây là buổi tối, khi con đường nhỏ vắng hoe người, ngồi bàn gỗ trong phòng máy lạnh - nhâm nhi món ăn và nhìn ra ngoài, rất thú vị.

Canh bình bát nấu với cá trê

 

 

 

 

Dây và trái bình bát. Ảnh: Thiên Phúc
(TBKTSG Online) - Theo kinh nghiệm dân gian, vào những ngày hè nóng nực bà con thường tìm các loài rau vườn có vị thuốc như rau má, rau sam, rau diệu, mồng tơi, cải trời… để nấu canh, giúp cho cơ thể thanh nhiệt. Đặc biệt trong các loài cây cỏ mọc tự nhiên ngoài vườn, trên đồi núi hoặc ngoài hải đảo có một loài dây leo dùng nấu canh ăn rất ngon và ngọt, được nhiều người ưa thích, đó là bình bát dây, có nơi còn gọi là mảnh bát, dưa dại.
Bình bát dây là loại dây leo thường mọc hoang, um tùm, lá xanh mướt, thuộc họ bầu bí. Lá bình bát mọc so le, hình trái tim, hoa màu trắng, có năm cánh. Trái lúc còn non có màu xanh giống như dưa leo, to bằng ngón tay cái, vị đắng, lúc chín có màu đỏ rực, vị trở nên ngọt.
Theo kinh nghiệm dân gian, củ bình bát có thể ngâm rượu dùng xoa bóp chỗ sưng đau, viêm khớp. Trái bình bát có thể trị tiểu đường, lá tươi dùng nấu nước tắm trị ghẻ ngứa hoặc đâm nhuyễn đắp nơi mụn nhọt, lở loét hay vết cắn của côn trùng.
Tô canh lá bình bát nấu cá trê. Ảnh: Thiên Phúc
Ở nông thôn hoặc miền núi, hải đảo bà con thường dùng lá và đọt bình bát dây để nấu canh với tôm, cá, thịt, riêu cua. Đặc biệt tại các chùa chiền bà con thường nấu chay với tàu hủ. Đây là món ăn vừa ngon ngọt vừa có tác dụng thanh nhiệt và làm mát gan.
Muốn có một nồi canh lá bình bát đúng điệu, mùi vị thơm tho, chúng ta nên hái những chiếc lá non lành lặn, đọt càng tốt, đem rửa sạch, để ráo. Nếu nấu với cá trê, chúng ta chọn những con trê trắng hoặc vàng còn tươi sống đem về làm sạch nhớt, mổ bụng, bỏ ruột, sau đó cho nguyên con vào nồi nước sôi.
Đến khi cá chín mới vớt ra giẻ lấy thịt, ướp thêm nước mắm, tiêu, hành và chút bột nêm (không cần bột ngọt và đường vì hai loại nầy sẽ làm mất đi hương vị đặc trưng của bình bát). Kế đến cho hết lá bình bát vào nồi và sau cùng là cá đã giẻ và ướp sẵn. Thế là chúng ta đã có một nồi canh bốc khói, thơm phức, dùng ăn chung với cơm hoặc làm nước canh tẩm bổ.
Canh lá bình bát nấu với cá trê vừa thơm ngon, vừa ngọt, một vị ngọt đậm đà, đặc trưng, mang hương vị miệt vườn, không giống với bất cứ loại rau nào khác.

Khô heo


(TBKTSG Online) - Đối với nhiều người, cái tên khô heo nghe thấy lạ tai. Vì trước nay, người ta chỉ nghe đến khô cá, khô bò, khô nai... thậm chí là khô chuột chứ chưa bao giờ nghe nói đến hai tiếng khô heo.
Khô heo. Ảnh: Trần Kiều Quang
Thật ra, khô heo là một sáng tạo độc đáo của cộng đồng người Hoa ở đồng bằng sông Cửu Long. Khô heo không chỉ là nguồn thực phẩm dùng để dự trữ mà còn là một dạng thực phẩm để dùng làm phong phú thêm bữa ăn trong ngày tết. Cũng như lạp xưởng, người ta có thể ăn khô heo ở tất cả các ngày trong năm, vì ở chợ hiện nay đều có bán loại thực phẩm này. Nhưng thông thường, món này được tung ra bán nhiều vào dịp tết. Chính điều này làm cho hương vị ngày xuân thêm phong phú hơn.
Khô heo - tiếng Quảng Đông gọi là "dục xụy", được làm từ thịt nạc của con heo. Người ta chọn loại thịt ngon thái từng miếng mỏng như khô bò, sau đó đem ướp ngũ vị hương, nước mắm ngon, một ít rượu, chút lưu huỳnh rồi đem phơi. Để cho gia vị thấm vào từng thớ thịt, ướp xong người ta đợi khoảng hai tiếng đồng hồ mới đem phơi nắng, phơi đến khi nào miếng thịt khô lại là được.
Sau khi phơi nắng, miếng khô có màu đỏ, trông rất đẹp mắt. Khô heo có thể ăn nướng hoặc chiên. Khi nướng hoặc chiên, mùi thơm xộc lên nức mũi, chưa ăn đã thấy thèm, nếu làm mồi nhậu thì "hết sẩy". Còn nếu dùng để ăn cơm hay ăn với bún thì phải chịu khó làm thêm chén mắm me dầm ớt, ăn kèm ít dưa leo, rau sống thì ngon hết chỗ chê.
Trần Kiều Quang

Chùa Pitu Khôsắ Răngsây

 

 

 

 

Chùa Pitu Khôsắ Răngsây, nhìn từ hồ Xáng Thổi vào đêm thứ Bảy hàng tuần.
(TBKTSG Online) - Đối với cộng đồng người Khmer, do nhu cầu tôn giáo là chỗ dựa tinh thần nên hầu hết ở các địa phương có người Khmer sinh sống thì ngôi chùa là nơi lưu giữ, trưng bày các tác phẩm điêu khắc, mỹ thuật của các nghệ nhân dân gian Khmer.
Chùa còn là bộ mặt, là niềm tự hào về những tinh túy trong đời sống văn hóa - xã hội của cộng đồng đó, là một thiết chế xã hội không thể thiếu của người Khmer cho dù cư dân ở đó nhiều hay ít. Chính vì yếu tố đó mà chùa Khmer luôn được xây dựng trong môt không gian đẹp, được trang trí tươi sáng, rực rỡ với nhiều màu sắc và bao hàm các yếu tố mỹ thuật tinh xảo.
Chùa Pitu Khôsắ Răngsây - còn gọi là chùa Viễn Quang - toạ lạc tại số 27/18 đường Mạc Đĩnh Chi, phường An Cư, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ, là một kiến trúc tín ngưỡng độc đáo, một trong những điểm du lịch hấp dẫn về văn hoá Khmer Nam bộ.
Lối vào chùa qua con hẻm từ đường Lý Tự Trọng, gần công viên Lưu Hữu Phước.
Chùa Pitu Khôsắ Răngsây còn được gọi là “Chùa Sau” vì trên đại lộ Hoà Bình (cách đó chừng 500 mét) còn có chùa Muni Răngsây được gọi là “Chùa Trước”, do vị trí Muni Răngsây (Munir Ansay) quay mặt ra, nằm sát con phố lớn nhất trung tâm thành phố Cần Thơ..
Chùa Pitu Khôsắ Răngsây được xây dựng năm 1948 (Mậu Tý - Phật lịch 2491) từ nhu cầu tu học của các phật tử người Khmer Nam bộ do thượng tọa Sơn Tây đứng ra xây dựng với cơ sở ban đầu từ vật liệu thô sơ bằng cây lá trên diện tích chừng 500 mét vuông, do bà con Phật tử quanh vùng cúng dường. Thượng tọa Sơn Tây cũng là vị trụ trì chùa đầu tiên, viên tịch năm 1960.
Sau hơn nửa thế kỷ, chùa Pitu Khôsắ Răngsây trải qua nhiều đợt tôn tạo và trùng tu. Năm 2008, chùa được đại trùng tu và đã hoàn thành sau 4 năm thi công, khánh thành vào hạ tuần tháng Tư năm 2012 với tổng chi phí 12 tỉ đồng. Hiện nay, chùa Pitu Khôsắ Răngsây được đánh giá là một trong những ngôi chùa hoành tráng và đẹp nhất vùng đồng bằng sông Cửu Long, quanh năm tiếp đón khách du lịch hành hương khắp nơi và đông đảo bà con người Khmer miền Tây Nam bộ chiêm bái.
Kiến trúc độc đáo
Mặt trước chính điện.
Cũng như các ngôi chùa Khmer Nam bộ khác, chùa Pitu Khôsắ Răngsây bao gồm nhiều bộ phận kiến trúc như chính điện, sa la, nhà tăng... Bước từ ngoài vào, cổng chùa Pitu Khôsắ Răngsây được xây dựng tỉ mỉ với những tháp trên nóc cổng khắc các biểu tượng, phù điêu tượng Phật; những hàng hiên cột chạm khắc cầu kỳ. Bên trong chùa là các biểu tượng rắn, rồng (rồng Khmer) được đắp nổi trên mái chùa, trên các thành bậc lên xuống; các tượng người chim (Garuda), tượng tiên nữ (Kayno) được gắn như những con sơn đỡ mái chùa.
Chính điện chùa Pitu Khôsắ Răngsây quay về hướng đông. Mái của chính điện được thiết kế gồm 3 cấp, mỗi cấp chia thành 3 nếp hình thành hệ thống cấu trúc mái. Những cấp mái với những đường cong góc mái, những hình tượng chạm khắc trên hai đầu hồi, trên tháp nóc… Tất cả được thực hiện công phu, tinh xảo, kết hợp với những màu nguyên gốc và những pha chế chuẩn mực để thể hiện bút pháp tài hoa và trình độ thẩm mỹ cao của người Khmer Nam bộ.
Hầu hết chùa Khmer theo hệ phái tiểu thừa, nên chính điện thờ phụng đức Phật Thích Ca Mâu Ni trên tòa sen chia thành nhiều cấp, trang trí rất tỉ mỉ đặt ở chính giữa nhà và gian chính điện luôn nằm ở chính giữa khuôn viên chùa, trên nền cao khoảng một mét. Tòa chính điện chùa Pitu Khôsa Răngsây gồm ba tầng và tầng tháp được xem như tầng thứ tư, được xây dựng bằng bê tông cốt thép tường gạch, chót tháp đổ bê tông mái lợp ngói. Bốn phía tòa chính điện được trang trí bằng những hoa văn tinh xảo.
Trước khi lên cầu thang vào chính điện tầng một chúng tôi nhìn thấy hai tượng chằn với khuôn mặt dữ tợn; đây là hình tượng luôn có ở tất cả các chùa Khmer dùng. Chằn được coi là tượng trưng cho tà ma phá hoại Phật pháp. Chằn được thể hiện dưới dạng một người to lớn, khoẻ mạnh, vẻ mặt dữ tợn, mình mặc giáp trụ, tay cầm chày vồ đứng gác ở cổng chùa. Trước tượng chằn phía bên trái là cây bồ đề với tượng Phật Thích Ca tọa thiền gốc cây. Hai bên lan can dẫn lên chính điện là hai tượng rắn rồng to lớn là tay dẫn lên chính điện.
Tầng hai chánh điện chùa Pitu Khôsắ Răngsây
Tầng một chính điện là một không gian thoáng rộng, tô vẽ hoa văn khắp gian. Chính giữa là tượng Phật Thích Ca bằng đồng sáng loáng, cao khoảng hai mét được thỉnh từ Thái Lan. Ngoài ra còn nhiều tượng Phật đứng và ngồi khác được xếp đặt thứ tự. Bên hông gian chính có đường lên điện tầng hai.
Tầng hai cũng là gian thờ Phật với diện tích tương đương tầng một. Chung quanh vách hai bên là hình vẽ tô màu thật đẹp về cuộc đời đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Chính giữa trên cao đặt tượng Phật Thích Ca ngồi, được thếp vàng. Bên dưới là các tượng Phật Thích Ca đứng, ngồi bằng đá quý, bằng đồng… Ngoài ra còn có hai tượng Phật bằng đá được thỉnh về từ Myamar. Các cột trụ trong chánh điện tầng một và tầng hai, phần chân và phần đầu đỡ sàn đều đắp hoa văn Phanhi lửa.
Chúng tôi tiếp tục men theo bên hông để lên tầng ba. Diện tích tầng ba cũng bằng tầng hai và tầng một nhưng trang trí với nhiều sắc trắng hơn. Vách tường được đắp nổi phù điêu nữ thần Têpanon - Phanhites cộng với Phanhi Phlong. Các cột trụ tầng ba đắp nổi hoa văn Angkor toàn thân. Ngoài ra còn được trang trí bằng mười sáu bức tranh minh họa, thuật chuyện cuộc đời của đức Thích Ca từ đản sanh đến Phật nhập niết bàn. Vách ngoài tầng ba đắp hoa văn đặc thù của văn hóa Khmer Angkor hòa hợp với Khmer Nam bộ. Giữa chính điện tầng ba có thêm các tượng nằm là tượng Phật nhập niết bàn. Có hai tượng Phật ngồi xếp bằng hai bên bằng đá được thỉnh về từ Campuchia.
Cả ba tầng của chùa có mười hai cửa sổ bằng gỗ được khắc chạm tỉ mỉ là mười hai bức phù điêu thể hiện nội dung các truyền thuyết dân gian.
Đặc biệt nhất là tầng tháp. Chúng tôi được sư trụ trì cho biết, ít có chùa nào có bốn tầng và ít có chùa nào lại sử dụng tầng tháp. Nếu xin phép, chùa sẽ mở cửa tầng tháp để du khách có thể tham quan. Có một lối đi bên hông phía bên ngoài của tầng ba để leo lên tầng tháp. Tầng tháp gắn với mái chùa được trang trí mái cong vút là phần cao nhất của chùa.
Chót tháp đổ bê tông mái lợp ngói. Kiến trúc hoa văn trang trí rồng Ăngkor cách điệu uốn lượn ở các bao lam mặt trước chánh điện, đầu rồng Ăngkor, tiên nữ Keynor - chim thần Krud, phù điêu thần chằn Hanuman, nữ thần Teppanom. Mái cong và tầng tháp cao nhất do nghệ nhân đắp tượng ở Sóc Trăng, Bạc Liêu thực hiện. Đi chung quanh bốn mặt của tầng tháp với lối đi rộng khoảng một mét, du khách sẽ tha hồ ngắm cảnh toàn thành phố Cần Thơ.
Tầng tháp gắn với mái chùa được trang trí mái cong vút là phần cao nhất của chùa.
Tầng thứ tư của chùa là tầng tháp cao nhất còn là nơi lưu trữ Tam Tạng kinh bằng tiếng Ba Li và kinh bằng tiếng Việt được xếp trang trọng ở hai đầu phòng kinh. Chính giữa gian là thờ xá lợi Phật. Phải nói là tầng thứ tư là nơi trang trí tuy với không gian nhỏ nhưng thật sáng và đẹp mắt làm ánh lên nét trang nghiêm. Rất nhiều du khách quốc tế đã đến đây và được tham quan tầng đặc biệt này.
Chùa còn là nơi lưu giữ văn hoá Khmer như đàn ngũ âm, các điệu múa Chja Dăm, múa dân gian Campuchia… và được trình diễn thông qua những ngày lễ quan trọng như tết Oóc Ôm Bóc, lễ Choi Chơ Năm Thơ Mây, lễ Dolta, lê Dâng Y, lễ Cúng Trăng…
Nhiều sinh viên, học sinh nghèo người Khmer từ các tỉnh lân cận đến học tập tại Cần Thơ được vào chùa ở trọ và ăn cơm miễn phí, được học thêm tiếng Khmer; vừa làm công quả cho chùa, vừa học kinh Phật. Ngoài ra chùa còn dành thêm một số phòng trọ khang trang, sạch sẽ, tươm tất cho các sư Khmer ở nơi khác có việc đến Cần Thơ có nơi ăn, nghỉ yên tịnh.
Khi đi từ dưới tầng trệt lên các tầng trên, tôi cũng nhìn thấy có nhiều tượng chằn, tượng thần, tượng Phật, phù điêu … nhưng điều gây ấn tượng đặc biệt nhất là tượng một gương mặt chằn ăn một vòng tròn. Hỏi ra mới biết đó là tượng Reahu (hoặc Rìa-Hu hay còn gọi là Rahu). Tượng Rìa-hu - nhân vật đặc biệt được đắp nổi chỉ có phần đầu mà không có thân - đặt trên lầu sala phía bên phải của chùa khi bước lên chính điện, là một câu chuyện dài giải thích hiện tượng nhật thực, nguyệt thực của người Khmer Nam bộ.
Trong những hình tượng được đắp nổi hay trang trí thờ phụng trong chùa thì “Rìa-hu” và “Chằn” là những biểu tượng của cái ác. Rìa-hu được đắp nổi hay vẽ thể hiện gương mặt một quái vật hung dữ với đôi mắt trợn trừng, với vành miệng rộng đang nhe hai hàm răng nhọn lởm chởm nuốt vòng tròn tượng trưng cho mặt trăng hay mặt trời. Ở nhiều chùa Khmer Nam bộ, Rìa-hu được trang trí ở nhiều nơi, trên cổng vào chùa, trên vòm mặt tiền ngôi chính điện, trên vòm cửa ra vào và thậm chí ở ngay cả bệ tượng Phật.
Truyền thuyết về sự tích Rìa-hu
Một vị sư kể lại cho chúng tôi nghe rằng: Ngày xửa ngày xưa, có một gia đình nọ có ba anh em trai. Ngày nào cũng vậy ba anh em cũng dành phần cơm để dâng cơm cho các nhà sư đi khất thực. Một hôm, người em út được hai anh giao cho nấu cơm. Rủi thay hôm đó củi bị mưa ướt nên nhúm mãi mà lửa không cháy được nên khi đoàn các sư khất thực đi ngang qua nhà mà cơm vẫn chưa chín.
Không có cơm để dâng cho các sư, hai người anh giận và quát mắng, lấy vá xúc cơm đánh vào đầu người em út. Người em út bị các anh đánh, tủi thân, tức mình bỏ ra bờ con sông lớn sau nhà ngồi khóc. Nhìn con nước sông đang chảy xiết, người em út nguyện kiếp sau được hóa thành người có sức mạnh như dòng nước chảy xiết để không ai bắt nạt được mình.
Hai người anh tìm kiếm đứa em, nghe lời than vãn và lời nguyện đó mà lo lắng và từ đó họ cũng nguyện kiếp sau sẽ trở thành người có sức mạnh hơn dòng nước để em mình không làm hại được mình. Cả ba anh em đều toại nguyện. Người anh cả được hóa kiếp thành Pờ-rặc A-tít, tức là mặt trời, người anh thứ hóa kiếp thành Pờ-rặc Chanh tức là mặt trăng, và người em út hóa kiếp thành Rìa-hu, một người to lớn, mặt mũi xấu xí, có sức mạnh không ai có thể cản lại nổi.
Từ mối thâm thù xưa cũ với hai anh từ kiếp trước, Rìa-hu thường chặn bắt mặt trời và mặt trăng nuốt vào bụng để trả thù. Do đó hình tượng Rìa-hu thường được đắp nổi hay vẽ cảnh đang nuốt vòng tròn thể hiện mặt trời hay mặt trăng. Lúc nuốt mặt trời hay mặt trăng đó, đã làm cho trời đất bị tối đi. Vị thần Pờ-rặc In, người cai quản vũ trụ, thấy vậy bèn dạy cho Pờ-rặc A-tít và Pờ-rặc Chanh hai bài thần chú gọi là Sô bờ-rích là kinh Mặt Trời và Chanh bờ-rích là kinh Mặt Trăng để khi lâm nạn Pờ-rặc A-tít và Pờ-rặc Chanh đọc để buộc Rìa-hu phải nhả mình ra. Từ đó , Rìa-hu chỉ nuốt mặt trời và mặt trăng được một lát, thì bị hiệu ứng của bài kinh phải nhả mặt trời hay mặt trăng ra. Trời đất lại trở nên sáng sủa lại sau nhật thực hay nguyệt thực. Những lúc này người Khmer Nam bộ thường đánh trống khua mõ,… gây tiếng động để Rìa-hu nhả mặt trời hay mặt trăng ra.
Phù điêu thần Rìa-hu.
Thêm một chuyện kể khác về Rìa-hu: Ỷ mình to lớn, có sức mạnh vô địch nên Rìa-hu rất kiêu ngạo, quyết tâm tìm người tỷ thí. Nghe nói Đức Phật là người mạnh nhất thế gian, Rìa-hu tìm đến đòi thách đấu. Đức Phật biết Rìa-hu sắp đến nên dùng thần thông biến ngôi điện của mình nhỏ lại để tạo lòng kiêu ngạo, tự đắc của Rìa-hu. Khi Rìa-hu bay đến nơi, thấy ngôi chánh điện nhỏ xíu, chỉ bằng nắm tay của mình, thì tự đắc cho là mình có thể bóp nát ngôi chánh điện ấy một cách dễ dàng.
Nhưng khi Rìa-hu bước vào ngôi điện nhỏ bé đó thì bước qua dễ dàng không bị vướng gì cả. Bên trong ngôi điện rộng thênh thang còn đức Phật thì to lớn như quả núi, mình đắp y vàng. Sau khi định thần, Rìa-hu hỏi đức Phật: Trong vũ trụ, có phải ông là người to lớn nhất không? Đức Phật bảo, trong vũ trụ không ai lớn hơn ngài Đại Phạn Thiên - tiếng Khmer là MahaPờrum. Rìa-hu nài nỉ đức Phật đưa mình lên thượng giới gặp Đại Phạn Thiên. Nhìn thấy MahaPờrum hết sức to lớn, Rìa-hu sợ hãi, luôn miệng van xin tha lỗi và hổ thẹn xin Đức Phật cho về. Đức Phật căn dặn trên đường về không được uống nước trường sinh ở hồ thiêng A-Nô-Ti.
Nhưng đường thì xa mà người thì khát nên Rìa-hu quên lời căn dặn của Phật nên đã xuống hồ uống nước. Thần giữ hồ Kom-phôn-lác tức giận kẻ đánh cắp nước trường sinh nên thổi luồng gió thiêng Căm-ma-viết là luồng gió nghiệp báo cắt đứt Rìa-hu làm đôi ngang ngực. Rìa-hu hoảng sợ bỏ nửa phần còn lại dưới hồ, mang nửa phần trên còn sống được là nhờ nước trường sinh, bay vút đi. Bay đến đâu tạo mưa to, giông bão đến đó. Vì vậy mà người Khmer có tập tục là hễ có gió to thì đánh trống, gõ thùng… thậm chí, cầm dao hô lớn "tránh đi, tránh đi" tạo tiếng vang lớn để xua đuổi Rìa-hu đi nơi khác, tránh làm thiệt hại nhà cửa ruộng vườn của họ.
Du khách đến viếng chùa có thể đi bộ từ đường Lý Tự Trọng (đoạn cuối công viên Lưu Hữu Phước) vào hẻm đi thẳng chừng 300 mét là đến. Do chùa nằm trong hẻm nên nếu đến chùa bằng cách này, hình ảnh ngôi chùa được hiện rõ và làm cho tầm nhìn được đẹp hơn. Vào tối thứ Bảy hằng tuần lúc 19 giờ, chùa được thắp sáng bằng nhiều đèn phối màu rất đẹp, nếu ngắm nhìn từ hồ Xáng Thổi cách chùa 100 mét, hình ảnh ngôi chùa sáng lung linh trên mặt hồ, trông rất đẹp.

Đền thờ và lăng họ Mạc ở Hà Tiên









Tượng đài Mạc Cửu uy nghi nơi Mũi Tàu cửa ngõ vào thị xã Hà Tiên, được dựng nhân 300 năm thành lập trấn Hà Tiên.

(TBKTSG Online) - Trong thời gian từ ngày 19 đến ngày 24-2-2013 (tức từ mồng 10 đến rằm tháng Giêng), lễ hội Nguyên tiêu, cũng là lễ hội Tao đàn Chiêu Anh Các năm Quý Tỵ diễn ra tại thị xã Hà Tiên (Kiên Giang). Lễ hội năm nay có nhiều nét mới, đa dạng hơn nhiều năm trước, bao gồm các cuộc vui mang đậm sắc thái văn hóa Việt Nam như đi bộ diễu hành, thi làm hoa đăng, thi cờ tướng, đờn ca tài tử, hội thi ẩm thực, triển lãm ảnh, triển lãm thư pháp, trò chơi dân gian, thả cá tái tạo nguồn lợi thủy sản tại đầm Đông Hồ, dâng hương đền thờ họ Mạc...
Trong đó có ba hoạt động nổi bật là hội hoa đăng trên đầm Đông Hồ, lễ khai mạc Năm Văn hóa - du lịch Hà Tiên 2013 và công bố quyết định của Bộ Xây dựng công nhận thị xã Hà Tiên đạt tiêu chuẩn đô thị loại 3.
Lễ dâng hương đền thờ họ Mạc diễn ra long trọng, vì Mạc Cửu (1655-1735) là một thương gia người Hoa có công khai phá và hình thành vùng đất Hà Tiên. Đền thờ Mạc Cửu do con trai ông là Mạc Thiên Tích thiết kế, xây dựng từ năm 1735 đến năm 1739. Mặt đền quay về hướng đông, nơi có ao sen, xa hơn nữa là đầm Đông Hồ. Lưng đền tựa vào vách núi Bình San có hình vòng cung, rất vững chãi. Bên trái đền là núi Bát Giác, bên phải đền là Đại Kim Dự. Tên chữ đền thờ họ Mạc là Trung Nghĩa Từ, dân gian còn gọi là miễu Ông Linh.
Cổng ngoài đền thờ Mạc Cửu.
Mạc Cửu (sinh năm 1655 tại Triều Châu, Quảng Đông, Trung Quốc) đưa cả gia đình cùng đoàn tùy tùng đến Hà Tiên định cư, lập nên làng ấp, biến địa phương hoang vu xa xôi này thành một cảng thị phồn vinh. Khi Mạc Cửu qua đời, với công trạng ấy, ông được Ninh Vương truy tặng “Khai trấn, Thượng trụ quốc, Đại tướng quân Vũ Nghị công”...
Bước vào cổng đền thờ là khoảng sân rộng, lúc nào cũng yên tĩnh, trầm mặc trong bóng mát của nhiều loại cây xanh. Đền thờ Mạc Cửu nằm đối diện với cổng, với cột hình vuông, có những bức hoành phi và liễn đối. Ngay chánh điện đền có biển thờ với bốn đại tự: “Khai trấn trụ quốc”. Đây là sự ghi nhận công đức của dòng họ Mạc trong công cuộc khai phá, mở mang bờ cõi nước Việt về phía nam. Đặc biệt, trên vách tường đền có 10 bài thơ nổi tiếng của Mạc Thiên Tứ, “Hà Tiên thập vịnh”.
Cổng trong đền thờ Mạc Cửu.
'Mạc Thiên Tích được Trịnh Hoài Đức viết trong Gia Định thành thông chí, như sau: “Tuy Mạc Cửu là người khai sáng đất Hà Tiên, nhưng người mở mang trấn nầy lại chính là con ông, Mạc Thiên Tứ (...) Mạc Thiên Tứ sanh đêm mồng bảy, tháng ba, năm Bính Tuất (1706) ở Trũng Kè, tiếng Hán gọi là Lũng Kỳ, tức đất Réam của Cao Miên (Lũng Kỳ còn được người Tây phương âm là Longky, nay thuộc vùng đất Sihanoukville). Ông mất (tuẫn tiết bằng cách uống vàng lá) ngày mồng 5 tháng 10 năm Canh Tý (1780) tại Vọng Các (Băng Cốc), thọ 75 tuổi. Về sau Mạc Thiên Tứ đổi tên là Mạc Thiên Tích có nghĩa là “của Trời cho” ứng với huyền sử khi sinh ra ông, nhưng thật ra chữ Thiên Tứ cũng có nghĩa là “Trời cho”. Mạc Thiên Tứ hiệu là Sĩ Lân, bút hiệu ký là Sĩ Lân Thị”.
Phía sau đền thờ Mạc Cửu là lăng mộ nhà họ Mạc, trên núi Bình San, được gọi là núi Lăng. Núi Lăng, trong Gia Định thành thông chí, Trịnh Hoài Đức cho biết: “Bình Sơn (núi Bình) ở về phía tây của trấn lỵ độ 1 dặm, cao hơn 5 trượng, các ngọn chồng chất, khoanh cuộn nối góc bể. Thế núi chon von, vòng quanh làm bình phong mặt sau cho trấn. Ngoài có suối sâu chảy bao quanh về hướng nam rồi đổ ra biển. Phía bắc giáp Mương Sâu nối 1iền với suối Bạch Tháp rồi chảy ra Đông Hồ, làm hào của trấn thành. Bình San (sơn) điệp thúy (núi Bình trùng biếc) là một trong mười cảnh đẹp ở Hà Tiên”.
Con đường từ đền thờ họ Mạc lên núi khá thoai thoải, với bậc cấp bằng đá xanh, đi xuyên qua những “rừng” cây bạch mai sản sinh từ cây mẹ đem từ Quảng Tây (Trung Quốc) sang trồng vào năm 1720. “Bạch mai mới thực là thơm đẹp lạ thường. Người ta dùng bạch mai phơi khô để ướp trà. Mầu hoa trắng như tuyết, nhị vàng hoa trông tương tự như hoa mù u, cho đến nhánh lá đều giống. Hoa mù u cũng nhị vàng cánh trắng, nhưng thiếu vẻ tinh thần, là không có cái u hương thanh vị bằng hoa mai” (*).
Lăng mộ Mạc Cửu.
Hằng năm, vào những ngày tết Nguyên đán, mai nở trắng cành, tỏa hương thơm ngát. Trên núi có quần thể lăng mộ dòng họ Mạc do Mạc Thiên Tứ lập từ năm 1735 đến 1739, với phần mộ Mạc Cửu, các vị phu nhân, con cháu và tướng lĩnh họ Mạc. Ở đây có cổng đền thờ, với hai câu đối: “Nhất môn trung nghĩa gia thinh trọng / Thất diệp phiên hàn quốc lũng vinh” (dịch nghĩa: Một nhà trung nghĩa danh thơm cả họ / Bảy lá giậu che, cả nước mến yêu), do vua nhà Nguyễn ban tặng.
Lăng Mạc Cửu là một cảnh đẹp của Hà Tiên, thu hút nhiều khách tham quan. Đến đây, ai cũng hoài tưởng đến Mạc Thiên Tứ, người “chiêu tập các nhà văn học tài nghệ, do đó văn nhân tỉnh Phúc Kiến (...), văn nhân tỉnh Quảng Đông (...); người phủ Gia Định (...); đạo sĩ tỉnh Phúc Kiến (...) nối gót nhau đến. Mạc Thiên Tích lập ra Chiêu Anh Các, mua sắm sách vở, thường ngày ông cùng các nhà Nho luận bàn kinh sách, lại có thơ vịnh thập cảnh ở Hà Tiên, được rất nhiều người hưởng ứng họa theo, từ đó văn phong mới nổi tiếng cả một dọi biển”. (Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí).
Ngày 7-9-2008, kỷ niệm 300 năm thành lập Hà Tiên, ghi nhớ công lao Mạc Cửu, tỉnh Kiên Giang đã long trọng tổ chức lễ khánh thành tượng đài Mạc Cửu tại công viên Mũi Tàu, phường Tô Châu, thị xã Hà Tiên. Tượng Mạc Cửu bằng đá xanh cao 7 mét, trên bệ cao 3 mét, được khởi công ngày 11-8-2007, uy nghi bên núi Tô Châu và cầu Tô Châu.
__________________________________________________________________________
(*) Đông Hồ và Nguyễn Văn Kiểm sao lục, Cảnh vật Hà Tiên, Nam Phong tạp chí, 1917-1934.

Đền thờ họ Mạc, dấu xưa tiền nhân

Được xếp đầu trong danh sách Hà Tiên thập vịnh, đền thờ là nơi người dân Hà Tiên (Kiên Giang) tưởng nhớ công đức của dòng họ Mạc, những người có công khai phá mảnh đất này.
Theo sử sách ghi lại, Mạc Cửu là người Hoa, vì không muốn sống dưới sự thống trị của nhà Thanh, ông đã đưa gia đình lên thuyền xuôi Nam. Khi đến đất Hà Tiên hiện nay, ông đã dừng lại định cư, khai phá vùng đất này. Khi nhà Nguyễn tiến hành công cuộc mở rộng bờ cõi về phương Nam vào đầu thế kỷ 18, Mạc Cửu đã dâng vùng đất Hà Tiên cho chúa Nguyễn (năm 1708) và được phong làm 'Tổng trấn xứ Hà Tiên'.
Chúa Nguyễn đã cho Mạc Cửu toàn quyền tự chủ vùng đất này và duy trì truyền thống cha truyền con nối. Trải qua 7 đời nắm quyền, dòng họ Mạc đã biến vùng đất Hà Tiên hoang sơ thành một trong những địa điểm buôn bán sầm uất nhất trong khu vực.
lang-mac-cuu-1-8185-1383284926.jpg
Đền thờ họ Mạc nằm trên đường Mạc Cửu ở thị xã Hà Tiên. Đây là điểm tham quan đứng đầu trong danh sách Hà Tiên thập vịnh. Ảnh: Tiêu Phong.
Có tên gọi khác là Trung Nghĩa Đường hay miếu Ông Lịnh (cách gọi của người dân địa phương), lăng Mạc Cửu nằm dưới chân núi Bình San với mặt hướng về phía Đông, nơi có núi Tô Châu và dòng Đông Hồ thơ mộng. Lăng là một quần thể kiến trúc đền thờ, lăng mộ dòng họ Mạc từ dưới chân núi cho lên đến đỉnh núi. Đây là công trình được chính Mạc Thiên Tích (con trai cả của Mạc Cửu) thiết kế và xây dựng vào khoảng thời gian 1735-1739.
Tên gọi Trung Nghĩa Đường bắt đầu từ hai câu đối do chúa Nguyễn ban tặng “Nhất môn trung nghĩa gia thinh trọng. Thất diệp phiên hàn quốc lũng vinh” (Một nhà trung nghĩa danh thơm cả họ. Bảy lá giậu che, cả nước mến yêu), ý nói dòng họ mạc đời đời Trung Nghĩa. Lăng được xây dựng theo kiến trúc ba gian với cổng Tam Quan phía trước, hai bên là hai câu đối của chúa Nguyễn.
lang-mac-cuu-2-5001-1383284926.jpg
Bên trong đền thờ được xây dựng theo kiến trúc 3 gian, đây là nơi thờ cúng dòng họ Mạc cùng với những người có công khai phá mảnh đất Hà Tiên. Ảnh: Tiêu Phong.
Từ ngoài cổng đi vào là một khoảng sân rộng, giữa sân là nơi dừng chân, dành cho các cuộc hội họp ngày xưa của dòng họ. Bên trong là đền thờ ba gian, với đền thờ tiền hiền bên phải (thờ những người đến vùng đất này trước ông Mạc Cửu), bên trái là đền thờ hậu hiền (thờ những người đến vùng đất này sau ông Mạc Cửu). Điểm thờ cúng chính của đền có 4 chữ 'Khai Trấn Trụ Quốc' của nhà Nguyễn ban tặng cho dòng họ Mạc. Bàn thờ ông Mạc Cửu và hậu duệ 7 đời được đặt trang nghiêm giữa chính điện. Các quan văn, võ hay các phu nhân được thờ ở hai bên phải trái.
Ngoài khu vực chính là đền thờ, các ngôi mộ của dòng họ Mạc đều được xây dựng trên núi Bình San. Phía trước đền là hai ao sen lớn, tương truyền đây là hai ao nước ngọt được Mạc Cửu cho người đào để tích trữ nước ngọt cho người dân Hà Tiên sử dụng vào thời điểm khô hạn.
Tuy trải qua gần 300 năm, nhưng đền thờ, lăng mộ dòng họ Mạc vẫn giữ được nguyên vẹn những nét kiến trúc của thời kỳ đầu. Ngày nay, đền thờ dòng họ Mạc là điểm đến đầu tiên của du khách khi đến thăm quan Hà Tiên thập vịnh (gồm các danh thắng như Thạch Động; Đông Hồ ấn nguyệt; bãi biển Mũi Nai; núi Bình San...). Đến đây, du khách sẽ được nghe lại những câu chuyện, những truyền thuyết về dòng họ Mạc, một dòng họ được người dân Hà Tiên đời đời tưởng nhớ, tôn thờ.
Tiêu Phong

Đi chợ Lạng Sơn

(TBKTSG Online) - Dù đến Lạng Sơn với mục đích gì, đi chơi hay công việc, hầu như chẳng ai bỏ qua việc mua sắm tại các chợ ở vùng đất biên giới này; đến nỗi có người bảo "Đến Lạng Sơn mà chưa đi chợ thì vẫn chưa biết Lạng Sơn". Trong bảng hướng dẫn du lịch của Lạng Sơn cũng nhấn mạnh đến cái thú đi mua sắm hàng hóa như là thế mạnh du lịch của thành phố này. Lý do đơn giản: Lạng Sơn nằm sát biên giới và hàng hóa Trung Quốc tràn ngập với giá rẻ bất ngờ.
Chợ đêm Kỳ Lừa ở Lạng Sơn. Ảnh: TL
Ba chợ được giới thiệu trong cẩm nang du lịch Lạng Sơn là chợ Đông Kinh, chợ đêm Kỳ Lừa và chợ biên giới Tân Thanh. Có đến các chợ này rồi mới thấy nếu túi hết tiền thì thôi, còn ma lực mua sắm luôn hút hồn đàn ông lẫn đàn bà khi đặt chân đến những nơi bày bán đủ mọi thứ trên thế gian này và người mua cứ việc trả giá thoải mái để có thể mua những món hàng giá rẻ không thể nào ngờ được. Chính vì thế mà nguồn thu của người dân Lạng Sơn trông vào việc buôn bán  hàng hóa cho khách du lịch rất lớn. Điểm lạ là khi khách đi tiếp tục qua thành phố Bằng Tường của Trung Quốc bên kia cửa khẩu Hữu Nghị sẽ thấy cùng loại hàng hóa đó được bán cao giá hơn nhiều.
Có nhiều đoàn du lịch khi đi Lạng Sơn đã mang thêm một chiếc xe chỉ dùng để chở hàng hóa mua về. Vì thế, đến Lạng Sơn theo các tour du lịch, nhưng việc tham quan động Tam Thanh, phong cảnh biên giới chỉ là phụ, đi chợ mới là mục đích chính.
Chợ Đông Kinh nằm ngay trung tâm thành phố, nơi này luôn có những con vịt quay còn nóng hổi xẻ ra bán tại chợ, bán đủ thứ trên đời và khách mua tha hồ trả giá, chẳng lo phiền lòng người bán vì họ luôn nói thách rất cao. Có nhiều món hàng bạn chỉ đến đây mới thấy và tất cả đều được sản xuất từ Trung Quốc. Hàng điện máy có giá “bèo” đến bất ngờ; từ chiếc radio, điện thoại, quạt máy đủ loại, tivi nhỏ… đến những thứ rất lẩm cẩm mà nhiều khi khách mua không biết mua để làm gì?!
Chợ Đông Kinh. Ảnh: TL
Những người bán hàng ở đây đã quen nói thách và khách đi mua hàng luôn cần tham khảo, học hỏi cách trả giá từ những người đi trước. Nhiều du khách đã được dặn dò trước khi đến Lạng Sơn là nên mua thứ gì và thứ gì không nên mua; nhưng đôi khi do giá hàng hóa rẻ quá làm cho túi tiền người ta cạn lúc nào không biết! Hàng quần áo thì chao ơi, không thiếu thứ gì, dù cho bà bán thách một chiếc áo khoác tới 400 ngàn, bạn trả giá chừng 180 ngàn là có một chiếc áo khoác giả da rất đẹp. Một chiếc mền mỏng chỉ có giá chừng 35.000 đồng...
Nhiều người mua được hàng rẻ, về khách sạn đem khoe bạn bè lại bị bất ngờ vì bạn  mình mua còn rẻ hơn. Có những thứ như cục sạc pin điện thoại, chuột quang, dao cạo râu,  quẹt Zippo... khi người bán hàng hô giá 20 - 30 ngàn, khách đã thấy khó trả giá, nhưng cứ mạnh dạn trả giá thấp hơn, vẫn có thể mua được khiến đôi khi người mua hoang mang, thật giả khó lường.
Cũng nằm ngay trong lòng phố nhưng không lớn như chợ Đông Kinh, chợ đêm Kỳ Lừa có khá nhiều khách sạn bao quanh cho nên vẫn thu hút du khách; thường là sau khi ăn tối lại dạo vòng vào chợ ngắm nhìn và mua thêm hàng dù đã mua đầy túi xách khi dạo chợ Đông Kinh. Đặc tính ở chợ đêm Kỳ Lừa là hàng hóa bán dọc theo hai dãy nhà, bán ngang hai bên đường trong nhà dân, dù gọi là chợ đêm nhưng vẫn hoạt động hàng ngày từ sáng tới tối, chủ hàng nào mệt thì chỉ việc trùm bạt lên đi về nghỉ. Trước cửa chợ là hàng chục quán ăn với món ăn nổi danh là gà luộc, có măng chua... khuyến mãi cho khách.
Điểm dễ chịu ở chợ đêm Kỳ Lừa là những người bán hàng ít mời chào khách và không níu kéo. Ở đây hàng điện máy ít, nhưng ngược lại quần áo và mùng mền và đồ gia dụng rất nhiều. Đi chợ nghe giá quen, trả giá thoải mái và rốt cuộc cũng mua được dăm thứ gì đó mà đôi khi chẳng biết đem về làm gì.
Nhưng có thể nói, tâm điểm thu hút khách du lịch là ai cũng nao nức muốn đến chợ Tân Thanh. Đây là một khu chợ sát biên giới Trung Quốc, cách thành phố Lạng Sơn 30 cây số, quy mô khá đồ sộ với nhà lồng bày bán đủ mọi thứ trên đời. Đặc biệt là trong chợ người Việt, người Hoa cùng bày hàng ra bán. Có thể nói là muốn mua thứ gì chợ này cũng có, thậm chí đến mấy thứ dùng trong sinh hoạt tình dục cũng được bày bán công khai luôn. Cách tiếp thị cuả các cửa hàng buôn bán ở đây là dùng loa rao hàng, có cửa hàng bán áo khoác da ghi giá 1,2 triệu, "hiện" đang giảm giá 60%, nghĩa là giá bán khoảng 480 ngàn đồng, nhưng khách trả 140 ngàn cũng bán.
Tuy nhiên, khách đi chợ Tân Thanh cần biết rằng đây là một "mê hồn trận". Ở chợ này, người bán hét giá trên trời, thậm chí gấp 5 lần giá thực nhưng họ coi mặt khách rất giỏi, người biết trả giá sát họ bán ngay, còn người có vẻ rụt rè, đôi khi trả hớ nhưng họ vẫn kỳ kèo chưa bán ngay để khách trả thêm nữa! Rất nhiều người mua xong, về mới biết đã mua mắc hơn chợ Đông Kinh hay chợ Kỳ Lừa.
Khuê Việt Trường

Về Thất sơn, chơi núi "Bà Đội Om"


 

 

 

 

Động Thiên Thai trên núi Bà Đội Om.
(TBKTSG Online) - Núi “Bà Đội Om” thuộc ấp Tân Thuận, xã Tân Lợi huyện Tịnh Biên (An Giang), cao chừng 251 mét. Có hai con đường lên núi. Đường ở phía tây chạy ven tỉnh lộ 948, khúc gần núi Cấm, khá dễ đi nhưng hơi xa, từ mí lộ lên đến đỉnh khoảng 4 cây số. Đường ở sườn đông qua khỏi chùa Làng Trái chừng 2 cây số, là đường tắt nhưng lại hơi khó đi.
Chúng tôi chọn đường phía đông. Sau vài lần hỏi thăm, chúng tôi được hai em học sinh người Khmer là Chau Phi và Chau Thai dẫn đường lên núi, con đường nầy nằm gần trường tiểu học Tân Lợi. Đường lên đỉnh Bà Đội Om khá hiểm trở, nhưng Chau Phi và Chau Thai bước đi thoăn thoắt, thoải mái như dạo chơi xuyên qua những cánh rừng thanh ca cổ thụ xen lẫn cây rừng như mét, trâm, bời lời xanh ngút. Dọc đường, chúng tôi gặp vài nương rẫy trồng su su, bầu bí, rau đậu... Thấp thoáng có một vài ngôi chòi nhỏ nằm khuất giữa màu xanh ngút ngàn hoang sơ, yên tĩnh.
Đi quanh co một đỗi xuyên qua triền núi với vô số những tảng đá “thiên hình vạn trạng” nằm rải rác, ngổn ngang, chúng tôi gặp hai
Giữa hai "Ông Đá Bay".
"Ông Đá Bay”. Đó là hai tảng đá khổng lồ trông hơi giống đầu người. Tương truyền, vào thuở mới tạo sơn, hai ông ở trên đỉnh chen lấn nhau nên bị rơi xuống lưng chừng núi, nhưng trớ trêu sao: hai ông lại vẫn nằm cạnh nhau đến ngày nay và như sẵn sàng xô lấn nhau nên dân gian đặt cho cái tên là “Hai Ông Đá Bay”.
Dọc đường lên đỉnh Bà Đội Om có rất nhiều hang động sâu hun hút, như ở khu vực điện “Vạn Bang Ngũ Thần” có đến hàng mươi hang. Ở đây, ngày xưa là nơi trú ngụ của mấy “vị” cọp rằn, beo gấm, rắn hổ mây, xà niên… Đến nay vẫn chưa ai dám đi sâu vào trong, bởi ở đấy thỉnh thoảng bốc lên những mùi tanh kỳ lạ. Có vài người gan dạ đi vô được một quãng ngắn rồi biến sắc, “thất kinh hồn vía” thối lui lại khi ngửi phải mùi “ám khí” rờn rợn ấy.
Tiếp tục hành trình, Chau Phi và Chau Thai dẫn chúng tôi vượt qua “Dốc Trời”. Đây là quãng đường gai góc nhất! Dù không cao to lắm nhưng chúng tôi cũng phải khom mình “bò” lên từng bậc đá như những nấc thang dựng nghiêng cỡ chừng 80 độ, nghĩa là gần như dựng đứng. Rất may, đoạn đường hiểm hóc nầy khá ngắn, chỉ độ non 20 mét; sau đó bắt đầu thoai thoải trở lại. Chúng tôi vượt qua vài khe suối nhỏ, nước trong vắt, chảy róc rách len qua những mảng đá. Sim, mua, bằng lăng trổ hoa tím ngát rải rác ven đường với vài chú bướm xập xòe bay lượn. Phong cảnh đường rừng trông rất nên thơ, lãng mạn.
Ngôi chùa bỏ hoang trên núi.
Qua một mảng rừng lau phất phơ bông trắng, chúng tôi đến một ngôi chùa hoang, nơi đây vắng vẻ và u tịch. Chau Phi dẫn tôi đến miếu thờ “Bà Đội Om” gần đấy. Một tảng đá to, giống như đầu một người phụ nữ Khmer đội cái “om”. Om là vật dụng bằng sành giống như cái chum, lu nhỏ để đựng nước hoặc gạo, nếp mà người vùng nông thôn Nam bộ thường hay sử dụng. Truyền thuyết kể rằng, xưa kia có một người đàn bà đội om đựng gạo lên núi ngóng trông chồng đi xa lâu về. Đến một ngày kia, người phụ nữ ấy mỏi mòn chết đi và hóa thành đá “đội om” cho đến bây giờ!
Qua khỏi đá Bà Đội Om, lách, vượt lên vài mươi tảng đá, chúng tôi đến một khoảng sân nhỏ mát mẻ. Một hang động có người ở nhưng thường xuyên khóa cửa. Đó là động Thiên Thai - cửa động trông giống như một Yoni bằng  đá khổng lồ. “Ông Tư ở đó”, Chau Phi nói với tôi. Không gặp ông Tư, hai em bé Khmer dẫn chúng tôi viếng nhiều cảnh quan khác ở trên núi như đá Rắn Ngậm Ngọc, Hang Bồng Lai, Miếu Bà Đội, chùa Linh Sơn (chùa hoang).
Chau Phi, Chau Thai và chị Sa Ry trước cửa hang Chằn trên núi Bà Đội Om.
Mỗi năm, hầu như vào các dịp rằm lớn cũng như những ngày cuối tuần, có nhiều đoàn khách ở Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Bạc Liêu, Cà Mau, Đồng Tháp, Sóc Trăng đến hành hương viếng núi Bà Đội Om. Ở phía tây của núi, người ta thường ghé các am, điện như điện Thần Kim Quy, điện Đạt Ma Tổ Sư, điện Cửu Nương, điện Ngọc Đế, điện Cửu Huyền…
Chị Sa Ry, nhà ở dưới chân núi Bà Đội Om, kể: Hồi đó, vùng núi này hoang sơ, hiểm trở lắm. Cỏ cây thâm u, sầm uất, lên núi phải đi vài người và mang gậy theo huơ đập hai bên lối đi để xua đuổi rắn rít. Nghe nói hồi xưa trên núi có “ông cọp” và rắn hổ mây. Lên đây cất nhà, tôi chưa từng gặp cọp beo bao giờ, nhưng cha tôi thì đã từng gặp "họ". Đó là chuyện của mấy chục năm về trước. Bây giờ trên núi chỉ thấy có rất nhiều khỉ và sóc. Đôi khi người ta gặp rắn hổ sơn và trăn mặt võng…”.
Vùng Thất Sơn trong đó có núi Bà Đội Om, với nhiều truyền thuyết, huyền thoại dân gian kỳ bí qua những chuyện kể về Phật, Tiên, các đạo sĩ, những câu chuyện đường rừng về  hùm, beo, sấu, tượng, rắn hổ mây... Những giai thoại ấy đã trở thành quá khứ, ngày nay núi Bà Đội Om là địa chỉ du lịch sinh thái, mạo hiểm hấp dẫn, mới mẻ đối với du khách thích tìm hiểu, khám phá.
Cháo bò Tri Tôn.
Có dịp về Thất Sơn, du khách nên ăn thử món cháo bò cho biết. Riêng chúng tôi đã biết món này khá lâu, mỗi lần đến đây đều tìm ăn chơi. Cháo bò ở đây nấu lỏng vừa ăn. Thịt bò xắt mỏng trụng chín tái cùng với lòng bò đã xử lý mềm. "Lá sách" trắng, “khăn bàn” màu sữa đục vừa giòn vừa dai, miếng phèo nhân nhẩn cùng cọng tủy bò béo múp với miếng phổi mềm mềm thêm vài lát gan, tim thơm ngon, chấm cùng nước mắm ngon, hoà với  vị chua của nước trái trúc - giống như  chanh, có vỏ sần sùi, đây là loại trái làm chua của người dân vùng Bảy Núi. Vị cay nồng của ớt hiểm xanh cùng với hớp cháo có ít gừng băm bốc khói sẽ làm cho người ăn toát mồ hôi sảng khoái.
Có một món ẩm thực hoang dã mới xuất hiện ở đây được các tay sành điệu ưa chuộng là “bò cạp”. Bò cạp to cỡ con dế mèn, mình dẹp, màu đen bóng, càng to hơn thân, đuôi vanh vảnh, trông lạ mắt. Ở Tịnh Biên, Tri Tôn có một số quán nhậu bán món bò cạp chiên bơ trông khá hấp dẫn. Có người cho biết, ăn món này trị được chứng đau khớp, nhức mỏi, đau lưng. Thực hư thế nào không biết, chỉ ghi lại cho bạn đọc nghe chơi.
Bài và ảnh: Đặng Hoàng Thám