Thứ Năm, 2 tháng 1, 2014

Đêm Đồng Văn thưởng thức cà phê phố cổ

Ngồi trong ngôi nhà cổ sắp bước sang tuổi 102, nhâm nhi tách cà phê nóng hổi và lắng nghe tiếng khèn Mông đủ để khiến người ta quên đi cái giá giữa cao nguyên đá Đồng Văn.
Trên con đường Hạnh Phúc những ngày cuối năm tấp nập từng đoàn xe đưa khách du lịch miền xuôi về cao nguyên đá Đồng Văn. Do cách thành phố Hà Giang 145 km với những cung đường đèo khúc khuỷu, nên gần như chiều tối du khách mới đến đặt chân đến được thị trấn Đồng Văn, sau hành trình Quản Bạ - Yên Minh, khám phá Dinh nhà họ Vương và chinh phục cột cờ Lũng Cú.
Vốn đã biết bao trùm cái lạnh cao nguyên khi thị trấn nằm trên độ cao hơn 1.000 m so với mặt nước biển, nhưng cái giá giữa mùa đông sau khi mặt trời khuất núi khiến nhiều người phải rùng mình e ngại. Chỉ trong chốc lát, bóng tối đổ ụp toàn thị trấn. Trên khắp các con đường, bóng người và xe thưa dần, thế vào đó là ánh sáng mờ ảo của những quán nướng ven đường quốc lộ.
Đồ nướng ở Đồng Văn không nhiều và đa dạng như Sapa, chỉ có thịt xiên, xúc xích và ngô, khoai nướng, nhưng lại vô cùng thu hút bởi những lò than hồng lửa, điều đặc biệt hấp dẫn với tiết trời 6 – 7 độ ở đây. Mỗi quán lác đác vài ba người khách, túm tụm quanh bếp, người nướng, người hơ tay sưởi ấm, tiếng cười nói rộn vang cả góc đường.
DSC-3052-JPG-3120-1388339125.jpg
Cà phê phố cổ như một điểm sáng trên cao nguyên đá Đồng Văn.
Thị trấn Đồng Văn khá nhỏ, lại lọt thỏm giữa thung lũng bốn bề núi đá nên dạo một vòng là thuộc lòng các con đường. Khác với vẻ tĩnh lặng đoạn quốc lộ chạy qua thị trấn, khu phố cổ nằm ở bên trong lại có phần ồn ào và náo nhiệt hơn. Dưới ánh đèn vàng cao áp mờ sương, dãy nhà cổ nổi bật với những chiếc đèn lồng đỏ treo cao.
Khách du lịch theo đoàn buổi tối thường tập trung ở khu phố cổ này để giao lưu, đốt lửa trại, hát hò, những người đi đôi hay nhóm nhỏ lại chọn nơi đây để trò chuyện và cà phê. Hai dãy nhà cổ nằm vuông góc ngay sân trung tâm thị trấn là nơi ưa thích của những nhóm đi đông. Với kiến trúc đặc trưng của khu chợ xưa: cửa vòm ở hai bên hiên nhà cùng các cột chống và mái che, lại hướng mặt ra sân lớn nên những quán cà phê ở đây tạo không gian mở để giao lưu.
DSC-3030-JPG-2496-1388339126.jpg
Tiếng khèn trong đêm Đồng Văn.
Vào những ngày cuối tuần, khách du lịch ra vào cà phê nườm nượp. Người bên ngoài tổ chức trò chơi, hát tập thể, người trong quán có thể vừa nhâm nhi cà phê, vừa cổ vũ theo. Xen lẫn những bài hát Kinh rộn ràng là tiếng khèn réo rắt và điệu múa uyển chuyển của cô gái Lô Lô. Dù chẳng thể hiểu hết những ngôn từ bài hát hay giai điệu bản khèn, nhưng người ta vẫn cảm nhận được tình cảm gần gũi và ấm áp qua tiếng vỗ tay.
Với những người thích không gian trầm lắng sẽ chọn cho mình một góc quán Cà phê phố cổ. Được xây dựng từ năm 1912, tuy trải qua nhiều thăng trầm cùng khu phố cổ, nhưng ngôi nhà vẫn còn gần như nguyên vẹn. Cũng như nhiều ngôi nhà cổ khác ở Đồng Văn, ngôi nhà này mang dấu ấn kiến trúc giao thoa Việt – Hoa với kiến trúc hai tầng cùng hành lang và lan can gỗ.
DSC-3046-JPG-9370-1388339126.jpg
Không gian cà phê phố cổ.
Chỉ cách dãy nhà cổ phía trước mặt vài bước chân nhưng không gian bên trong quán Cà phê phố cổ hoàn toàn khác biệt, trầm mặc và vương màu hoài cổ. Tầng 1 là những bộ bàn ghế bằng tre đặt quanh các góc nhà, tầng 2 khu cà phê bệt, hướng nhìn thẳng ra khu phố cổ. Thứ ánh sáng chiếu rọi duy nhất ở đây phát ra từ những chiếc đèn lồng đỏ, kết hợp với màu gạch non chưa nung khiến không gian thêm phần bí ẩn.
Chọn cho mình một góc bàn có hướng nhìn ra khu cà phê phía trước để có một không gian riêng nhưng vẫn có thể hòa chung niềm vui đêm thị trấn. Trong hơi ấm của tách cà phê, người ta vẫn có thể cảm nhận cơn gió lùa qua từng ô cửa của ngôi nhà. Có tiếng người trò chuyện râm ran ở bàn bên cạnh, có tiếng khèn vọng lại từ xa, đêm phố cổ Đồng Văn quyến rũ người ta đến lạ.
Bài và ảnh: Vy An


Phố chợ Đồng Văn

PNO - Du ngoạn Hà Giang, mọi người thường nói nhiều về Cao nguyên đá Đồng Văn, mùa hoa tam giác mạch, cột cờ Lũng Cú và ruộng bậc thang Hoàng Su Phì...Với nhóm chúng tôi, dừng chân ở phố chợ Đồng Văn là khoảng thời gian lý thú với nhiều kỷ niệm đẹp về một thị trấn vùng cao lặng lẽ.
    Sau chuyến đi dài hơn 400km từ Hà Nội, đến tối mịt xe mới tới thị trấn Yên Minh. Sáng hôm sau, từ Yên Minh nhìn lên hướng Đồng Văn, bình minh ửng hồng trên chập chùng dãy núi đá cao ngất, hệt như một bức tranh sơn thủy cực kỳ hùng vĩ. Từ đây mới bắt đầu chuyến hành trình đường núi lạ lùng, hấp dẫn và nhiều đoạn không kém phần mạo hiểm.

    Từ Yên Minh nhìn lên phía Đồng Văn
    Bạn chắc đã quen với những đoạn đường đèo Tây Nguyên, những dãy núi miền Trung ven biển hoặc đường lên Sa Pa nhiều lúc mây giăng ngang đường. Cũng núi cũng đèo, nhưng chỉ ở cung đường lên Đồng Văn này, du khách mới thực sự choáng ngợp giữa vô vàn núi đá sừng sững, vô vàn đỉnh núi nhọn hoắt tiếp nối nhau. Đường xe chạy nhỏ xíu, len lỏi giữa vách đá và bờ vực có chỗ sâu hút cả ngàn mét. Thật khó quên tiếng máy xe rù rù chạy chậm lên cao suốt cung đường, nhiều đoạn ngoằn ngoèo khó đi, cả giờ chưa được 20km.
    Bao nỗi căng thẳng dọc đường chợt lắng xuống khi du khách đặt chân đến Đồng Văn. Lặng lẽ như nhiều phố nhỏ vùng cao phía Bắc, nhưng trung tâm thị trấn Đồng Văn có khu phố chợ xưa cũ, nhà lồng chợ, những ngôi nhà trong phố với mái ngói rêu phong có từ cả trăm năm nay.

    Mái ngói rêu phong phố chợ Đồng Văn
    Từ trên cao nhìn xuống, phố chợ Đồng Văn gợi nhớ bóng dáng phố cổ Hội An hoặc khu phố xưa Hà Nội. Nhưng điểm độc đáo là bóng dáng đó lại được thấy ở đây, một thị trấn vùng cao xa xôi tách biệt, vào những năm tháng ở thế kỷ trước càng heo hút, từ các thị trấn dưới xuôi phải đi cả tháng trời mới đến được đây.
    Ba khu nhà lồng chợ bố trí hình chữ U ôm lấy sân chợ, dưới mái ngói âm dương là hàng chục cột đá vững chắc. Hai đầu hồi mỗi nhà lồng là cửa cuốn vòng cũng bằng đá ám khói đen bóng. Khói của không biết bao nhiêu bếp nấu những chảo thắng cố sôi sục trong các phiên chợ xưa. Người Tày, người Mông từ các bản xa trên núi đá xuống chợ phiên mua bán, tụ hội. Quanh chợ, hai dãy phố cổ chạy vào sát chân núi. Dưới vách đá thẳng đứng, mái phố âm dương cao thấp những ngôi nhà hai tầng, ngày phiên chợ, ngày lễ thấy treo đèn lồng đỏ. Được biết từ cuối thế kỷ 19 khi chiếm đóng vùng này, người Pháp đã quy hoạch toàn bộ thị trấn trong đó có khu phố cổ còn lại đến nay.
    Cuối phố chợ có một căn nhà kiểu dinh thự cũ của người Mông, ba vòm cửa nổi bật trên màu gạch trần nâu đỏ nhạt, nay là quán Café Phố Cổ. Đi vào khoảng sân vuông bên trong chính giữa nhà, lên tầng gác ra hàng hiên trước, du khách thư thả ngồi xuống sàn gỗ bên ly café nóng giữa tiếng nói cười của đám bạn trẻ dã ngoại, ngắm nhìn toàn cảnh phố chợ. Chen giữa nhiều ngôi nhà đã xây mới, vẫn còn những ngôi nhà xưa, cửa gỗ, tường đất nện dày, mặt trước tầng trên có hàng lan can, cùng kiểu nhà người Hoa vùng Quảng Tây, Vân Nam bên kia biên giới.

    Nhà trong phố cổ

    Nhà cổ nền cao, bậc đá có từ đầu TK20
    Ẩm thực phố chợ Đồng Văn khá độc đáo. Du khách dễ dàng thưởng thức đặc sản vùng cao Hà Giang trong những quán ăn bình dân: gà đen H’Mong, trám kho cá suối, xôi ngũ sắc, cháo ấu tẩu. Một bữa cơm bình thường trong quán cũng có cách trình bày ngon mắt: canh măng chua, thịt heo quay chấm mắc mật, trái bí non luộc xắt ra như trái cam, xá xíu, đậu luộc, và thịt kho tàu xếp lớp như những múi bưởi. Du khách nâng ly rượu ngô khai vị để nhớ một lần gặp mặt trên thị trấn cao nguyên đá vùng cực Bắc.

    Bữa cơm Đồng Văn
    Đồng Văn luôn là điểm dừng chân để du khách từ đây đi thăm Cột cờ Lũng Cú hoặc cùng vượt lên đỉnh Mã Pí Lèng cheo leo trên đèo cao 1800m, cảnh quan hết sức hùng vĩ của Con đường Hạnh Phúc sang Mèo Vạc.
    Giữa phố chợ Đồng Văn, bạn có thể bắt gặp các cô gái dân tộc tươi cười, hồn nhiên mến khách, giúp du khách giữ lại kỷ niệm đẹp nơi phố chợ vùng cao xa xôi.
    Bài và ảnh: NGUYỄN VIỆT BẮC

    Ngồi uống cà phê trong ngôi nhà trăm năm tuổi

    Giữa không gian của đất trời, ngồi nhâm nhi một tách cà phê trong ngôi nhà cổ hơn trăm năm tuổi, khiến ta cảm thấy cuộc sống trở nên bình yên.
    Chúng tôi đi gần 450km lên thị trấn Đồng Văn tỉnh Hà Giang, vượt qua bao ngọn núi hùng vĩ, bao con đường ngoằn nghèo đầy hiểm nguy. Khi đã đến cuối của cuộc hành trình, được thư giãn trong căn nhà cổ hơn trăm tuổi đời, ngồi nhâm nhi tách cà phê trên thị trấn có độ cao hơn 1.000m so với mực nước biển này, nhớ lại những cung đường hùng vĩ đã trải qua thì không còn gì tuyệt vời hơn.
    Quán cà phê nhìn từ bên ngoài. Căn nhà cổ hiện giờ là một quán cà phê nổi tiếng độc nhất vùng cao này.
    Là một ngôi nhà cổ hai tầng, cao to bề thế trong dãy phố cổ ở thị trấn Đồng Văn, trước đây, quán từng là nhà của một địa chủ họ Lương giàu có, có thế lực ở Đồng Văn khi xưa.
    Ngôi nhà được xây dựng chủ yếu bằng gạch, đá, ngói âm dương và đặc biệt là gỗ, với hoa văn trạm trổ cầu kì, tinh xảo khiến nhiều du khách phải ngỡ ngàng với lối kiến trúc mang đậm nét giao thoa giữa Việt – Hoa thế kỉ trước. Nếu ai đã từng ghé thăm dinh nhà cổ họ Vương thì sẽ nhận thấy nhiều sự tương đồng giữa hai ngôi nhà.
    Với mặt tiền rộng, quán nổi bật giữa ngã ba phố cổ là bức tường vàng được xây bằng gạch non, không qua nung, một kĩ thuật xây dựng của người Tày.
    Với màu vàng nghệ, quán nổi bật trong khu phố cổ.
    Khi vào trong nhà là khoảng sân lát đá làm nhiệm vụ chiếu sáng cho ngôi nhà. 4 phía của ngôi nhà gồm tầng 1 và tầng 2 được sử dụng để cho khách du lịch ngồi cà phê, là những chiếc bàn và ghế được làm bằng tre. Trên tầng còn có ban công nhìn xuống khu phố cổ.
    Căn nhà 2 tầng với hành lang bao quanh được sử dụng để làm chỗ ngồi cho khách.
    Ngoài ra gian trong còn được dùng làm phòng nghỉ cho các du khách muốn trải nghiệm cảm giác nghỉ qua đêm trong ngôi nhà cổ này. Ở các bức tường của tòa nhà còn được treo các loại nhạc cụ, cung tên của người dân tộc.
    Tường được xây bằng gạch non, treo các loại nhạc cụ và vũ khí của người dân tộc.
    Phóng to
    Không chỉ là nơi uống cà phê, quán còn là nơi dành cho các du khách đến thăm quan chụp ảnh.

    Phong tục đón Tết kỳ lạ ở vùng cao phía Bắc

    Tục “cướp giọng gà”, ăn trộm cầu may hay “niêm phong” nhà bằng giấy đỏ… ngày nay vẫn được nhiều dân tộc duy trì mỗi độ xuân về.
    Tục gọi trâu về ăn Tết của người Mường
    Từ mấy ngày trước Tết, người Mường ở Hoà Bình chuẩn bị sẵn mõ để qua giao thừa đốt đuốc đi gọi vía trâu. Họ tin rằng, đó là cách trả ơn vật nuôi trung thành đã vất vả giúp gia chủ cấy cày. Ngoài ra, người Mường ở đây cũng treo bánh ống lên các dụng cụ sản xuất như cày, bừa, đòn gánh để mời “những người bạn đồng hành” này về ăn Tết với gia đình. Họ quan niệm, con trâu hay cái cày cũng cần được nghỉ Tết sau một năm vất vả trên đồng ruộng.
    goi-trau-cua-nguoi-MuogBinh-Mi-6055-5543
    Tục gõ mõ gọi trâu của người Mường. Ảnh: Bình Minh.
    Lễ hội gội đầu của người Thái trắng
    Người Thái trắng ở Sơn La tiến hành lễ hội gội đầu từ trưa ngày cuối cùng trong năm. Tất cả già làng, trưởng bản, từ già đến trẻ hò nhau xuống bờ sông để tổ chức lễ gội đầu với mong muốn xua đi tất cả những gì không may mắn trong năm. Họ còn chuẩn bị những bát nước gạo đã được ngâm cho chua nhẹ rồi xối từ từ lên tóc, gợi lên mọi điều tốt đẹp cho ngày mai bước vào năm mới thật tinh khôi. Lễ gội đầu kết thúc là đến cuộc vui đua thuyền giữa nam và nữ. Người ta tổ chức ném còn, xòe vòng… Trai gái được dịp vui chơi thoả thích.
    Người Cao Lan ‘niêm phòng’ nhà bằng giấy đỏ
    Công việc đầu tiên để chuẩn bị cho việc đón mừng năm mới của người Cao Lan là tục dán giấy đỏ (tiếng Cao Lan là Chí dịt) trong nhà. Khoảng trước Tết 2 ngày là ngày "niêm phong" cho tất cả những gì thuộc về gia đình. Từ cái cuốc, cái xẻng, con dao, cái cày, cái bừa, cây cối quanh nhà, chuồng trại... đều được dán giấy đỏ để các vật này được "nghỉ Tết". Toàn bộ ngôi nhà bỗng nhiên nhuộm sắc đỏ rực rỡ. Theo quan niệm của người Cao Lan, giấy đỏ biểu trưng cho niềm vui, sự tốt lành. Dán giấy đỏ lên những nơi quan trọng là bắt đầu cho một năm mới với mong muốn an khang thịnh vượng.
    Người Lô Lô đi ăn trộm lấy may
    ng-Lo-lo-an-trom-lay-may-baoqu-9148-4307
    Người Lô Lô đón Tết. Ảnh: vietnamtourism.
    Người Lô Lô ở Hà Giang quan niệm thời khắc bước sang năm mới, nếu ai đó mang về nhà được một chút gì thì năm mới gia đình sẽ gặp nhiều điều tốt lành, ăn nên làm ra. Do đó, họ đi lấy trộm cầu may nhưg không lấy nhiều hay những vật có giá trị lớn, mà chỉ là củ hành, củ tỏi, thanh củi… Người đi lấy may không đi công khai, không rủ nhau đi, không muốn chủ nhà bắt được. Ai cũng đi âm thầm, lặng lẽ, gặp người quen cũng không chào hỏi. Thế nhưng nhỡ có bị chủ nhà bắt được thì họ cũng không bị trách móc gì.
    Đàn ông H’Mông phải dậy sớm nấu cơm
    Sáng mùng 1, đàn ông H’Mông phải dậy nấu cơm và làm mọi việc trong nhà thay vì cả năm đàn bà con gái trong nhà đã làm. Người H’Mông quan niệm, con trai là trụ của gia đình nên tất cả mọi việc trong gia đình phải chịu trách nhiệm để giữ được truyền thống cho cả năm. Sáng sớm mùng 1 Tết, ai dậy thì cứ âm thầm mà dậy, không được gọi nhau, vì nếu mà gọi nhau, sâu bọ nghe thấy sẽ đồng loạt “nhỏm dậy” phá hoại ngô, lúa.
    thuvienphamngocthach-9168-1388115242.jpg
    Một người đàn ông H'Mông trong trang phục truyền thống. Ảnh: wordpress.
    Người Pu Péo hò nhau “cướp” giọng gà
    “Đón giọng gà” hay “Cướp giọng gà” là phong tục rất độc đáo của người Pu Péo ở Hà Giang. Khi giao thừa đến, sắp sang năm mới, người ta phải canh chừng mấy chú gà trống. Thấy gà vừa vỗ cánh, chuẩn bị gáy là người ta đốt ngay một quả pháo, ném vào chuồng gà. Lũ gà giật mình, nhảy lên thi nhau gáy. Ngay lập tức, mọi người hò nhau hát vang trời để át tiếng gà gáy. Người Pu Péo quan niệm: tiếng gà gáy vừa hay, vừa thiêng liêng, đánh thức cả ông mặt trời dậy. Vì thế, ai át được tiếng gà thì sang năm mới sẽ hát hay, gặp nhiều may mắn, hạnh phúc.
    Vy An

    Lạp xưởng ngon trứ danh đất Tây Bắc

    Lòng làm lạp xưởng là lòng non, nhồi thịt nạc vai xay nhuyễn, ướp gia vị, hành băm phi thơm, hạt mắc khén, phơi trên giàn bếp luôn đỏ lửa cả năm.
    Thử tưởng tượng xem, suốt quãng đường dài buốt giá, cả ôm lẫn xế đều tê dại vì cóng, dân phượt chẳng mong gì hơn được hơ mình bên bếp lửa ấm áp với rượu ngô và có một chút lạp xưởng hun khói chấm với tương ớt Mường Khương cay xè mắt mũi. Vị giác được đưa tới mọi điểm cực: Cực cay, cực đậm đà và cực khó quên.
    Lạp xưởng Tây Bắc là món ngon được người dân tộc vùng cao làm để ăn quanh năm. Đến nhà nào trên Sơn La, Điện Biên, Yên Bái, Lào Cai, Bắc Hà, Mường Khương sang tận Cao Bằng, chui vào nơi xó bếp ám mùi khói đen bồ bóng, thấy lủng liểng trên chái bếp những khúc lạp xưởng ngon lành trên ấy mà thèm. Lạp xưởng làm trước dịp Tết vài ba tháng, để quanh năm không hỏng, ăn quanh năm lúc nào cũng thấy ngon.
    IMG-1584-JPG-9950-1388392003.jpg
    Muốn làm lạp xưởng ngon cần đủ các yếu tố từ lòng non, thịt đến khâu nhồi và gác bếp. Ảnh: Lam Linh.
    Cách thức làm lạp xưởng các vùng miền tương đối giống nhau, thêm chút đậm đà tùy theo khẩu vị từng nơi. Lòng để làm lạp xưởng là lòng non. Lòng được rửa thật sạch bằng rượu trắng. Nhân làm lạp xưởng là thịt thăn, nạc vai hoặc nạc mông, những phần ngon của thịt lợn. Thịt được băm nhỏ, tẩm ướp với gia vị, hành băm phi thơm, đặc biệt không thể thiếu hạt mắc khén cùng chút rượu tạo mùi thơm khác biệt.
    Nhồi nhân thật chặt vào ruột, sao cho miếng lạp xưởng tròn đều và căng mượt. Lạp xưởng nhồi căng, đem phơi dưới nắng khoảng 3 ngày rồi treo lên gác bếp. Trong vài ngày đầu, nhớ nổi lửa bếp hồng để lạp xưởng được hơi khói mới. Cứ thế, lạp xưởng treo nơi gác bếp để quanh năm không hỏng, không mốc, không thối. Nhờ hơi gác bếp, chín dần. Lạp xưởng khi ăn có thể mang ra nướng trên bếp than hồng hay đảo qua chảo rán. Nhìn miếng lạp xưởng ngon trên đĩa bên bát tương ớt Mường Khương, món tương ớt được làm từ trái ớt tươi cay xè, không thể chờ đợi lâu hơn nữa.
    lapxuong5-2624-1388392003.jpg
    Lạp xưởng Yên Bái hợp với dân nhậu. Ảnh: Quán Kiến.
    Lạp xưởng Yên Bái (nơi làm ra nó) được hun kỹ hơn. Vỏ săn, sẫm màu, giòn và ám mùi khói bếp. Khi ăn, bạn sẽ thấy một mùi thơm vừa lạ vừa quen, đó chính là mùi của bã mía hun cùng củi. Lạp xưởng Yên Bái để lâu nên quắt lại, khi ăn đầu bếp sẽ luộc qua nước, sau đó thả vào chảo rán.
    Lạp xưởng Cao Bằng lại thiên về vị béo, ngậy. Vỏ ngoài có màu hồng sáng, mềm, kích cỡ to hơn lạp xưởng Yên Bái. Do ít vị hun khói và hương vị cũng khác, nên thích hợp với chị em phụ nữ và trẻ em. Còn lạp xưởng Yên Bái hợp với dân nhậu.
    Mỗi ngôi nhà trên nẻo đường Tây Bắc sẽ cho bạn trải nghiệm một hương vị lạp xưởng riêng biệt. Đó là điều tuyệt vời nhất mà dân phượt - những kẻ thích khám phá cái lạ và sự trải nghiệm mong muốn.
    lapxuong9-4743-1388392003.jpg
    Lạp xưởng Cao Bằng hợp với chị em phụ nữ. Ảnh: Quán Kiến.
    Lam Linh

    Leo đỉnh Bà Rá, khám phá Bù Lạch

    TT - Dù chưa được nhiều người biết đến, nhưng những danh thắng như Bà Rá - Thác Mơ, Bù Lạch, sóc Bom Bo và trên 10 ghềnh thác trải dài suốt 10km của sông Đồng Nai... là những địa chỉ mà những ai yêu thích du lịch khám phá không thể bỏ qua khi đến với Bình Phước.
    Thôn nữ người đồng bào Stiêng sóc Bom Bo giã gạo - Ảnh: Bùi Liêm
    Với những khu rừng nguyên sinh, sông hồ rộng lớn, tạo nên một bức tranh kỳ vĩ và đa màu sắc, du khách đến với Bình Phước sẽ như được trở về với thiên nhiên hoang sơ, thoáng mát, trong lành.
    Về với thiên nhiên hoang sơ
    Từ thị xã Đồng Xoài theo quốc lộ 14 đi về hướng huyện Bù Đăng khoảng 60km, đến thị trấn Đức Phong (Bù Đăng) rẽ phải khoảng 10km du khách sẽ tới trảng cỏ Bù Lạch (xã Đồng Nai, huyện Bù Đăng) rộng gần 500ha được hợp thành của gần 20 trảng cỏ lớn nhỏ khác nhau, trảng lớn nhất có diện tích tới 140ha đã được quy hoạch thành khu du lịch sinh thái độc đáo, tạo cho du khách được gần gũi hòa mình cùng thiên nhiên: cắm trại, đốt lửa trại, chơi thể thao..., tìm cho mình một không gian thư giãn, nghỉ ngơi thú vị. Tại đây, không những được khám phá đời sống của đồng bào dân tộc bản địa Stiêng, M’Nông, du khách còn được hòa mình trong tiếng reo vui của thác Voi. Từ độ cao 15m, thác nước đổ xuống trắng xóa, quanh co và chảy dài ra sông Đồng Nai.
    Ngoài những khu du lịch đã được tổ chức bài bản và ít nhiều được du khách ngoài tỉnh biết đến như đã đề cập, Bình Phước còn có những điểm du lịch sinh thái rất hấp dẫn khác như: thác Đứng, thác Đắk Mai (huyện Bù Gia Mập), thác số 4 (thị xã Bình Long), căn cứ miền Tà Thiết (huyện Lộc Ninh), hồ Suối Lam (huyện Đồng Phú)...
    Cũng từ thị xã Đồng Xoài theo quốc lộ 14 đi về hướng Bù Đăng khoảng 50km, rẽ trái 6km du khách sẽ tới thôn Bom Bo, hay còn gọi là sóc Bom Bo (thôn 1, xã Bình Minh, huyện Bù Đăng), nơi tập trung phần lớn đồng bào Stiêng. Đến với sóc Bom Bo hôm nay du khách sẽ có dịp nghe già làng kể chuyện, xem các sơn nữ biểu diễn vũ điệu của người Stiêng..., trải qua những giây phút khó quên cho chuyến đi về miền sơn cước.
    Khu du lịch sinh thái Mỹ Lệ (huyện Bù Gia Mập) được biết đến như một điểm hẹn rất đặc trưng vùng Đông Nam bộ. Khu du lịch có diện tích rộng hơn 70ha, là một trong số ít khu du lịch còn giữ được hệ sinh thái nước ngọt, sự đa dạng của hệ sinh học và tính nguyên sơ của tài nguyên thiên nhiên. Toàn bộ khu du lịch trải rộng qua hai bờ suối, được phủ xanh bằng cánh đồng chè, cây ăn trái và nhiều loại cây rừng xanh bạt ngàn tạo không khí trong lành, mát mẻ, yên tịnh.
    Đặc biệt, khu du lịch này được bao bọc bởi những con đường nhỏ rợp bóng cây trái, các loại cây rừng và hương thơm đồng nội, đẹp như các cô gái chân quê chưa quen mùi thị thành. Du khách được thỏa thuê lựa chọn, thích mạo hiểm thì đi cầu khỉ qua các lòng ao hồ, nếu có sức khỏe thì tự tản bộ vì ngoài những đoạn đường bằng để xả hơi, còn lại là “dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm” (thơ Quang Dũng). Có kinh nghiệm “chăn dắt” thì cưỡi lên xe trâu, xe ngựa.
    Du khách cũng có thể ngồi bệt bên các bờ ao để câu cá. Quanh ao hồ có sẵn các loại rau phục vụ cho chế biến “chiến lợi phẩm”. Khi đã mệt, khách có thể nghỉ ngơi ngay tại những khu nhà sàn, nhà gỗ được thiết kế theo kiểu nhà truyền thống của các dân tộc bản địa miền núi hoặc nghỉ ngơi trong biệt thự tọa lạc nơi triền dốc.
    Lên đỉnh Bà Rá ngắm thị tứ Thác Mơ về đêm
    Nhắc đến du lịch tỉnh Bình Phước không thể không nhắc đến cáp treo núi Bà Rá (thị xã Phước Long). Núi Bà Rá có độ cao gần 750m so với mực nước biển, để leo lên tới đỉnh của ngọn núi, du khách phải vượt qua 1.767 bậc tam cấp tính từ đồi Bằng Lăng. Thay vì phải vượt qua các bậc tam cấp, hiện nay du khách có thể thoải mái ngồi trong những cabin của hệ thống cáp treo Bà Rá ngắm nhìn cả một khu vực rộng lớn, bao gồm thị trấn Thác Mơ xinh đẹp, toàn cảnh hồ Long Thủy, hồ thủy điện Thác Mơ mà vào mùa mưa diện tích nước bao chiếm tới 12.000 ha như một biển nước xanh thẳm xa tít, hòa quyện chập chờn giữa rừng núi, tạo cho du khách cảm giác thân thiện, đắm đuối, được trở về cùng thiên nhiên hoang sơ.
    Lên đỉnh núi Bà Rá bằng cáp treo vào những ngày đẹp trời, mây bay nhởn nhơ, tản bộ nơi đỉnh cao chót vót vào buổi bình minh hay chiều tối du khách sẽ tận hưởng những giọt sương nơi vùng núi lãng đãng rơi lấm tấm trên tóc, đậu ướt vai áo. Khí hậu trên núi vừa mát mẻ, vừa se lạnh rất nên thơ của khí hậu vùng ôn đới hệt như cao nguyên Đà Lạt. Suốt hành trình trải dài từ chân núi lên đỉnh, ngoài việc ngắm cảnh rừng nguyên sinh, du khách còn được “hộ tống” bởi đàn khỉ rừng hàng trăm con. Chúng hú hí, nối đuôi nhau chuyền cành cây dọc theo hành tung đường cáp di chuyển với hi vọng có được “một bữa no”.
    Buổi tối, thị tứ Thác Mơ qua ánh điện lung linh huyền ảo từ những ngọn đèn nhà máy thủy điện hòa lẫn trong sương đêm. Quanh núi Bà Rá được bao bọc bởi khu rừng đặc dụng với đủ loại gỗ quý hiếm đặc trưng của rừng nhiệt đới như cẩm lai, gõ đỏ, gõ mật, sao, dầu, bằng lăng... và nhiều loài động vật quý hiếm khác. Núi Bà Rá, người Stiêng gọi là Bơnom Brah hay Yumbra (đỉnh núi thần), không chỉ thơ mộng, hùng vĩ mà còn là nơi chốn linh thiêng.
    Hướng về Vườn quốc gia Bù Gia Mập (huyện Bù Gia Mập, rộng 2.600ha), nằm trong vùng địa lý sinh vật Đông Nam bộ, đây là nơi bảo tồn động thực vật của tỉnh và lưu giữ nhiều loại thực vật quý hiếm đặc trưng của vùng như: cẩm lai, trắc, gụ, giáng hương, da đá, cây họ dầu... và nhiều loại động vật quý như: hổ, sư tử, tê giác, bò rừng, voi, gà so cổ hung, ngan cánh trắng, các loài khỉ... Nơi đây có cảnh quan đẹp, phong phú về hệ động thực vật, nơi nổi tiếng đa dạng về các loài chim.

    BÙI LIÊM

    Núi Bà Rá - địa danh lịch sử của Bình Phước

    0

    BP - Trong các cuộc kháng chiến giành độc lập, Bình Phước là địa bàn chiến lược quan trọng, lập nên những chiến công hiển hách, ghi dấu ấn đặc biệt vào những trang sử vàng của dân tộc. Một trong những địa danh lịch sử ở Bình Phước là núi Bà Rá. Bà Rá thuộc địa phận phường Thác Mơ (TX. Phước Long), có tổng diện tích 307.325m², cao 732m so với mực nước biển. Theo tiếng Xêtiêng, Bà Rá là Bơnom Brah, nghĩa là ngọn núi thần. Đây là ngọn núi mang trên mình những chiến công nhưng cũng đầy những dấu tích bi hùng của thời kỳ kháng chiến chống Pháp.

    VÀI NÉT LỊCH SỬ
    Năm 1925, thực dân Pháp cho xây một nhà tù lớn dưới chân núi Bà Rá để giam cầm các chiến sĩ cách mạng và các tội phạm. Nhà tù này có 3 khu: Trại A sát chân núi, giam giữ tù thường phạm; trại B giam giữ nữ tù thường phạm hoặc chính trị phạm, đặt tại trung tâm trại Bà Rá. Năm 1941, Pháp xây dựng thêm trại C để giam giữ tù nhân chính trị. Nhà tù Bà Rá còn là nơi giam giữ hàng trăm tù chính trị bị treo án và khổ sai từ các nơi khác chuyển đến. Nỗi thống khổ của những tù nhân Bà Rá không sao kể xiết, đau ốm không có thuốc men lại còn bị đánh đập dã man và bị lao động khổ sai. Vì vậy, trại tù trở thành nơi cho những nhà cách mạng hoạt động. Họ đã vận động giác ngộ những phạm nhân trở thành những chiến sĩ cộng sản đi theo con đường của Đảng. Trại tù Bà Rá đã thành lập chi bộ cộng sản để lãnh đạo phong trào và tổ chức nhiều cuộc vượt ngục. Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, tù nhân Bà Rá đã nổi dậy đập tan xiềng xích trở về chiến khu, hoặc trở về quê hương góp phần giải phóng đất nước...
    Cổng miếu Bà Rá trong lễ hội miếu Bà năm Giáp Ngọ 2014
    Gần nhà tù Bà Rá có miếu Bà Rá ( Linh Sơn miếu), dân gian tôn gọi là “Bà Rá hộ quốc linh thần”. Năm 1943, miếu được những tù nhân chính trị ở nhà tù Bà Rá bí mật xây dựng để tưởng nhớ các tù chính trị bị chôn sống ở gốc cây cầy nơi đây. Năm 1958, người dân đã dời miếu lên sát đường lộ (cách nơi cũ 500m) để tiện đi lại thờ cúng. Miếu Bà Rá là một công trình kiến trúc tín ngưỡng dân gian, nằm trong quần thể di tích lịch sử Bà Rá. Miếu không chỉ là nơi thờ cúng tín ngưỡng của nhân dân mà còn là một trong những chứng tích về sự xâm lược tàn bạo của thực dân Pháp trên vùng đất Phước Long.
    Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, núi Bà Rá là một căn cứ quân sự hiện đại của Mỹ - ngụy, có cả sân bay trực thăng trên đỉnh núi, kiểm soát toàn bộ vùng miền Đông Nam bộ. Nhưng núi Bà Rá cũng mang trên mình nhiều chiến tích anh dũng kiên cường của quân và dân ta, nhất là bộ đội địa phương thời kỳ chống Mỹ. Bên sườn núi phía tây có hang Dơi, hang Cây Sung, nơi đây đội công tác núi Bà Rá đã từng bám trụ và lập nhiều chiến công. Hiện nay, ngay tại đồi Bằng Lăng có đền thờ tưởng niệm các chiến sĩ và đồng bào hy sinh trong chống giặc ngoại xâm. Trên đỉnh núi có miếu thờ đức Phật thánh mẫu Thiên Hậu và bà Chúa xứ. Vào các ngày rằm và đặc biệt là ngày vía bà Chúa xứ (24 âm lịch hàng tháng), thường có rất đông khách lên núi dâng hương lễ Phật và viếng bà Chúa xứ.
    BÀ RÁ NGÀY NAY
    Quần thể danh thắng quanh núi Bà Rá- Thác Mơ đã được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận là Di tích Lịch sử văn hóa cấp quốc gia ngày 4-10-1995. Đây là nơi có thắng cảnh đẹp nổi tiếng với công trình thủy điện và hồ Thác Mơ; rừng cây có hệ thực vật đa dạng, phong phú được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xếp vào hệ thống rừng đặc chủng. Từ đồi Bằng Lăng, bước lên 1.767 bậc tam cấp bằng đá sẽ lên đến đỉnh núi Bà Rá. Đường lên núi khá đẹp, được bao phủ bởi một màu xanh cây rừng, hai bên đường đi có nhiều cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi.
    Núi Bà Rá còn được biết đến khi hàng năm giải việt dã truyền thống tổ chức vào ngày 6-1 tại đây. Giải việt dã Chinh phục đỉnh cao Bà Rá không chỉ là giải đấu nằm trong hệ thống thi đấu quốc gia mà còn là giải mang tầm quốc tế. Quy mô của giải ngày càng rộng lớn qua từng năm, thu hút nhiều vận động viên đến từ các quốc gia như Lào, Campuchia, Thái Lan, nhằm thắt chặt tình hữu nghị, giao lưu học hỏi giữa các quốc gia lân cận. Trên đỉnh núi Bà Rá có Đài tiếp vận truyền thanh - truyền hình. Đây là trạm tiếp sóng do Đài Phát thanh -Truyền hình Bình Phước xây dựng, nhằm đưa sóng đến những vùng sâu, xa trong tỉnh.
    Đến với Bình Phước và tham quan khu du lịch sinh thái núi Bà Rá -Thác Mơ du khách có thể hòa mình vào không khí thiên nhiên, cảm nhận gió mát từ hồ thủy điện thổi vào. Tháng 3-2010, hệ thống cáp treo hoàn thành và đưa vào sử dụng đã góp phần tăng lượng du khách đến tham quan núi Bà Rá. Đặc biệt trong dịp lễ kỷ niệm 40 năm Ngày giải phóng Phước Long (6-1-1975 - 6-1-2015) và giải truyền thống việt dã, Phước Long sẽ tổ chức bắn pháo hoa chào mừng. Đây cũng là sự kiện chính trị quan trọng của thị xã Phước Long và tỉnh Bình Phước khi bước vào năm mới 2015, chào xuân Ất Mùi.   
    Trung Lương

    Thứ Tư, 1 tháng 1, 2014

    Đạo chia nước của người Mày (Dân tộc Chứt)

    Đối với bất cứ dân tộc nào, nguồn nước đều có vai trò quan trọng và nguồn sống với nhiều ý nghĩa. Với người Mày, nguồn nước không chỉ tượng trưng cho sự sống, mà còn là điều may mắn, tròn đầy.

      Trong cuộc sống đầy sự tư hữu, phân chia giàu nghèo thì chính đạo chia nước của người Chứt khiến các tộc người anh em phải ngưỡng mộ.

      Ngay từ thời xa xưa, người Mày đã cư trú trên các vùng đất cao nhất của các ngọn đồi nên họ ý thức rất rõ thứ tài nguyên kì diệu này đối với cuộc sống, không chỉ của họ mà còn với những tộc người anh em ở phía dưới nguồn. Người Mày rất quý nước, nhất là nước đầu nguồn.


      Trải qua hàng trăm năm, các thế hệ người Mày vẫn ngày đêm bảo vệ nguồn nước. Để rồi, những ngày cùng nhau bên bếp lửa, già làng truyền lại cho những chiến binh tương lai cách tổ tiên bảo về nguồn nước. “Khi đánh đuổi những bộ tộc xâm lấn, các nguồn nước bị làm phép cho cạn kiệt, trời cũng chẳng cho mưa về. Còn lại cái giếng nước vuông và cái giếng nước tròn của Ku Téc (thần đất), nơi đó cũng là nơi lãnh vực biên ải của người Mày.

      Vì vậy, người Mày cố công bảo vệ. Bao lần kẻ thua cuộc dã tâm bỏ thuốc độc nhưng không thể tiếp cận cái nước của thần Ku Téc bởi sự thiện chiến của chiến binh Mày. Bảo vệ được nguồn nước, người Mày cầu thần Ku Lôông cho được trời mưa, giải khỏi lời nguyền xấu, nước ở trời men theo tường vách dựng đứng của hệ núi Giăng Màn tưới mát cho tất cả anh em Mày, Sách, Khùa, Rục… và cả người Kinh dưới xuôi của dòng sông Gianh…”

      Người Mày quan niệm: “Nước không dành riêng cho người Mày mà dành cho những anh em khác nữa, chiếm nguồn nước là điều không thể ác hơn. Hơn nữa, người Mày mỗi bản vài nóc nhà, không cưu mang nhau để sống bền với rừng thì thua con thú, con chim - chúng sống còn có bầy, có đàn, huống chi người Mày mình, chẳng lẽ không hơn con chim, con thú!”. Chính vì thế, nguồn nước luôn được chia sẻ và đầu năm, người Mày tiến hành đạo chia nước truyền thống.

      Người Mày cuối năm thường có lễ chia nước ngọt hứng từ mái nhà sàn hoặc lấy ở nguồn nước suối. Chia nước chính mà món quà đầu năm mà người dân nhận được từ các vị thần và cầu mong có được một năm mới tốt tươi.

      Lễ chia nước cho các gia đình trong bản đều do người có trọng vọng (già làng, trưởng bản) chia, mỗi nhà chừng một lít nước. Đó là cách họ muốn ẩn ý sự chia sẻ tài nguyên tự nhiên để bảo tồn cuộc sống. Có nước, người Mày mới nhớ đến nhau và nhớ đến những người anh em láng giềng khác.

      Cùng với lãnh nhiệm bảo vệ nguồn nước, đạo chia nước của người Mày khiến những tộc người anh em kính trọng, nể vì. Nước như một vị thần bản thể đi ra từ ý thức của họ, không có nước thì không có sự sống, không có sự tồn tại.

      Đạo chia nước của người mày không chỉ thể hiện được tính cộng đồng, đoàn kết, yêu thương lẫn nhau mà đó còn là một nét văn hóa độc đáo, một phong tục đẹp, một nếp sống nhân văn cần được phát huy và giữ gìn.

      Tục chia nước của người Mày

      Chữ “Mày” có nghĩa là con nước đầu nguồn, cũng giống như tính tình khí khái, bất chấp hiểm nguy, luôn chọn vị trí trên đỉnh những quả đồi hoang vu, bạt ngàn làm nơi cư ngụ của tộc người này. Người Mày rất quý trọng, có ý thức bảo vệ nguồn nước; đặc biệt, tục chia nước trước thềm năm mới của người Mày là nét văn hóa độc đáo và nhiều ý nghĩa… 
      Người Mày (dân tộc Chứt) có vỏn vẹn hơn 200 nhân khẩu (số liệu năm 2016), sống tại vùng rẻo cao biên giới thuộc 2 xã Dân Hóa, Trọng Hóa (tỉnh Quảng Bình).
       
      Người Mày luôn ở trên một địa hình cao mà theo truyền thuyết đó phải là một ngọn đồi từng là nơi ẩn ngụ của loài chim đại bàng, là địa điểm có thể tận mắt chứng kiến được dòng nước trong từng hốc núi cao dẫn dòng xuống khe suối. Dẫu phải đối mặt với bao hiểm nguy, người Mày vẫn vững vàng bảo vệ những thực thể xung quanh mình, ưu tiên trước hết phải là nguồn nước.
       
      Bản người Mày giữa đại ngàn.

      Đã trở thành một tập quán tốt đẹp, cứ mỗi tinh sương, một vài thành viên trong gia đình người Mày với dụng cụ là ống lồ ô đục rỗng, ống bom bi phế liệu hay mỗi đầu đòn gánh là một cái can nhựa 5 lít, từ từ leo xuống những con dốc ngược đứng để lấy nước dưới khe suối về dùng cho sinh hoạt. Thoạt nghĩ, phải chăng tổ tiên người Mày đã tự đánh đố và làm khó con cháu mình khi ở đầu nguồn nước mà lại đóng bản trên đỉnh đồi để rồi mất cả tiếng đồng hồ mới gánh được một chuyến nước? Các già làng tộc người Mày nói rằng, làm thế để các lớp người sinh sau càng ý thức hơn thứ tài nguyên vô giá do trời đất tặng ban. Hơn nữa, việc người Mày được may mắn hưởng dùng dòng nước đầu nguồn khơi lên ý niệm thường trực, nguồn nước với họ chính là một biểu tượng văn hóa linh thiêng, là vị thần đầy quyền uy mà họ đã được may mắn thấm nhuần và nhận được sự chở che ngay từ buổi lọt lòng. Ngày lãnh nhiệm trọng trách coi sóc nguồn nước cũng là ngày họ được tiền nhân giảng giải làm thế nào để các tộc người anh em ở phía giữa nguồn và thượng nguồn được ăn uống và tắm mát bằng một thứ nước trong lành và an toàn  nhất…

      Điều này được chứng thực trong những truyện kể dân gian của người Mày, họ cho rằng nguồn nước vô hạn mà dòng sông Gianh đang sở hữu (dài khoảng 160 km, cùng với Đèo Ngang là 2 biểu trưng địa lý của tỉnh Quảng Bình) bắt nguồn từ sự quả cảm và những lần đấu trí sống còn của người Mày với các bộ tộc xâm lấn. Trong quá trình quần thảo, quân ác nhân đã dùng nhựa cây có chứa chất độc và cả thuật làm phép để nguồn nước trở nên độc hại và khô cạn. Tuy dã tâm độc ác đến thế nhưng chúng không thể nào tiếp cận được hai cái giếng, một vuông, một tròn do thần Ku-téc (thổ nhưỡng) của người Mày cai quản. Từ mạch nguồn quý giá còn lại đó, người Mày cầu xin thần Ku-Lôông (thần mưa) ban mưa, giải lời nguyền độc ác và họ nhanh chóng được thần linh nhận lời. Nước mát từ giếng của thần thổ nhưỡng tuôn đổ xuống dãy núi Giăng Màn, vùng đất họ chọn để ăn đời ở kiếp, không chỉ thỏa mãn tưới tắm cho các tộc người trong vùng mà cho cả người Kinh sống dọc triền con sông Gianh huyền thoại. Do đó, người Mày với nguồn nước như chính hơi thở với sự sống, tồn tại song hành.

      Trong 3 ngày Tết Nguyên đán, sáng nào cũng vậy, các vị chức sắc khả kính trong bản làng người Mày lần lượt đến từng hộ gia đình, sử dụng chiếc gáo gỗ lấy nước từ chum nước dưới chân cầu thang nhà sàn rồi múc tượng trưng rót vào lòng bàn tay của chủ hộ. Vừa làm hành động cho nước, vị đó vừa giáo huấn, rằng thần nước sinh ra từ đất và trời, nước có lúc hiền từ, bình lặng nhưng tai ương sinh ra từ nước cũng không ít. Là một tộc người sống ở nơi khai sinh nguồn nước, người Mày càng phải ý thức vinh dự cũng như bổn phận lớn lao đối với loại tài nguyên này, chớ phút giây nào bất kính với thần nước vì nếu thế, suối nguồn hung tợn này sẽ cuốn phăng mọi thứ đi bất cứ lúc nào. Người Mày tồn tại trên nguyên tắc sẻ chia nguồn nước. Có nguồn nước mới có người Mày và nguồn nước đã dạy người Mày biết sẵn sàng xả thân vì bè bạn thân hữu.

      Tục chia nước của người Mày còn tồn tại trong cái cách tộc người này bảo vệ nguồn nước. Bảo vệ mới có được nguồn nước tốt lành để sẻ chia. Bảo vệ cho ruộng nương không khi nào khô khát, cho thủy loài luôn sinh sôi, dưỡng nuôi sự sống.

      Nét văn hóa trong trẻo sinh ra từ trượng nghĩa, kết đoàn và thương yêu lẫn nhau trong những ngày đầu năm mới này của người Mày là một nghĩa cử đẹp đẽ, một đạo lý nhân bản, một lối sống trách nhiệm hết mình của tộc người này. Đó chính là kho di sản sống động cần được tiếp nối và phát huy cho mai sau…
       
       
      Nguyễn Tiến Dũng (Báo Điện tử Đắk Lắk)

      Đầm ấm Lễ hội Ariêuping (lễ bốc mả)

      Ariêuping là lễ hội lớn nhất trong đời sống tâm linh của đồng bào dân tộc Pa Kô trên đại ngàn Trường Sơn.

      Lễ hội thường kéo dài trong 3 ngày đêm để cất bốc, quy tập mồ mả về ngôi nhà chung của dòng họ, thể hiện sự gắn bó huyết thống và mối cộng cảm từ buổi hình thành tộc người cho tới nay.

      Đến với lễ hội, người dân gửi gắm sự tôn kính, hiếu nghĩa với những người đã khuất, cũng là dịp để con cháu trong dòng họ về tụ họp, nhận biết nhau, tránh nhầm lẫn trong quan hệ hôn nhân.

      Lễ hội cũng là dịp giải quyết các vướng mắc cả về phong tục tập quán đời sống xã hội, phân định lại ranh giới đất đai... (Bộ ảnh chụp tại xã Tà Rụt, huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị).

       
      Lễ hiến tế gia súc (trước đây là đâm trâu) đến linh hồn người chết.
      Đoàn người Pa Kô đến dự lễ Ariêuping ở xã Tà Rụt.
      Múa hát xung quanh hài cốt trước khi đưa đi an táng tại nhà mồ.
      Những tâm trạng khác nhau của mọi người khi nhảy múa quanh hài cốt người quá cố.
      Dịp lễ Ariêuping là lúc tập hợp đầy đủ nhất mọi người để nhận họ hàng.

      Luật tục "phạt vạ ngoại tình" của người K'ho

      Trong luật tục của người K’ho, hành vi ngoại tình là hành vi cực kỳ nghiêm trọng và tối kỵ nhất. Những người phạm vào điều này sẽ bị cộng đồng trừng phạt nặng nề bằng những vật phẩm phạt vạ thích đáng.

      Khi bắt quả tang người vợ hoặc chồng "vụng trộm" với người tình, một cuộc họp khẩn cấp của hai bên gia đình nội ngoại sẽ được triệu tập để xử lý kẻ “chán cơm thèm phở”. Người bị phản bội có thể yêu cầu phạt vạ người vi phạm tới 14 con trâu.

      Nắm gạo xử li hôn

      Người K’ho ở Lâm Đồng cũng như các tộc người bản địa khác đang cư trú trên vùng đất Tây Nguyên, khi gia đình có chuyện lục đục, họ rất ít khi kéo nhau ra tòa.
      Thiếu nữ K’ho trong ngày khai giảng năm học mới ở huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng.
      Thiếu nữ K’ho trong ngày khai giảng năm học mới ở huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng.
      Theo tập tục truyền thống của người K’ho, khi vợ chồng không muốn sống với nhau nữa thì cho phép ly dị nếu một trong hai người ngoại tình hay vi phạm phong tục gây ảnh hưởng đến đời sống gia đình. Tuy nhiên, tình trạng ly hôn ở người K’ho rất ít khi xảy ra bởi sự ràng buộc rất chặt chẽ của tập tục từ khi nam nữ thành vợ, thành chồng.

      Khi có dấu hiệu rạn nứt tình cảm vợ chồng vì những lý do khác nhau, hai bên gia đình, dòng họ sẽ tìm cách khuyên ngăn, hòa giải. Nếu vẫn không giải quyết được thì sẽ tổ chức một buổi họp, ngoài các thành viên chủ chốt của hai bên nội ngoại còn có sự tham gia của già làng.

      Già làng K’Tiếu, thôn Duệ, xã Đinh Lạc, huyện Di Linh (Lâm Đồng) cho biết thủ tục ly dị của người K’ho được tiến hành như sau: Người ta lấy một bát gạo đưa cho hai người, hai người lần lượt lấy vài hạt bỏ vào một cái bát khác, coi như là đồ vứt đi và từ đây họ chính thức không còn là vợ chồng.
      Già làng K’Tiếu
      Già làng K’Tiếu
      Cũng có nơi vợ chồng mỗi người cầm một nắm gạo trong tay và cùng thả đều vào bát, nếu bên nào thả vào trước (lý do quá nôn nóng) thì sẽ phải đền của cho bên kia. Nếu cả hai bên cùng thả vào bát thì coi như đồng ý ly dị (thuận tình ly hôn). Từ đó hai người sẽ không được phép sống chung với nhau nữa.

      Khi đã ly hôn, gia đình nhà trai buộc phải trả lại số lễ vật mà trước đó đã thách cưới nhà gái (trị giá đồ vật có thể được tính giảm đi theo số năm người chồng ở bên nhà vợ). Hoặc nếu người vợ chết mà người chồng đi lấy người vợ khác thì cũng phải hoàn trả lại số lễ vật nhà gái đã đưa cho nhà trai trong lễ ăn hỏi.

      Trường hợp người chồng hoặc người vợ chết, bên nhà vợ hoặc chồng không có người em để thực hiện tục “nối dây” hoặc không đồng ý lấy thì được phép có vợ hoặc chồng khác sau khi mãn hạn tang. Trường hợp này, không phải hoàn trả lại của hồi môn, nhưng không được mang theo con và phải tổ chức lễ cưới.

      Ngoại tình bị phạt vạ 14 con trâu
      Người K’ho xưa và cả ngày nay xem ngoại tình là một tội “tày đình”. Người ngoại tình sẽ bị buôn làng xem thường, khinh rẻ vô cùng.

      Trước đây, ngoại tình và thông dâm là hai tội bị luật tục của người K’ho trừng phạt cực kỳ dã man. Những kẻ quyến rũ người chồng hay vợ người khác thường là bị giết chết, quăng xác xuống suối.

      Người ngoại tình bị bắt quả tang phải lo nộp vạ cho người bị phản bội một khoản rất lớn có khi lên đến 14 con trâu (tùy vào sự thỏa thuận nhưng không dưới 12 con trâu). Ngoài việc bồi thường danh dự cho vợ hoặc chồng của người kia còn phải bồi thường cho chính vợ hoặc chồng mình vì những đêm đi ngủ với người khác ở bên ngoài.

      Tất nhiên, “bản án” dành cho những trường hợp ngoại tình của người K’ho cũng cực kỳ nghiêm khắc. Nếu chồng ngoại tình thì người chồng phải nộp vạ cho chính vợ mình 6 con trâu, 1 ché rượu, 2 con vịt và 1 con gà mái. Khi người vợ “tòm tem” với một người đàn ông đã có gia đình thì phải nộp cho chồng 6 con trâu và 1 ché rượu.

      Ngoại tình giữa một người đàn ông với một người đàn bà đã có gia đình thì người đàn ông này phải bồi thường cho người chồng có vợ ngoại tình 12 con trâu.

      Ngày nay, những tập quán lạc hậu và tập tục xử phạt quá hà khắc trong lĩnh vực hôn nhân người K’ho đã dần được thay thế bởi hệ thống pháp luật của Nhà nước. Tuy nhiên, ở không ít nơi trình độ dân trí và nhận thức của người K’ho vẫn còn thấp nên ảnh hưởng của luật tục hà khắc này vẫn còn khá nặng nề, nhất là vấn đề tảo hôn, phạt vạ.

      Trong luật tục của người K’ho, hành vi ngoại tình là hành vi cực kỳ nghiêm trọng và tối kỵ nhất. Những người phạm vào điều này sẽ bị cộng đồng trừng phạt nặng nề bằng những vật phẩm phạt vạ thích đáng.

      Khi bắt quả tang người vợ hoặc chồng "vụng trộm" với người tình, một cuộc họp khẩn cấp của hai bên gia đình nội ngoại sẽ được triệu tập để xử lý kẻ “chán cơm thèm phở”. Người bị phản bội có thể yêu cầu phạt vạ người vi phạm tới 14 con trâu.

      Nắm gạo xử li hôn

      Người K’ho ở Lâm Đồng cũng như các tộc người bản địa khác đang cư trú trên vùng đất Tây Nguyên, khi gia đình có chuyện lục đục, họ rất ít khi kéo nhau ra tòa.
      Thiếu nữ K’ho trong ngày khai giảng năm học mới ở huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng.
      Thiếu nữ K’ho trong ngày khai giảng năm học mới ở huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng.
      Theo tập tục truyền thống của người K’ho, khi vợ chồng không muốn sống với nhau nữa thì cho phép ly dị nếu một trong hai người ngoại tình hay vi phạm phong tục gây ảnh hưởng đến đời sống gia đình. Tuy nhiên, tình trạng ly hôn ở người K’ho rất ít khi xảy ra bởi sự ràng buộc rất chặt chẽ của tập tục từ khi nam nữ thành vợ, thành chồng.

      Khi có dấu hiệu rạn nứt tình cảm vợ chồng vì những lý do khác nhau, hai bên gia đình, dòng họ sẽ tìm cách khuyên ngăn, hòa giải. Nếu vẫn không giải quyết được thì sẽ tổ chức một buổi họp, ngoài các thành viên chủ chốt của hai bên nội ngoại còn có sự tham gia của già làng.

      Già làng K’Tiếu, thôn Duệ, xã Đinh Lạc, huyện Di Linh (Lâm Đồng) cho biết thủ tục ly dị của người K’ho được tiến hành như sau: Người ta lấy một bát gạo đưa cho hai người, hai người lần lượt lấy vài hạt bỏ vào một cái bát khác, coi như là đồ vứt đi và từ đây họ chính thức không còn là vợ chồng.
      Già làng K’Tiếu
      Già làng K’Tiếu
      Cũng có nơi vợ chồng mỗi người cầm một nắm gạo trong tay và cùng thả đều vào bát, nếu bên nào thả vào trước (lý do quá nôn nóng) thì sẽ phải đền của cho bên kia. Nếu cả hai bên cùng thả vào bát thì coi như đồng ý ly dị (thuận tình ly hôn). Từ đó hai người sẽ không được phép sống chung với nhau nữa.

      Khi đã ly hôn, gia đình nhà trai buộc phải trả lại số lễ vật mà trước đó đã thách cưới nhà gái (trị giá đồ vật có thể được tính giảm đi theo số năm người chồng ở bên nhà vợ). Hoặc nếu người vợ chết mà người chồng đi lấy người vợ khác thì cũng phải hoàn trả lại số lễ vật nhà gái đã đưa cho nhà trai trong lễ ăn hỏi.

      Trường hợp người chồng hoặc người vợ chết, bên nhà vợ hoặc chồng không có người em để thực hiện tục “nối dây” hoặc không đồng ý lấy thì được phép có vợ hoặc chồng khác sau khi mãn hạn tang. Trường hợp này, không phải hoàn trả lại của hồi môn, nhưng không được mang theo con và phải tổ chức lễ cưới.

      Ngoại tình bị phạt vạ 14 con trâu
      Người K’ho xưa và cả ngày nay xem ngoại tình là một tội “tày đình”. Người ngoại tình sẽ bị buôn làng xem thường, khinh rẻ vô cùng.

      Trước đây, ngoại tình và thông dâm là hai tội bị luật tục của người K’ho trừng phạt cực kỳ dã man. Những kẻ quyến rũ người chồng hay vợ người khác thường là bị giết chết, quăng xác xuống suối.

      Người ngoại tình bị bắt quả tang phải lo nộp vạ cho người bị phản bội một khoản rất lớn có khi lên đến 14 con trâu (tùy vào sự thỏa thuận nhưng không dưới 12 con trâu). Ngoài việc bồi thường danh dự cho vợ hoặc chồng của người kia còn phải bồi thường cho chính vợ hoặc chồng mình vì những đêm đi ngủ với người khác ở bên ngoài.

      Tất nhiên, “bản án” dành cho những trường hợp ngoại tình của người K’ho cũng cực kỳ nghiêm khắc. Nếu chồng ngoại tình thì người chồng phải nộp vạ cho chính vợ mình 6 con trâu, 1 ché rượu, 2 con vịt và 1 con gà mái. Khi người vợ “tòm tem” với một người đàn ông đã có gia đình thì phải nộp cho chồng 6 con trâu và 1 ché rượu.

      Ngoại tình giữa một người đàn ông với một người đàn bà đã có gia đình thì người đàn ông này phải bồi thường cho người chồng có vợ ngoại tình 12 con trâu.

      Ngày nay, những tập quán lạc hậu và tập tục xử phạt quá hà khắc trong lĩnh vực hôn nhân người K’ho đã dần được thay thế bởi hệ thống pháp luật của Nhà nước. Tuy nhiên, ở không ít nơi trình độ dân trí và nhận thức của người K’ho vẫn còn thấp nên ảnh hưởng của luật tục hà khắc này vẫn còn khá nặng nề, nhất là vấn đề tảo hôn, phạt vạ.