| |||||||||||||
Thứ Sáu, 25 tháng 2, 2011
Ruộng bậc thang mùa nước đổ
Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật- Danh nhân Thăng Long kiệt xuất
| |||||||
Phố cổ Hàng Ngang và ngôi nhà số 48 lịch sử
| ||||||||
Nguyễn Công Trứ- Người khai sinh hai mảnh đất "Núi vàng, Biển bạc"
| |||||||
Đến với cửa ngõ miền Tây Bắc Tổ quốc
| ||||||||||
Một ngày ở cù lao Giêng
Với chiều dài 12 km, rộng 7 km, bốn bề sum suê cây trái, cù lao Giêng có nhiều di tích, kiến trúc tôn giáo đặc trưng xây dựng khoảng đầu thế kỷ 19 thu hút du khách khám phá.
Cù lao Giêng nằm trên sông Tiền, giữa Đồng Tháp và An Giang. Theo những cư dân bản địa, nhà thờ tại cù lao này này là ngôi thánh đường đầu tiên của vùng Nam bộ. Đây cũng là cầu nối giữa các cha truyền đạo bên Cao Miên (Campuchia) và Việt Nam và là trạm trung chuyển vật dụng cho sinh hoạt, truyền đạo bằng ghe đò lên miền thượng sang Campuchia.
Vẻ thâm trầm, cổ kính của nhà thờ Rạch Sâu. |
Ngôi thánh đường này được gìn giữ cẩn thận nên còn nguyên vẹn với tháp chuông cao vút, các trụ cột thiết kế liên hoàn kết hợp cùng những ô gió và tháp nhỏ, tạo thành một kiến trúc nguy nga, hoành tráng.
Không xa nhà thờ cù lao Giêng, những căn nhà xưa được xây dựng từ năm 1916, mang lối kiến trúc nhà rường gỗ ba gian hai chái, tường gạch bao tứ diện. Sân nhà là những chậu kiểng cổ mai chiếu thuỷ với dáng thế “tam cang ngũ thường”, một lối kiểng cổ quen thuộc của người Nam bộ.
Song song với những kiến trúc cổ của thánh đường, những ngôi chùa ở cù lao Giêng lại là nơi khách thập phương, tứ xứ tìm đến vãn cảnh, cúng viếng đông đúc mỗi ngày. Nổi nhất là chùa Ông Đạo nằm, còn gọi là chùa Thành Hoa gốc người Đồng Tháp, tu theo Phật giáo sau biến hoá dần, bày ra một hình thức tu luyện khác lạ.
Trường lang chùa Thành Hoa trang trí toàn bằng gốm Biên Hoà. |
Bình lặng hơn trong không gian chùa chiền ở cù lao Giêng có chùa Phước Minh, dân trong vùng hay gọi chùa Bà Vú. Ở ngôi chùa này, nổi bật giữa một màu xanh cây trái là ngọn tháp cửu trùng (chín tầng) và chiếc cổng tam quan nằm dọc giữa con đường nhỏ vào chùa. Đây cũng là một điểm nhấn thú vị với nhiều du khách.
Trong số những di tích kỳ lạ ở cù lao Giêng, có một khu mộ độc đáo gồm ba phần mộ liền kề với lối xây dựng lạ mắt và độc đáo. Đó là phần mộ của “ba quan thượng đẳng”, ba anh em người cù lao Giêng, được mời ra kinh thành Huế phong chức vụ theo đường binh nghiệp, rất có công với triều đình nhà Nguyễn, sau đó hy sinh ngoài chiến trận và được vua Gia Long phong chức Ngọc Hầu.
Chùa Phước Minh với tháp chín tầng và cổng tam quan nằm dọc theo đường đi. |
Mộ phần ba quan bố trí không đồng nhất nhau, một mang hình con mực, đầu lượn ra phía cửa, một hình cá chép nằm ngược đang trở đầu uốn theo con mực, và một hình con rùa cũng xoay theo con cá chép.
Câu chuyện về mộ phần với những sinh vật biển được bố cục kỳ lạ. Ba con vật đọc theo Mặc - Lý - Quy (Mặc đọc theo âm Hán nghĩa là cá mực, là sự im lặng), tức là “về trong im lặng”. Bởi vậy, tuy là võ tướng của triều đình, có công lớn, nhưng phần mộ của ba vị tướng nhỏ nhoi, nằm lặng lẽ giữa đồng, nay do người cháu trông coi và nắm giữ nhiều câu chuyện thú vị về ba vị quan cũng như ý nghĩa của lăng mộ kỳ lạ này.
Đi khắp xứ cù lao Giêng chỉ vỏn vẹn trong ngày, đói bụng ghé chùa làm bữa cơm chay, nghe những câu chuyện do những người địa phương lưu truyền lại quanh những địa danh, di tích, thực là một ngày vui đáng nhớ.
Theo Tiếp Thị Sài Gòn
Theo Tiếp Thị Sài Gòn
Độc đáo giếng cổ xứ Đoài
Giếng làng trở thành biểu tượng thiêng liêng trong tâm thức cộng đồng người Việt Bắc bộ. Vì vậy, ở xứ Đoài, người làng thường xây trên bờ một bệ thờ lộ thiên hoặc ngôi miếu nhỏ để tỏ lòng thành kính.
Xứ Đoài (Hà Tây cũ nay thuộc Hà Nội) là nơi còn lưu nhiều giếng cổ. Đặc biệt, vùng trung du, nay là các huyện Ba Vì, Thạch Thất, thành phố Sơn Tây… còn nhiều giếng xây bằng đá ong, đất, qua bao nhiêu biến cố thời gian, nước còn trong và mát.
Người xưa đào sâu xuống lòng đất, đúng mạch, nước dâng lên vừa trong vừa mát. Loại đá nơi đây đào đến đâu, cứng đến đó nên không phải kè thành. Giếng thường rộng 3 - 5 m, sâu trên 10 m, miệng đặt những tảng đá ong nguyên khối hoặc từng tảng ghép lại vừa bền chắc mà sạch sẽ.
Giếng đá ong thường đặt ở đầu làng, giữa xóm, hai bên đình, chùa theo quan niệm là đôi mắt rồng thiêng, nước nguồn không bao giờ cạn. Đình Mông Phụ, làng cổ Đường Lâm vẫn còn nguyên hai chiếc. Làng Đông Sàng đặt giếng ở khuôn viên văn chỉ, tôn thêm vẻ đẹp và khơi nguồn trí tuệ Nho học. Ở làng Cam Lâm, phía trước khu lăng mộ Ngô Quyền lại có một chiếc ở dưới chân đồi. Nước giếng vùng này thường mát về mùa hè, ấm về mùa đông, nên có câu“Nước giếng hè - chè Cam Lâm”.
Giếng đá ong thường đặt ở đầu làng, giữa xóm, hai bên đình, chùa theo quan niệm là đôi mắt rồng thiêng, nước nguồn không bao giờ cạn. Đình Mông Phụ, làng cổ Đường Lâm vẫn còn nguyên hai chiếc. Làng Đông Sàng đặt giếng ở khuôn viên văn chỉ, tôn thêm vẻ đẹp và khơi nguồn trí tuệ Nho học. Ở làng Cam Lâm, phía trước khu lăng mộ Ngô Quyền lại có một chiếc ở dưới chân đồi. Nước giếng vùng này thường mát về mùa hè, ấm về mùa đông, nên có câu“Nước giếng hè - chè Cam Lâm”.
| GIếng đá ong xóm Miễu, làng Mông Phụ, Đường Lâm, Sơn Tây. |
Khu vực Phủ Quốc (Quốc Oai), gần núi đá vôi, nhân dân khi đào giếng lấy đá hộc xếp quanh từ dưới đáy lên mặt. Phía trên gắn bằng vôi, xi măng tạo thành các hình tròn, vuông, bán nguyệt rất đẹp mắt. Xung quanh núi Thày (Sài Sơn) hiện còn những giếng cổ ở xóm Tân Hương, Chùa, Đình… nước trong, mát quanh năm. Nơi đây có loại lớn trên 10 m, đo qua miệng giếng. Loại nhỏ hơn từ 3 m đến 5 m, hiện vẫn sử dụng tốt. Nhiều chiếc ở phía dưới kè đá, trên xây gạch, lát sân giếng, tường bao quanh, tạo cảnh quan sạch đẹp cho xóm làng.
Vùng đồng bằng như các huyện: Đan Phượng, Hoài Đức, Phúc Thọ… phần nhiều là giếng đất, đào đắp trước cửa đình, chùa, đền, miếu… làm minh đường cho di tích, theo thuyết phong thuỷ của đạo nho. Giếng này thường to, rộng hơn các giếng khơi, trung bình khoảng 20 - 30 m bề ngang. Xung quanh giếng xây tường bảo vệ, có lối đi xuống bằng gạch hoặc đá ong, trên bờ trồng cây đa cổ thụ, cây gạo hoặc cây muỗm xum xuê cành lá.
Giếng làng trở thành biểu tượng thiêng liêng trong tâm thức cộng đồng. Trên bờ, người làng thường xây một bệ thờ lộ thiên hoặc miếu nhỏ để tỏ lòng thành kính.
Làng Thượng Hội, xã Tân Hội, huyện Đan Phượng còn nguyên ba giếng cổ ở đầu, giữa và cuối làng. Chiếc ở đầu làng hình vuông, tượng trưng cho đất mẹ, chứa muôn ngàn tia sữa, nuôi dưỡng con người và soi bóng ngôi chùa cổ kính. Giữa làng, giếng xây tròn vành vạnh, dân thôn coi đó là hình mặt trời để ngày ngày luôn có ánh dương toả chiếu, hoà khí của âm dương cho con người hạnh phúc. Ở cuối làng là chiếc có hình bầu dục, như một tấm gương lớn khúc xạ ánh mặt trời, phản chiếu điều lành soi sáng cho cả làng. Giếng được xây gạch cẩn thận, có bậc lên xuống để gánh nước, tường xây gạch bao quanh, bệ thờ thần giếng vững chắc.
Làng Thượng Hội, xã Tân Hội, huyện Đan Phượng còn nguyên ba giếng cổ ở đầu, giữa và cuối làng. Chiếc ở đầu làng hình vuông, tượng trưng cho đất mẹ, chứa muôn ngàn tia sữa, nuôi dưỡng con người và soi bóng ngôi chùa cổ kính. Giữa làng, giếng xây tròn vành vạnh, dân thôn coi đó là hình mặt trời để ngày ngày luôn có ánh dương toả chiếu, hoà khí của âm dương cho con người hạnh phúc. Ở cuối làng là chiếc có hình bầu dục, như một tấm gương lớn khúc xạ ánh mặt trời, phản chiếu điều lành soi sáng cho cả làng. Giếng được xây gạch cẩn thận, có bậc lên xuống để gánh nước, tường xây gạch bao quanh, bệ thờ thần giếng vững chắc.
Huyện Hoài Đức có vùng quê xưa là Kẻ Giá, nay là xã Yên Sở, còn gọi làng Dừa, từ xưa có câu: “Đình không xà, làng bảy mươi ba cái giếng”. Hiện, xã chỉ còn trên 20 cái giếng cổ. Mỗi cái có một phiến gỗ lim dày, to lát đáy, xung quanh xếp đá quây tròn, không có hồ vữa mà vẫn chắc chắn. Giếng sâu độ 4 - 5 m, phía trên xây gạch vòng quanh. Cạnh đó có miếu thờ thần linh. Vào ngày mồng một, rằm hàng tháng, người dân mang lễ vật dâng cúng, cầu may.
Quán Linh Tiên ở Cao Xá (Hoài Đức) được tu tạo từ đời nhà Mạc (1584) tiêu biểu cho một quán Đạo giáo. Trên thượng điện là tượng Tam Thanh gồm: Thái Thanh, Thượng Thanh, Ngọc Thanh; phía dưới là các tượng Cửu Thiên, Huyền Mẫu và Trấn Vũ Thánh… Đặc biệt là trong hậu cung của quán còn một hố giếng sâu, tục truyền là huyệt đan sa, vốn là lò luyện đan trường sinh bất tử của các đạo sĩ. Đến nay, nước giếng vẫn tinh khiết, dùng cúng lễ và ban lộc cho các tín đồ.
Nước giếng cổ từ xưa được đề cao: “Cơm ăn mỗi bữa một trâu/Không bằng tắm nước ao Chầu Liều Viên/Cơm ăn mỗi bữa mỗi gà/Không bằng tắm nước Đường Hoa kẻ Ngườm”
Ngày nay, đời sống vật chất và tinh thần ngày càng nâng cao. Từ giếng đất, giếng khơi rồi thay thế bằng giếng khoan, nước máy… Từ thành thị đến nông thôn các nguồn nước sạch phong phú, tràn trề. Tuy nhiên các giếng cổ vẫn tồn tại ở các vùng từ bán sơn địa đến đồng bằng. Số lượng các giếng cổ có ít đi nhưng giá trị của nó vẫn rất quý. Nước giếng cổ trong, sạch, mát vào mùa hè, ấm vào mùa đông. Giá trị tâm linh của giếng gắn bó tình cảm con người với tạo hoá. Có giếng cổ, cảnh quan môi trường càng đẹp, kỷ niệm tuổi ấu thơ bên giếng làng dễ mấy ai quên. Các di tích lịch sử - văn hoá có hình ảnh giếng cổ thì giá trị càng tăng.
Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Minh Nhương
Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Minh Nhương
Làng Việt cổ xứ Đoài
Ở Làng Mông Phụ, xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội) thời gian như ngưng đọng lại bởi những dấu ấn về ngôi làng thuần Việt xa xưa giản dị vẫn hiện diện một cách đầy đủ, phong phú và sống động với 140 ngôi nhà cổ hàng trăm năm tuổi.
Sử sách ghi lại rằng, cách đây mấy nghìn năm, làng Mông Phụ do người Việt cổ di cư từ vùng núi xuống đồng bằng lập ra. Người Việt lúc đó đã chọn bến Mải, nơi có gò đất cao, bằng phẳng, gần sông để lập nên làng Mông Phụ. Tuy đất chưa quen, dòng chảy chưa thuộc nhưng ý thức dựng và giữ làng để phát triển cho đời sau đã đi vào tâm thức người dân qua hàng nghìn thế hệ. Dấu ấn thời gian được thể hiện khá đầy đủ ở cổng làng, đình làng, sân kho, chùa và trong từng nếp nhà...
| Tháp Cửu phẩm Liên Hoa, một kiến trúc độc đáo ở chùa Mía. Ảnh: Minh Đức |
Dấu tích làng cổ
Theo ông Giang Văn Khuê, một người cao tuổi ở làng Mông Phụ, cổng làng được quay về hướng Đông bởi quan niệm truyền thống cho rằng đó là hướng phát triển mạnh mẽ, con cháu mai sau sẽ thịnh vượng. Cổng làng được xây vào năm 1553 (đời vua Lê Thần Tông), làm từ gỗ mít, tường xây bằng đá ong, cát lấy trên gò rồi trộn vôi với mật tạo thành hỗn hợp kết dính để xây cổng. Cổng làng xưa chỉ đủ cho vài người gánh lúa nghỉ ngơi, chỗ trú chân cho mấy bác đi tuần làng.
Đến đây mới thấy thời gian như ngưng đọng lại bởi những dấu ấn về ngôi làng thuần Việt xa xưa giản dị vẫn hiện diện một cách đầy đủ, phong phú và sống động với 140 ngôi nhà cổ hàng trăm năm tuổi. Sáu xóm: Sui, Xây, Trung, Hậu, Sải, Đình như nằm trên một vòng tròn khép kín mà ở giữa là đình làng, một nơi vừa trũng vừa dốc. Ít ai biết rằng, đó chính là xoáy đất linh thiêng mà người xưa chọn làm nơi hội họp, bàn bạc hương ước, lệ làng. Đình được xây dựng cùng với thời gian dựng cổng làng, có hai giếng Bình, Nghiễu chảy tràn ra hai bên. Hướng của đình nhìn về phía đồi Dum, là nơi nước chảy về làng nên người Mông Phụ khi thi cử lúc nào cũng đỗ hàng quan. Ngôi đình mang đậm kiểu kiến trúc Việt - Mường, có sàn gỗ cách mặt đất mô phỏng kiến trúc nhà sàn. Khoảng sân rộng của đình là nơi tổ chức hội làng hàng năm từ ngày mùng 4 đến ngày mùng 10 tháng Giêng.
Đến đây mới thấy thời gian như ngưng đọng lại bởi những dấu ấn về ngôi làng thuần Việt xa xưa giản dị vẫn hiện diện một cách đầy đủ, phong phú và sống động với 140 ngôi nhà cổ hàng trăm năm tuổi. Sáu xóm: Sui, Xây, Trung, Hậu, Sải, Đình như nằm trên một vòng tròn khép kín mà ở giữa là đình làng, một nơi vừa trũng vừa dốc. Ít ai biết rằng, đó chính là xoáy đất linh thiêng mà người xưa chọn làm nơi hội họp, bàn bạc hương ước, lệ làng. Đình được xây dựng cùng với thời gian dựng cổng làng, có hai giếng Bình, Nghiễu chảy tràn ra hai bên. Hướng của đình nhìn về phía đồi Dum, là nơi nước chảy về làng nên người Mông Phụ khi thi cử lúc nào cũng đỗ hàng quan. Ngôi đình mang đậm kiểu kiến trúc Việt - Mường, có sàn gỗ cách mặt đất mô phỏng kiến trúc nhà sàn. Khoảng sân rộng của đình là nơi tổ chức hội làng hàng năm từ ngày mùng 4 đến ngày mùng 10 tháng Giêng.
Bà Vũ Thị Vọng, cán bộ ban Văn hoá xã Đường Lâm cho biết: "Trong khi xây dựng ngôi đình này, các cụ đã chạm trổ rất nhiều bức hoành phi "Lão long huấn tử". Tiếc là đến nay không còn lưu giữ được bao nhiêu". Theo bà Vọng, bức hoành phi một rồng mẹ và chín rồng con cùng một quyển vở, cái bút ngụ ý rằng mọi người phải luôn chăm lo đến sự học hành của con cháu. Vì thế, làng luôn luôn có người đỗ đạt cao, có đóng góp lớn trong việc xây dựng, gìn giữ đất nước. Đến nay, đình vẫn là nơi sinh hoạt văn hoá cộng đồng của bà con.
| Cổng làng. |
Bên cạnh đình làng, hệ thống nhà thờ họ cũng được lưu giữ nguyên vẹn. Đây chính là không gian tinh thần riêng của từng dòng họ trong làng. Nhà thờ họ Giang, nơi thờ sứ thần Giang Văn Minh (thế kỷ 17) đi sứ xoá nợ Liễu Thăng là một minh chứng tiêu biểu cho những ngôi nhà thờ họ ở đây... Dấu tích viên gạch góp của những chàng rể lấy vợ Mông Phụ đến nay vẫn chưa mất đi trên các bức tường đất bùn và đá ong cổ. Khác với đá ong ở những vùng Thạch Thất, Quốc Oai hay Sơn Đông, Cổ Đông (Sơn Tây), đá ở Mông Phụ sau khi khai thác về không cần gia công nhiều mà cứ thế xếp lên mà thành tường, thành nhà. Đá được đào từ dưới lòng đất, mỗi viên to khoảng 15 – 40 cm, càng để lâu càng tốt, khi xây không tốn nhiều công song vẫn đảm bảo cho khối tường dày, đủ làm mát nhà khi trời nóng và sưởi ấm nhà khi trời lạnh...
Sẽ là thiếu sót nếu đến Mông Phụ mà không tới viếng thăm chùa Mía (còn gọi là Sùng Nghiêm tự), ngôi chùa có kiến trúc đặc sắc về nghệ thuật tạo hình thế kỷ XVII và cũng là ngôi chùa đẹp nhất xứ Đoài. Theo sư cụ Đàm Cẩn, trụ trì chùa Mía, chùa được làm từ nhiều loại gỗ quý, chạm khắc công phu hình Tứ Linh, hoa lá cách điệu. Tượng Phật trong chùa không chỉ đặc sắc về hình dáng mà còn phong phú về số lượng. 287 pho tượng là 287 khuôn mặt, dáng vẻ khác nhau và được bài trí thành cụm khép kín. Đẹp nhất là tượng Tuyết Sơn, Kim Cương, Bá Đại Hòa Thượng, Quan Âm Nam Hải, bà Chúa Mía… Một nửa tượng được tạc bằng gỗ mít sơn son thếp vàng óng ánh, riêng tượng bà Chúa Mía được tạc bằng gỗ mít đặt trong khám gỗ ngay sát Tam bảo điện. Ngoài ra, trong chùa còn có rất nhiều động đắp cầu kỳ, sinh động như Nam Hải, Tây Trìu…
| Những di vật cổ vẫn được lưu giữ tại Mông Phụ. |
Gìn giữ nét xưa
Ngày 19/5/2006, Đường Lâm vinh dự tổ chức Lễ đón nhận bằng công nhận di tích lịch sử văn hoá “Làng cổ Đường Lâm” do Bộ Văn hoá - Thông tin ( nay là bộ Văn hóa Thể thao Du lịch) cấp. Đây là di tích văn hoá lâu đời, tiêu biểu nhất cho văn hoá truyền thống của người Việt và cũng là nơi đầu tiên trong tổng số 573 di tích lịch sử của Hà Tây được Nhà nước xếp hạng nhằm bảo tồn, tôn tạo, xây dựng và đưa vào khai thác phục vụ chương trình mục tiêu phát triển du lịch - văn hoá. Việc bảo tồn các giá trị cổ trong thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá là điều không đơn giản. Ngoài việc tuyên truyền, nâng cao ý thức gìn giữ, tôn trọng di tích cho người dân, làng cổ Mông Phụ rất cần được sự quan tâm, đầu tư và quảng bá của các ban ngành để nâng cao giá trị cổ của làng.
Ngày 19/5/2006, Đường Lâm vinh dự tổ chức Lễ đón nhận bằng công nhận di tích lịch sử văn hoá “Làng cổ Đường Lâm” do Bộ Văn hoá - Thông tin ( nay là bộ Văn hóa Thể thao Du lịch) cấp. Đây là di tích văn hoá lâu đời, tiêu biểu nhất cho văn hoá truyền thống của người Việt và cũng là nơi đầu tiên trong tổng số 573 di tích lịch sử của Hà Tây được Nhà nước xếp hạng nhằm bảo tồn, tôn tạo, xây dựng và đưa vào khai thác phục vụ chương trình mục tiêu phát triển du lịch - văn hoá. Việc bảo tồn các giá trị cổ trong thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá là điều không đơn giản. Ngoài việc tuyên truyền, nâng cao ý thức gìn giữ, tôn trọng di tích cho người dân, làng cổ Mông Phụ rất cần được sự quan tâm, đầu tư và quảng bá của các ban ngành để nâng cao giá trị cổ của làng.
Hiện nay, ngoài việc đầu tư tiền của để tu bổ, sửa chữa và khôi phục lại các di tích, làng Mông Phụ tích cực vận động bà con vệ sinh thôn xóm, trồng cây xanh, làm sạch đường làng... Mỗi gia đình đều ý thức được giá trị của các di tích lịch sử, văn hoá từ chính ngôi nhà, bức tường đá ong nâu đỏ sần sùi, vững chắc của mình. Bên cạnh việc hỗ trợ cho trùng tu, sửa chữa, người dân còn phát triển các nghề phụ đã có từ lâu đời như làm tương, chè, kẹo đường, thợ xây, thợ mộc…
Cụ Hà Văn Giang, người đang trông nom ngôi đình Mông Phụ cho rằng: “Điều mà chúng tôi cần không chỉ là lời nói, văn bản hay những cách thức bảo tồn mang tính tạm thời mà là một nghiên cứu thực tế để gìn giữ, bảo vệ".
Chính quyền xã đã xây dựng dự án đệ trình UNESCO công nhận Đường Lâm, trong đó có làng Mông Phụ là di sản văn hoá thế giới. Với những nét cổ xưa, Mông Phụ sẽ không lạc lõng trong đời sống kiến trúc hiện đại và trở thành niềm tự hào của mỗi người dân đất Việt.
Minh Đức
Cụ Hà Văn Giang, người đang trông nom ngôi đình Mông Phụ cho rằng: “Điều mà chúng tôi cần không chỉ là lời nói, văn bản hay những cách thức bảo tồn mang tính tạm thời mà là một nghiên cứu thực tế để gìn giữ, bảo vệ".
Chính quyền xã đã xây dựng dự án đệ trình UNESCO công nhận Đường Lâm, trong đó có làng Mông Phụ là di sản văn hoá thế giới. Với những nét cổ xưa, Mông Phụ sẽ không lạc lõng trong đời sống kiến trúc hiện đại và trở thành niềm tự hào của mỗi người dân đất Việt.
Minh Đức
Bình yên cảnh sắc xứ Đoài
Dọc theo những con đê, làng quê xứ Đoài hôm nay vẫn bình dị với những cánh đồng, dòng sông, giếng nước, sân đình, mái chùa… của một vùng Bắc Bộ thanh bình và trù phú.
Xứ Đoài (Hà Tây cũ) đất vốn rộng, có đến hàng nghìn làng tập trung ở ven bờ các dòng sông lớn như sông Tích, sông Đà, sông Hồng, sông Đáy, sông Nhuệ. Ngoài nghề trồng lúa nước, dân xứ này cũng làm nhiều nghề thủ công, đặc biệt là trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa. Đây là đất của dân Tứ chiếng (chỉ bốn trấn quanh thành Thăng Long thời xưa), văn hiến chỉ thua kém Kẻ Chợ (người kinh thành) đôi chút.
Nay, kinh tế đã phát triển, vùng đất vốn được coi là cửa ngõ thủ đô đã trở thành một phần của Hà Nội, nhưng dọc theo con đê Phùng, đập Đáy, sông Tích hay bất cứ làng quê xứ Đoài nào, người ta vẫn bắt gặp những cánh đồng, dòng sông, giếng nước, sân đình, mái chùa… của một vùng quê Bắc Bộ thanh bình và trù phú. Hồn quê hàng nghìn năm dường như vẫn còn nguyên vẹn ở xứ Đoài.
Đất Việt giới thiệu một số hình ảnh về xứ Đoài hôm nay:
| Sông Tích bên lở bên bồi bao nhiêu năm vẫn giữ được chất nước trong, sạch. |
| Lác đác những lò gạch ven sông, cung cấp vật liệu xây dựng cho người dân địa phương. |
| Cây cầu sắt vốn nối nhiều ngôi làng "trong sông" Tích với chợ Săn (Thạch Thất) giờ "thảnh thơi" hơn bởi chợ đã chuyển sang vị trí khác... |
| .. nhưng vẫn giữ được dáng dấp thân thương một thời. |
| Tre xanh vẫn bao bọc làng quê, thôn xóm. |
| Bến sông vẫn là nơi chị em giặt giũ; thanh niên nam nữ hẹn hò. |
| Những ngôi đình cổ kính, trầm mặc ngày càng được quan tâm tu bổ, gìn giữ bằng ngân sách địa phương và sự đóng góp của người dân. |
| Những người già vẫn giữ thói quen một thủa, quét lá đa về nhóm lửa, thổi cơm dù trong nhà con cái đã trang bị bếp ga. |
| Những ngôi chợ phiên ngày không họp bình lặng trong buổi chiều tà. |
Vân Nhi - Nguyễn Bình
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)