Thứ Sáu, 25 tháng 2, 2011

Ruộng bậc thang mùa nước đổ

Tháng 5, tháng 6 hằng năm là thời điểm xuất hiện những cảnh đẹp nhất trên cánh đồng ruộng bậc thang lượn quanh những ngọn núi cao ở Mường Hum, Dền Sáng, Sảng Ma Sáo, Y Tý thuộc huyện Bát Xát (tỉnh Lào Cai).


Phải chờ nước mưa đổ xuống (thường gọi là mùa nước đổ), đồng bào ở Bát Xát cũng như ở một số tỉnh Tây Bắc mới bước vào vụ gieo cấy lúa.


Ruộng bậc thang ở Bát Xát (Lào Cai) có từ hàng trăm năm nay và do những đôi tay cần mẫn của người Dao, Mông, Hà Nhì, … đời này nối tiếp đời kia tạo ra. Có thể nói rằng, đây là một kiệt tác mà con người dựa vào thiên nhiên để kiến tạo.


Những cánh đồng bậc thang không chỉ đẹp mà còn là “bồ thóc” của đồng bào các dân tộc miền núi. Đây là phương thức canh tác nông nghiệp hiệu quả, mang lại cuộc sống no ấm cho đồng bào các dân tộc, đồng thời góp phần tạo ra sản phẩm du lịch độc đáo ở vùng núi phía Bắc Lào Cai từ nhiều năm nay.










(Theo VOV)

Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật- Danh nhân Thăng Long kiệt xuất

Trong hàng ngũ tướng lĩnh kiệt xuất của vương triều Trần góp phần tạo nên các chiến công lừng lẫy trong lịch sử dân tộc, Thượng tướng Trần Nhật Duật (1255-1330) được biết đến như một vị danh tướng độc đáo và đặc sắc bậc nhất.
 Người thời ấy thường gọi ông là Đức ông Hoàng Sáu (ông là con thứ sáu của vua Trần Thái Tông) với sự kính trọng không những về tài năng quân sự mà còn cả về khả năng am hiểu sâu sắc các thứ tiếng nước ngoài, phong tục, tập tục các vùng đất không riêng ở Đại Việt.
Sinh thời, thánh tướng Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, một tài năng quân sự kiệt xuất của Việt Nam và thế giới rất yêu mến và tín nhiệm Trần Nhật Duật. Trong các mặt trận then chốt và những trận đánh quyết định, Trần Quốc Tuấn bao giờ cũng giao trọng trách cho Trần Nhật Duật.



Ảnh minh họa trận Hàm Tử Quan (Nguồn Internet)

Chính sử chỉ chép kỹ biệt tài quân sự của ông trong chiến thắng Hàm Tử Quan (tháng 5/1285) nhưng trên thực tế tài cầm quân của ông đã sớm được thể hiện từ trước đó, đặc biệt là tư duy quân sự mang tính chiến lược sâu sắc, phi thường phục vụ hết sức có hiệu quả trong các lần chiến thắng quân Nguyên - Mông.
Trần Nhật Duật được phong tước Chiêu Văn Vương năm 12 tuổi, một trong những tước vương trẻ nhất của vương triều Trần. Ông khí chất rộng lượng, tính tình phóng khoáng, rất ham học hỏi, tinh thông cầm kỳ thi họa và đặc biệt giỏi giao tiếp, am hiểu ngôn ngữ và trao đổi được với rất nhiều các dân tộc khác. Triều đình khi có những việc liên quan đến bang giao thường triệu ông về triều khu xử công việc.
Nhãn quan quân sự của Thượng tướng Trần Nhật Duật rất uyên thâm. Trong các lần kháng chiến chống quân Nguyên - Mông thứ hai và thứ ba ông đều có công lớn. Là vị danh tướng được nhân dân, đặc biệt là các tù trưởng vùng Tây Bắc yêu kính và ngưỡng mộ nên ông thường xuyên được giao nhiệm vụ tác chiến với quân Nguyên - Mông ở địa bàn quen thuộc Tây Bắc.
Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông lần thứ hai, cũng là lần ác liệt nhất, Trần Nhật Duật được Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn - vị thống soái tối cao điều lên mặt trận Tây Bắc, và ông đã không phụ lòng tin của triều đình và Quốc công Tiết chế.
Gánh trọng trách trấn nhậm vùng Tây Bắc, Trần Nhật Duật hiểu được rồi đây cuộc chiến sẽ hết sức khốc liệt. Nhưng việc quan trọng có tính quyết định là phải bảo toàn được lực lượng, nâng cao ý chí đánh giặc của tướng lĩnh, nuôi dưỡng lòng dân không khiếp sợ để tạo cơ hội phản công sau này. Các tướng lĩnh kiệt xuất triều Trần thời ấy tuy tác chiến độc lập và không thể có thông tin nhanh như thời hiện đại nhưng dường như họ có thuật tâm truyền và thực thi các ý đồ đã định hết sức chính xác. Chính điều này đã góp phần tạo nên những võ công của dân tộc Đại Việt. Trong tác chiến với cánh quân của địch tràn vào hướng Tây Bắc, Trần Nhật Duật đã bảo toàn được lực lượng, từng bước lui binh chiến thuật về Bạch Hạc (Việt Trì ngày nay), làm lễ tuyên thệ nâng cao sĩ khí, nắm vững ý đồ tác chiến toàn cục và đặc biệt là luôn tin tưởng vào sự tất thắng của đội quân chính nghĩa.
Sau một thời gian tránh thế mạnh của địch, dùng kế "vườn không nhà trống" ở kinh thành Thăng Long và các vùng lân cận khiến quân Nguyên bị thiếu lương thảo, quân Trần bắt đầu phản công. Trần Nhật Duật cầm quân chỉ huy trận đánh ở cửa Hàm Tử.
Cuối tháng 4 năm 1285, ông lập chiến công vang dội ở trận Hàm Tử. Giặc bị thiệt hại nặng, bỏ chạy tan tác. Theo sách Đại Việt Sử Ký toàn thư "Công đánh giặc Nguyên, Nhật Duật lập được nhiều hơn cả".
Chiến thắng Hàm Tử Quan là một trong những trận đánh nổi tiếng trong cuộc kháng chiến chống quân Mông Nguyên và trong cả lịch sử Việt Nam.
Trần Nhật Duật có trên năm mươi năm làm tướng và giữ những trọng trách của triều đình liên tiếp năm triều vua: Trần Thánh Tông; Trần Nhân Tông; Trần Anh Tông; Trần Minh Tông; Trần Hiến Tông, lập nhiều công lao to lớn. Bản thân ông là một tấm gương sáng về tài trị quốc và đánh giặc, một nền tảng quan trọng về nghệ thuật quân sự Việt Nam, một người hiền có nhiều công trạng trong gây dựng, phát triển các sắc màu văn hóa Đại Việt về văn học, âm nhạc, ngôn ngữ. Nhiều thành tựu về âm nhạc, múa hát dân tộc đến hôm nay vẫn còn mang dấu ấn sáng tác của ông. Năm 1302, ông được phong Quốc công Thái úy. Năm 1324, được phong Tá thánh Thái sư. Ông mất năm 1330, thọ 76 tuổi.
Tên tuổi và sự nghiệp của ông gắn liền với giai đoạn vinh quang nhất của nhà Trần. Tài năng, đức độ, sự nghiêm minh ngay thẳng của ông cũng như các tướng văn, võ trong thân tộc nhà Trần cùng thế hệ với ông (Trần Quốc Tuấn, Trần Quang Khải.) góp phần không nhỏ vào sự tồn tại và hưng thịnh của nước Đại Việt thời nhà Trần.

( Theo antgct.cand)

Phố cổ Hàng Ngang và ngôi nhà số 48 lịch sử

Phố Hàng Ngang dài 152m, nối liền phố Hàng Đào với phố Hàng Đường, là phố giao thông một chiều và là phố đi bộ vào buổi tối các ngày thứ sáu, thứ bảy và chủ nhật hàng tuần.
Phố Hàng Ngang xưa thuộc phường Diên Hưng, tổng Tiền Túc, huyện Thọ Xương, thành Thăng Long, nay thuộc quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Vào thế kỷ 18, phố có tên gọi phố Hàng Lam - phố chuyên bán đồ tơ lụa màu xanh lam, dành cho các quan tứ phẩm Triều đình sử dụng.

Thế kỷ 19, tên phố đổi thành phố Việt Đông do phố có nhiều người Hoa kiều Quảng Đông sinh sống. Khu phố Hoa kiều buôn bán sầm uất, giàu có, hai đầu phố làm hai cánh cổng để buổi tối đóng lại, và đây có thể là một nguồn gốc của tên gọi phố Hàng Ngang.



Phố Hàng Ngang đầu thế kỷ 20

Như vậy, có thể nhận thấy phố Hàng Ngang đã được đặt tên dựa vào sự biến đổi của tình hình lúc bấy giờ chứ không còn mang tên như cách đặt của những con phố khác trong khu phố cổ Hà Nội nữa.

Thời Pháp thuộc, phố có tên là “Rue des Cantonnais” (phố người Quảng Đông), có đường tàu điện bánh sắt chạy dọc theo phố. Nhân dân vẫn quen gọi đó là phố Hàng Ngang cho đến ngày nay.

Phố Hàng Ngang có nhiều bộ phận dân cư sinh sống như người Việt Nam, người Hoa và người Việt gốc Hoa ( người Minh Hương). Vào Triều đại phong kiến Việt Nam thời Hậu Lê và thời Nguyễn định ra luật cư trú cho người ngoại quốc rất nghiêm.

Theo lệ cũ, người Hoa được tổ chức thành "bang", tập trung vào mấy nơi ở Hà Nội là phố Việt Đông (Hàng Ngang) và phố Hà Khẩu (Hàng Buồm), hết thời hạn phải về Trung Quốc, nếu tình nguyện ở lại phải thay đổi y phục, phong tục theo người Việt Nam và được gọi là người Minh Hương.

Người Minh Hương ở phố Hàng Ngang có rất nhiều họ lớn, trong đó có họ Phan, anh em họ hàng đều là chủ hiệu tơ lụa lớn, như Phan Vạn Thanh, Phan Dụ Thành, Phan Đức Thành. Họ buôn bán tơ lụa, có người là tư sản mại bản của nhiều công ty nhập khẩu vải sợi của Pháp nên càng có vị trí trong ngành buôn bán tơ lụa.

Ngoài họ Phan, ở phố Hàng Ngang còn có nhiều người Việt Nam giàu có khác như Trịnh Phúc Lợi, Lợi Quyền cũng buôn bán tơ lụa. Hàng tơ lụa bán ở phố này đều thuộc loại cao cấp như gấm vóc, đoạn, nhiễu, sa tanh...

Phố Hàng Ngang còn nổi tiếng có mấy hiệu chè Tàu: Sinh Thái, Chính Thái, Ninh Thái, Song Hỷ. Vào phố này, người ta còn thấy những cửa hiệu cao đơn hoàn tán, họ làm đại lý cho các hãng thuốc Đông Y sản xuất ở Hương Cảng, Thượng Hải, Singapore, Chợ Lớn. Ngoài ra, phố Hàng Ngang có mấy cửa hiệu tạp hoá, vàng bạc, vẽ truyền thần.

Ngày nay, Hàng Ngang là nơi tập trung những cửa hàng quần áo đủ kiểu, từ quần bò, complê, veston, blouse, y phục mùa đông, mùa hè, mùa thu... cũng có những gian hàng buôn bán đồng hồ, nữ trang, kim hoàn xen kẽ.

Chẳng thế mà các du khách nước ngoài khi thăm Hà Nội thích đáp xích lô ra bờ hồ Hoàn Kiếm, qua phố Đinh Tiên Hoàng, Hàng Đào, Hàng Ngang rồi mới rẽ sang các phố cổ khác của Hà Nội.

Phố Hàng Ngang có một ngôi nhà được xếp hạng di tích lịch sử- văn hóa, đó là ngôi nhà số 48, nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đến ở và làm việc trong những ngày sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 và viết bản “Tuyên ngôn Độc Lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Về Di tích lịch sử văn hóa - nhà số 48 phố Hàng Ngang
Nhà số 48 phố Hàng Ngang là nơi Bác Hồ viết “Tuyên ngôn độc lập” năm 1945 và đã được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là Di tích Lịch sử Văn hóa theo Quyết định số 54VH/QĐ ngày 29/4/1979.





Nhà số 48 phố Hàng Ngang


Trước cửa nhà hiện có gắn một tấm bảng đá nổi bật với dòng chữ vàng: “Trong ngôi nhà này, tại một phòng gác nhỏ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”.

Chủ ngôi nhà ông bà Trịnh Phúc Lợi. Đến những năm đầu thế kỷ XX, ông bà Lợi đã trao cho vợ chồng người con lớn là Trịnh Văn Bô quản lý. Gia đình ông bà Trịnh Văn Bô là một gia đình yêu nước, được giác ngộ cách mạng và là một trong những cơ sở cách mạng tại nội thành.

Ngôi nhà đã được ông bà Trịnh Văn Bô sửa sang, tôn tạo theo lối kiến trúc hiện đại thời thuộc Pháp. Nhà có 4 tầng, tầng dưới làm cửa hàng bán tơ lụa, tầng 2 và 3 có nhiều phòng dùng làm phòng tiếp khách, phòng ăn, phòng ngủ, tầng 4, ngoài phòng dùng làm kho chứa hàng, còn có một sân thượng phơi phóng.
Ngôi nhà chạy dài, sâu hun hút theo kiểu “nhà ống” cổ truyền, mặt trước là cửa hàng, mặt sau quay ra 35 phố Hàng Cân, là sân, bếp núc, khu phụ.

Nằm lọt giữa khu buôn bán sầm uất, khách hàng ra vào nhiều, nên ngôi nhà đã sớm được chọn làm nơi ở và làm việc của Bác và các đồng chí trong Thường vụ Trung ương Đảng trong những ngày đầu Cách mạng tháng 8/1945.

Ngày 19/8/1945, cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ở Hà Nội thắng lợi rực rỡ. Sáng 20/8/1945, Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời Hà Nội ra mắt đồng bào Thủ đô.
Trong chuỗi sự kiện lịch sử trọng đại đó, ngày 22/8/1945, tại số nhà 48 phố Hàng Ngang,  Tổng Bí thư Trường Chinh  cùng với Thường vụ Trung ương Đảng họp, ra chỉ thị cho các nơi tiếp tục giành chính quyền theo gương Hà Nội và cử ông Lê Đức Thọ lên Tân Trào đón Hồ Chủ tịch về Hà Nội.

Ngày 25/8/1945, Người về đến Thủ đô. Tại tầng 2 của ngôi nhà, phòng ăn của gia đình chủ nhà đã được dùng làm phòng họp của Bác với Thường vụ Trung ương Đảng.
Căn phòng rộng chừng 60m2, chính giữa phòng là một chiếc bàn chữ nhật có kích thước lớn bằng gỗ màu cánh dán sẫm, 8 chiếc ghế tựa mềm bọc nỉ xanh phủ trắng.

Tại đây, ngày 26/8/1945, Hồ Chủ tịch đã chủ trì cuộc họp với Thường vụ Trung ương Đảng bàn việc mở rộng thành phần Chính phủ nhằm đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân, tổ chức yêu nước, quyết định ngày ra mắt Chính phủ lâm thời trước quốc dân Đại hội vào dịp mồng 2/9/1945.

Góc phải phía ngoài của phòng họp còn có một chiếc bàn nhỏ và một chiếc ghế tựa cũng được bọc nỉ phủ vải trắng. Trên bàn là chiếc máy chữ mà Bác Hồ đã dùng từ Chiến khu Việt Bắc, Bác đã dùng chiếc máy chữ này soạn thảo các chỉ thị của Đảng và Tuyên ngôn Độc lập.

Qua hành lang sang phía ngoài là 2 căn phòng, một phòng của Bác,và một phòng tiếp khách. Phòng khách thông với phòng ở và làm việc của Bác và có ban công nhìn ra mặt phố Hàng Ngang. Căn phòng rộng chừng 50m2, có cửa kính, cửa chớp, che rèm lụa trắng, mé trái tường kê một chiếc tủ và một đi văng - nơi các đồng chí bảo vệ thường ngồi quan sát.

Căn phòng nhỏ của Bác diện tích chừng 20m2, đồ đạc rất đơn sơ. Góc trong kê một chiếc bàn tròn, một chiếc ghế bành có tựa cao, bọc vải trắng. Góc bên đặt một chiếc đi văng, một chiếc tủ gỗ màu cánh dán và một chiếc giường vải xếp Bác vẫn nằm nghỉ ngơi.

Chính tại căn phòng nhỏ bé này, Bác Hồ đã khởi thảo bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bản Tuyên ngôn Độc lập đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng tuyên bố với thế giới vào ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, chấm dứt chế độ thực dân và phong kiến ở nước ta, đồng thời mở đầu một Kỷ nguyên mới, Kỷ nguyên nhân dân ta tự nắm lấy vận mệnh của mình để thực hiện Độc lập - Tự do và Hạnh phúc.


(TTXVN/Vietnam+) 

Nguyễn Công Trứ- Người khai sinh hai mảnh đất "Núi vàng, Biển bạc"

Nguyễn Công Trứ (1778-1859) tự là Tồn Chất, hiệu là Ngô Trai, biệt hiệu là Hy Văn, quê ở làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, trấn Nghệ An (nay thuộc huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh), đỗ giải nguyên khoa Kỷ Mão đời vua Gia Long 1819.



Nguyễn Công Trứ
Lúc đầu, ông làm Biên tu ở sử quán rồi lần lượt trải nhiều chức quan khác nhau. Đời làm quan của ông khá lận đận bị cách chức đến 5 lần nhưng ông lại vươn lên và được trọng dụng. Ông là người giỏi việc binh có tài văn học, tài kinh bang tế thế.
Vào tháng 3 năm Mậu Tý đời vua Minh Mạng khi đang là Tả Thị lang bộ hình, Nguyễn Công Trứ đã dâng sớ trình bày nhiều việc trong đó có việc: “Vỡ ruộng hoang cho dân nghèo”. Nguyễn Công Trứ tâu rõ: “Hiện ở Nam Định các huyện Giao Thủy, Chân Định, ruộng bỏ hoang mênh mông bát ngát không biết mấy ngàn mẫu, nếu cấp cho tiền công thì có thể nhóm họp dân nghèo mà khai khẩn. Thêm nữa bãi Tiền Châu hoang rậm, trộm cướp thường tụ họp ở đấy làm sào huyệt, nay cho khai hoang lập làng, không những có thể cho dân nghèo làm ăn, lại còn dứt được đảng ác”. Từ mối lợi đó, Nguyễn Công Trứ đề nghị cụ thể: Những đất hoang có thể khai khẩn được thì cho những người địa phương giàu có chia nhau trông coi cùng làm... Mộ được 50 người thì thành lập một làng cho làm lý trưởng. Mộ 30 người thì lập một ấp cho làm ấp trưởng. Mọi nhà đều được chia đất, cấp tiền công để làm cửa nhà, mua trâu bò nông cụ, lại lượng cấp tiền gạo, lương tháng trong hạn 6 tháng, ngoài hạn ấy thì làm lấy mà ăn. 3 năm thành ruộng chiếu lệ tư điền mà đánh thuế. Quan phủ huyện sở tại lập kho chứa thóc đề phòng năm mất mùa cho dân vay...”.
Tờ sớ của Nguyễn Công Trứ được nhà vua cho các đình thần bàn, cuối cùng nhà vua đã y sớ, giao cho Nguyễn Công Trứ chức Dinh điền sứ để tổ chức việc khai hoang. Có lệnh vua, Nguyễn Công Trứ đến vùng biển Nam Định chiêu tập dân nghèo và dân lưu vong các nơi, chỉ 6 tháng sau đã có 2.350 người đến lập nghiệp khai khẩn được 18.970 mẫu, thành lập 14 làng, 27 ấp, 20 trại (làng có diện tích 600 mẫu, ấp là 400 mẫu, trại 200 mẫu, giáp 120 mẫu). Tháng 9 năm Minh Mạng thứ 9 (1828) triều đình cho đặt tên là huyện Tiền Hải thuộc phủ Kiến Xương, trấn Nam Định (nay huyện Tiền Hải thuộc tỉnh Thái Bình).

Lập xong huyện Tiền Hải, Nguyễn Công Trứ lại dâng sớ lên nhà vua xin được khai khẩn ở đất Yên Khánh, Yên Mô (Ninh Bình). Triều đình đã chấp nhận và giao việc này cho Nguyễn Công Trứ. Sau thời gian độ nửa năm, với tài tổ chức của ông, vùng đất hoang hóa ven biển Ninh Bình đã được mở với 14.620 mẫu cấp cho 1.260 người lập được 3 làng, 22 ấp, 24 trại và 4 giáp chia làm 5 tổng. Tháng 3-1829 triều đình đã cho vùng đất khai hoang thành lập huyện mới lấy tên là huyện Kim Sơn (Ninh Bình).
Ngày nay, sử sách còn mãi khắc ghi công lao to lớn của Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ, trong việc khai phá bãi biển lập nên 2 huyện Tiền Hải và Kim Sơn, cùng với cách bố trí hệ thống thủy lợi rất khoa học, cách bố trí dân cư rất hợp lý. Dân ở 2 huyện trên đều đã lập đền thờ Nguyễn Công Trứ để hàng năm hương khói tri ân người đã khai sinh ra mảnh đất “Núi vàng, biển bạc” ở đồng bằng Bắc bộ.
 (Theo Cuocsongviet)

Đến với cửa ngõ miền Tây Bắc Tổ quốc

Cách không xa trung tâm Thủ đô Hà Nội, Hoà Bình là một tỉnh lỵ nằm ở cửa ngõ lên miền Tây Bắc Tổ quốc. Với diện tích tự nhiên hơn 4.600km2, phía Bắc giáp Phú Thọ, phía Nam giáp Thanh Hoá, Ninh Bình, phía Đông giáp thành phố Hà Nội, Hà Nam và phía Tây giáp Sơn La, vị trí địa lý đã tạo điều kiện thuận lợi cho tỉnh Hoà Bình giao lưu thương mại, phát triển kinh tế-xã hội.
Trên bản đồ du lịch Việt Nam, Hòa Bình được đánh giá là một trong những điểm du lịch giàu tiềm năng. Cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, kỳ thú cùng bề dày lịch sử văn hoá phong phú và đa dạng đã cuốn hút du khách bốn phương. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có quần thể 177 di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh. Những cái tên địa danh như Động Thác Bờ, Động Cô Tiên, suối nước khoáng Kim Bôi, rừng nguyên sinh Pù Hooc, bản Lác - Mai Châu, vùng lòng hồ sông Đà mênh mang sóng nước được ví như “Hạ Long trên núi”, công trình “thế kỷ”- Nhà máy thuỷ điện Hoà Bình… đã để lại ấn tượng sâu đậm cho những ai từng một lần ghé thăm.



Mênh mang vùng lòng hồ sông Đà 

Vùng đất giàu bản sắc văn hoá
Miền đất sinh sống của người Việt cổ cách đây hàng vạn năm này là cái nôi của nền Văn hoá Hoà Bình nổi tiếng thế giới, nơi cú trú của cộng đồng các dân tộc Mường, Thái, H’Mông, Kinh, Tày, Dao…

Dân tộc Mường chiếm một tỉ lệ khá lớn trong cộng đồng các dân tộc tại đây với bốn mường nổi tiếng là Mường Bi, Mường Vang, Mường Thàng và Mường Động. Người Mường Hoà Bình thường ở nhà sàn, theo truyền thuyết dân gian gọi là nhà rùa: có 4 mái 3 tầng mô phỏng theo quan niệm vũ trụ dân gian Mường có 3 tầng 4 thế giới. Định canh, định cư lâu dài trên những triền đồi, thung lũng cạnh sông suối, bên nương lúa, nương ngô, những bản làng Mường thanh bình, thơ mộng với chiếc cối giã gạo, guồng quay nước hiền hoà chính là nơi lưu giữ bảo tồn giá trị truyền thống văn hoá đặc sắc được lưu truyền từ đời này sang đời khác, nơi âm vang tiếng cồng chiêng ngày hội và sử thi huyền thoại “Đẻ đất đẻ nước”.



Dàn cồng chiêng của người Mường 

Cách thành phố Hòa Bình không xa, bản Giang Mỗ thuộc huyện Cao Phong được đánh giá là khu bảo tồn sống của văn hóa Mường Hòa Bình với nhiều nét nguyên sơ trọn vẹn, vừa chân thật, giản dị, vừa sống động và tinh tế như chính tâm hồn con người đang sinh sống trên mảnh đất này. Những căn nhà sàn cổ có tuổi đời hơn trăm năm với hàng cột gỗ vững chãi, trên vách nhà treo những nhạc cụ như đàn nhị, sáo, cồng chiêng hay đầu thú, nhiều món đồ đã cũ kĩ nhưng vẫn được gia chủ giữ gìn rất cẩn thận và gian bếp đỏ lửa, luôn nồng ấm đón chào khách quí tới chơi.

Đan xen văn hóa Mường, tiêu biểu là văn hóa Thái, tập trung ở thung lũng Mai Châu.  Từ Hà Nội, men theo quốc lộ 6, qua dốc Cun quanh co, hiểm trở, đi tiếp đèo Thung Nhuối, một bên là núi đá cao, một bên là vực sâu, Mai Châu xinh đẹp và bình yên đã hiện ra trước mắt. Cả một thung lũng trải dài màu xanh của ruộng lúa, nương ngô, thấp thoáng những nếp nhà sàn xinh xắn. Đó là bản Lác có lịch sử đã mấy trăm năm, nơi sinh sống của người dân tộc Thái với 5 dòng họ Hà, Lò, Vì, Mác, Lộc.

Người Thái Mai Châu đến nay vẫn bảo tồn được sắc thái dân tộc mình qua những lễ hội cơm mới, ném còn, múa quạt, xòe Thái, trong tổ chức cư trú, nghề nghiệp cổ truyền. Người phụ nữ Thái mặc áo váy trang trí những hoa văn mang biểu tượng thiên nhiên đa dạng: chim muông, cây cỏ, mặt trời. Đai thắt lưng và khăn Piêu là những tác phẩm nghệ thuật hoàn hảo. Từ những sợi tơ mỏng manh, người phụ nữ Thái ở bản Lác đã khéo léo dệt nên những chiếc khăn, chiếc áo thổ cẩm để mặc, tấm vải treo tường có trang trí, dây đeo tay và những chiếc ví xinh xắn với nhiều họa tiết hoa văn độc đáo để bán cho du khách. Những đàn ông Thái cần cù và chịu khó chế tác nhiều cung, nỏ, mõ trâu, chiêng, tù và sừng trâu, phách gỗ nhịp tre. Vào các dịp lễ, tết, người Thái thường xum vầy bên đống lửa, cùng nhau vào hội xoè hoa. Lời ca, điệu múa của người Thái mang đậm hơi thở của cuộc sống, chứa đựng ước vọng bình yên, cầu mong mùa màng tươi tốt, người người vui vẻ, gia đình ấm no.



Người phụ nữ Thái thạo nghề canh cửi 

Rời bỏ cuộc sống du canh du cư trên triền núi đá, người H’Mông Hòa Bình về định cư ở hai xã miền núi Hang Kia, Pà Cò (Mai Châu). Cũng như những dân tộc thiểu số khác, người H’Mông lưu giữ nhiều nét văn hóa đặc sắc. Với họ, chiếc khèn, chiếc sáo là người bạn tâm tình, hiện hữu trong nếp sống và phong tục tập quán. Những điệu múa khèn thể hiện tâm hồn phóng khoáng, lạc quan yêu đời của  những người con H’Mông dũng mãnh trong không gian núi rừng trùng điệp. “Bắt vợ” là một tục lệ thú vị mà người  H’Mông vẫn còn lưu giữ đến ngày nay.

Người Dao ở Hòa Bình tùy thuộc vào địa bàn cư trú ở vùng địa hình núi cao, trung bình và thấp mà phát triển trồng trọt và chăn nuôi. Khi một đứa trẻ ra đời, mọi người thường tổ chức lễ “Dâng hương cúng Mạ” để cầu mong cho cháu bé được lớn lên trong sự đùm bọc yêu thương. “Tết Nhảy” là một nét độc đáo của người Dao Quần Chẹt, một sinh hoạt tín ngưỡng nhưng lại mang đậm tính lễ hội. Tết tổ chức ở một vài nhà nhưng được bản coi như tết chung. Tất cả mọi người đều ăn uống, nhảy múa vui vẻ trong 3 ngày liền. Du khách nếu có dịp đến đúng vào “Tết Nhảy” thì khó mà từ chối một lời mời nhiệt tình của gia chủ, bởi họ là những chủ nhà thảo ăn và mến khách: Bạn chỉ được ra về khi đã ăn uống no say.

Có một cộng đồng dân cư khá đặc biệt ở Hoà Bình, đó là những kiều bào yêu nước từ Lào và Thái Lan trở về Việt Nam những năm 60 của thế kỷ trước theo lời kêu gọi của Bác Hồ. Từ những kiều bào sống chủ yếu bằng nghề đánh bắt cá dọc bờ sông Đà, đến nay họ đã có cuộc sống sung túc, cùng nhau tập hợp trong “Hội thân nhân Việt kiều Lào- Thái” với hơn 300 hội viên, có tính cộng đồng cao, lưu giữ phong tục tập quán của người Lào-Thái, mảnh đất nơi họ được sinh ra. Ngày lễ tết, cả cộng đồng cùng nhau hội họp ca hát, múa lăm vông, cùng chia sẻ những vui buồn trong cuộc sống cũng như thể hiện tinh thần tương thân tương ái, sẻ chia với đồng bào trong nước những lúc thiên tai khó khăn. Họ chính là cầu nối những kiều bào Việt đang sinh sống tại Lào và Thái Lan với Tổ quốc Việt Nam, giúp những người con xa quê cảm nhận được hơi ấm và tình cảm của quê hương, trở về chung tay xây dựng đất nước

Những lễ hội Xuân ở Hoà Bình
Phần lớn các lễ hội ở Hoà Bình đều diễn ra vào mùa Xuân, mùa cây cối đâm chồi, nảy lộc, vạn vật sinh sôi nảy nở. Những lễ hội ở Hoà Bình không lớn, nhưng đặc sắc và rất nhân văn.

Với người Mường ở Hoà Bình, Xuân về là dịp để mọi người bày tỏ tấm lòng thành kính biết ơn tổ tiên, Thành Hoàng, Đức Thánh Tản Viên. Việc đầu tiên mà các cụ già trong bản nhắc con cháu phải làm trước Tết là ra đền thờ Thành Hoàng dọn dẹp, lau rửa đồ thờ cúng. Giáp Tết, nhà nào cũng tất bật  đóng oản, trang trí nhà cửa, làm bánh chưng, bánh dày. Tết của người Mường bắt đầu từ ngày 2, 28. Đêm 30, tất cả con cháu sẽ tụ tập ở đền thờ để làm lễ "khai sáng". Một thủ tục không thể thiếu trong Đêm Giao Thừa của người Mường là lễ cúng ngoài trời gồm một con cá diếc và một cái bánh chay. Sáng ra, lễ này được mang cho con trâu ăn trước, vì họ cũng quan niệm như người Kinh - "Con trâu là đầu cơ nghiệp", cho trâu ăn trước để trâu đi làm.

Với người Mường, “Khuống mùa” ( xuống đồng) là lễ hội lớn nhất, diễn ra vào dịp đầu Xuân, như ở Mường Bi thường tổ chức vào ngày 7 tháng Giêng hàng năm. Mọi người cùng tham gia lễ hội, cầu mong cho mùa màng của năm mới được tốt tươi, no đủ. Đây cũng là dịp để người dân Mường nghỉ ngơi, vui chơi và bày tỏ những ước vọng của mình về một cuộc sống tười đẹp và bình yên. Trong lễ Khuống mùa, mọi người cùng  dự lễ tế thần, tham gia các trò chơi dân gian truyền thống như đánh quay, đánh còn, thi bắn nỏ, chọi gà, chọi cỏ...

Đặc biệt, trong lễ hội mùa Xuân ở Hoà Bình không thể thiếu âm thanh bổng, ngân vang của những phường sắc bùa đi chúc Tết các gia đình. Nghệ thuật hoà tấu cồng chiêng cùng lối hát chúc trong hội sắc bùa là một hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian độc đáo và hấp dẫn của người Mường còn được bảo tồn và phát triển mạnh mẽ đến ngày nay. Những chàng trai, cô gái Mường háo hức chuẩn bị áo, váy đẹp nhất để tham gia hội sắc bùa đầu xuân. Một phường bùa thường có 12 người, tương ứng với một bộ chiêng Mường gồm 12 chiếc; không phân biệt già, trẻ, gái, trai những người tham gia phường bùa là những người có lòng đam mê với văn hoá truyền thống. Tiếng “binh boong, binh boong”  tấu lên bản nhạc xuân rộn rã, mọi người cùng quây quần bên vò rượu cần, thưởng thức những món ăn cổ truyền của dân tộc và cất lời ca tiếng hát, chúc cho một năm mới nhiều may mắn, hạnh phúc, làm ăn thuận lợi.

Cũng diễn ra vào dịp tháng Giêng đầu năm, Lễ hội Đền Bờ là một lễ hội độc đáo- biểu tượng của sự đoàn kết giữa ba dân tộc Kinh-Mường-Dao sống trên đất Hoà Bình. Đầu Xuân, những du khách từ bốn phương trẩy hội Đền Bờ để tưởng niệm, nhớ công ơn của hai người phụ nữ Mường và Dao đã có công giúp Lê Lợi, khi Vua đi dẹp giặc ở Mường Lễ và thưởng ngoạn phong cảnh hữu tình trên sông Đà.


Hội Xuân của bà con dân tộc H'Mông 
Như mọi dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, ngày Tết cổ truyền là dịp người H’Mông thể hiện sâu đậm nhất truyền thống đoàn kết, bản sắc văn hóa và đời sống tâm linh của mình. “Nọttra” theo tiếng H’Mông có nghĩa là vui vẻ, ngày Tết. Khi ngô lúa từ nương rẫy được mang về cất trên gác bếp xong xuôi là lúc đồng bào H’Mông ở Hang Kia, Pà Cò (Mai Châu) chuẩn bị đón “Nọttra”. Tết “Nọttra” của người H’Mông đến sớm, thường diễn ra từ cuối tháng 11, đầu tháng 12 âm lịch và kéo dài hơn nửa tháng.

Theo truyền thống lâu đời, người H’Mông thịt lợn, thịt gà, quét dọn nhà cửa tươm tất từ sáng 30, mục đích là tiễn năm cũ và đón năm mới về với nhiều may mắn. Không khí lễ hội miền sơn cước như rộn rã hơn trong nhịp chày giã bánh dầy ngày giáp Tết. Đó là thứ bánh không thể thiếu trong Tết của người H’Mông. Đêm Giao Thừa, người H’Mông không ngủ, họ cùng nhau đón thời khắc chuyển giao thiêng liêng, mọi người cùng cất lên những âm thanh vang động núi rừng để tiễn biệt năm cũ, đón chào năm mới. Bàn thờ cũ được bóc đi, thay bằng bàn thờ mới là tấm giấy bồi truyền thống làm bằng cây sậy trên rừng. Trời vừa hửng sáng, trong tiếng gà gáy râm ran, nhà nhà mở rộng cửa chào đón buổi sáng đầu tiên của năm. Người  H’Mông kiêng quét nhà những ngày đầu năm và không khí ấm áp luôn ngự trị trong những căn nhà bởi bếp lửa lúc nào cũng bập bùng reo vui.

Từ mồng 1 đến mồng 3 là tết của ông bà, tổ tiên. Những ngày này, mọi người đều nghỉ ngơi, ở nhà chuẩn bị cơm để đón tiếp người thân, bè bạn. Từ mồng 4, mọi hoạt động vui chơi mới bắt đầu với các trò chơi truyền thống mang đậm bản sắc vùng cao như bắn nỏ, ném pao, kéo co, đánh quay, kéo đẩy…

Người già H’Mông bảo: người già đón Tết ba ngày còn thanh niên đón Tết cả tháng bởi đó cũng là mùa tìm hiểu, mùa tình yêu của các chàng trai, cô gái. Trong cái nắng, cái gió vùng núi cao, những nụ đào, nụ mận bắt đầu hé nở, những cô gái H’Mông đôi má ửng hồng, diện bộ váy áo mới họ đã mất cả năm thêu dệt, xúng xính đi chơi Xuân. Những tấm váy áo thổ cẩm diêm dúa, rực rỡ sắc màu thể hiện sự cần cù, khéo léo của người con gái H’Mông. Những chàng trai H’Mông khoe tài ném pao, bắn nỏ. Tiếng khèn lá, tiếng đàn môi dập dìu, da diết, níu chân người nghe "Tối đêm Xuân xem bạn có tình nghĩa không/ Xuân trăng lên khoe có bạn chơi không…".

Người H’Mông nồng hậu và mến khách. Đồng bào thường cho rằng, ngày Tết có ai đến chơi thì cả năm đó gặp may mắn, nên đón tiếp rất chu đáo, mời ăn, uống và ngủ lại nhà. Khi khách ra về, chủ nhà không quên mừng tuổi khách cặp bánh dày để lấy may cùng lời cầu chúc chân thành: “Sáng cò xông xe kháng khàng” nghĩa là “Chúc mừng anh (chị) năm mới mạnh khoẻ”.


Minh Phương (Tổng hợp)

Một ngày ở cù lao Giêng

Với chiều dài 12 km, rộng 7 km, bốn bề sum suê cây trái, cù lao Giêng có nhiều di tích, kiến trúc tôn giáo đặc trưng xây dựng khoảng đầu thế kỷ 19 thu hút du khách khám phá.


Cù lao Giêng nằm trên sông Tiền, giữa Đồng Tháp và An Giang. Theo những cư dân bản địa, nhà thờ tại cù lao này này là ngôi thánh đường đầu tiên của vùng Nam bộ. Đây cũng là cầu nối giữa các cha truyền đạo bên Cao Miên (Campuchia) và Việt Nam và là trạm trung chuyển vật dụng cho sinh hoạt, truyền đạo bằng ghe đò lên miền thượng sang Campuchia. 
Vẻ thâm trầm, cổ kính của nhà thờ Rạch Sâu.
Ngôi thánh đường này được gìn giữ cẩn thận nên còn nguyên vẹn với tháp chuông cao vút, các trụ cột thiết kế liên hoàn kết hợp cùng những ô gió và tháp nhỏ, tạo thành một kiến trúc nguy nga, hoành tráng.
Không xa nhà thờ cù lao Giêng, những căn nhà xưa được xây dựng từ năm 1916, mang lối kiến trúc nhà rường gỗ ba gian hai chái, tường gạch bao tứ diện. Sân nhà là những chậu kiểng cổ mai chiếu thuỷ với dáng thế “tam cang ngũ thường”, một lối kiểng cổ quen thuộc của người Nam bộ.
Song song với những kiến trúc cổ của thánh đường, những ngôi chùa ở cù lao Giêng lại là nơi khách thập phương, tứ xứ tìm đến vãn cảnh, cúng viếng đông đúc mỗi ngày. Nổi nhất là chùa Ông Đạo nằm, còn gọi là chùa Thành Hoa gốc người Đồng Tháp, tu theo Phật giáo sau biến hoá dần, bày ra một hình thức tu luyện khác lạ.
Trường lang chùa Thành Hoa trang trí toàn bằng gốm Biên Hoà.
Bình lặng hơn trong không gian chùa chiền ở cù lao Giêng có chùa Phước Minh, dân trong vùng hay gọi chùa Bà Vú. Ở ngôi chùa này, nổi bật giữa một màu xanh cây trái là ngọn tháp cửu trùng (chín tầng) và chiếc cổng tam quan nằm dọc giữa con đường nhỏ vào chùa. Đây cũng là một điểm nhấn thú vị với nhiều du khách.
Trong số những di tích kỳ lạ ở cù lao Giêng, có một khu mộ độc đáo gồm ba phần mộ liền kề với lối xây dựng lạ mắt và độc đáo. Đó là phần mộ của “ba quan thượng đẳng”, ba anh em người cù lao Giêng, được mời ra kinh thành Huế phong chức vụ theo đường binh nghiệp, rất có công với triều đình nhà Nguyễn, sau đó hy sinh ngoài chiến trận và được vua Gia Long phong chức Ngọc Hầu.
 Chùa Phước Minh với tháp chín tầng và cổng tam quan nằm dọc theo đường đi.
Mộ phần ba quan bố trí không đồng nhất nhau, một mang hình con mực, đầu lượn ra phía cửa, một hình cá chép nằm ngược đang trở đầu uốn theo con mực, và một hình con rùa cũng xoay theo con cá  chép.
Câu chuyện về mộ phần với những sinh vật biển được bố cục kỳ lạ. Ba con vật đọc theo Mặc - Lý - Quy (Mặc đọc theo âm Hán nghĩa là cá mực, là sự im lặng), tức là “về trong im lặng”. Bởi vậy, tuy là võ tướng của triều đình, có công lớn, nhưng phần mộ của ba vị tướng nhỏ nhoi, nằm lặng lẽ giữa đồng, nay do người cháu trông coi và nắm giữ nhiều câu chuyện thú vị về ba vị quan cũng như ý nghĩa của lăng mộ kỳ lạ này.
Đi khắp xứ cù lao Giêng chỉ vỏn vẹn trong ngày, đói bụng ghé chùa làm bữa cơm chay, nghe những câu chuyện do những người địa phương lưu truyền lại quanh những địa danh, di tích, thực là một ngày vui đáng nhớ. 
Theo Tiếp Thị Sài Gòn

Độc đáo giếng cổ xứ Đoài

Giếng làng trở thành biểu tượng thiêng liêng trong tâm thức cộng đồng người Việt Bắc bộ. Vì vậy, ở xứ Đoài, người làng thường xây trên bờ một bệ thờ lộ thiên hoặc ngôi miếu nhỏ để tỏ lòng thành kính. 




Xứ Đoài (Hà Tây cũ nay thuộc Hà Nội) là nơi còn lưu nhiều giếng cổ. Đặc biệt, vùng trung du, nay là các huyện Ba Vì, Thạch Thất, thành phố Sơn Tây… còn nhiều giếng xây bằng đá ong, đất, qua bao nhiêu biến cố thời gian, nước còn trong và mát.
Người xưa đào sâu xuống lòng đất, đúng mạch, nước dâng lên vừa trong vừa mát. Loại đá nơi đây đào đến đâu, cứng đến đó nên không phải kè thành. Giếng thường rộng 3 - 5 m, sâu trên 10 m, miệng đặt những tảng đá ong nguyên khối hoặc từng tảng ghép lại vừa bền chắc mà sạch sẽ. 


Giếng đá ong thường đặt ở đầu làng, giữa xóm, hai bên đình, chùa theo quan niệm là đôi mắt rồng thiêng, nước nguồn không bao giờ cạn. Đình Mông Phụ, làng cổ Đường Lâm vẫn còn nguyên hai chiếc. Làng Đông Sàng đặt giếng ở khuôn viên văn chỉ, tôn thêm vẻ đẹp và khơi nguồn trí tuệ Nho học. Ở làng Cam Lâm, phía trước khu lăng mộ Ngô Quyền lại có một chiếc ở dưới chân đồi. Nước giếng vùng này thường mát về mùa hè, ấm về mùa đông, nên có câu“Nước giếng hè - chè Cam Lâm”.
GIếng đá ong xóm Miễu, làng Mông Phụ, Đường Lâm, Sơn Tây.
Khu vực Phủ Quốc (Quốc Oai), gần núi đá vôi, nhân dân khi đào giếng lấy đá hộc xếp quanh từ dưới đáy lên mặt. Phía trên gắn bằng vôi, xi măng tạo thành các hình tròn, vuông, bán nguyệt rất đẹp mắt. Xung quanh núi Thày (Sài Sơn) hiện còn những giếng cổ ở xóm Tân Hương, Chùa, Đình… nước trong, mát quanh năm. Nơi đây có loại lớn trên 10 m, đo qua miệng giếng. Loại nhỏ hơn từ 3 m đến 5 m, hiện vẫn sử dụng tốt. Nhiều chiếc ở phía dưới kè đá, trên xây gạch, lát sân giếng, tường bao quanh, tạo cảnh quan sạch đẹp cho xóm làng.
Vùng đồng bằng như các huyện: Đan Phượng, Hoài Đức, Phúc Thọ… phần nhiều là giếng đất, đào đắp trước cửa đình, chùa, đền, miếu… làm minh đường cho di tích, theo thuyết phong thuỷ của đạo nho. Giếng này thường to, rộng hơn các giếng khơi, trung bình khoảng 20 - 30 m bề ngang. Xung quanh giếng xây tường bảo vệ, có lối đi xuống bằng gạch hoặc đá ong, trên bờ trồng cây đa cổ thụ, cây gạo hoặc cây muỗm xum xuê cành lá.
Giếng làng trở thành biểu tượng thiêng liêng trong tâm thức cộng đồng. Trên bờ, người làng thường xây một bệ thờ lộ thiên hoặc miếu nhỏ để tỏ lòng thành kính.  


Làng Thượng Hội, xã Tân Hội, huyện Đan Phượng còn nguyên ba giếng cổ ở đầu, giữa và cuối làng. Chiếc ở đầu làng hình vuông, tượng trưng cho đất mẹ, chứa muôn ngàn tia sữa, nuôi dưỡng con người và soi bóng ngôi chùa cổ kính. Giữa làng, giếng xây tròn vành vạnh, dân thôn coi đó là hình mặt trời để ngày ngày luôn có ánh dương toả chiếu, hoà khí của âm dương cho con người hạnh phúc. Ở cuối làng là chiếc có hình bầu dục, như một tấm gương lớn khúc xạ ánh mặt trời, phản chiếu điều lành soi sáng cho cả làng. Giếng được xây gạch cẩn thận, có bậc lên xuống để gánh nước, tường xây gạch bao quanh, bệ thờ thần giếng vững chắc.
Huyện Hoài Đức có vùng quê xưa là Kẻ Giá, nay là xã Yên Sở, còn gọi làng Dừa, từ xưa có câu: “Đình không xà, làng bảy mươi ba cái giếng”. Hiện, xã chỉ còn trên 20 cái giếng cổ. Mỗi cái có một phiến gỗ lim dày, to lát đáy, xung quanh xếp đá quây tròn, không có hồ vữa mà vẫn chắc chắn. Giếng sâu độ 4 - 5 m, phía trên xây gạch vòng quanh. Cạnh đó có miếu thờ thần linh. Vào ngày mồng một, rằm hàng tháng, người dân mang lễ vật dâng cúng, cầu may.
Quán Linh Tiên ở Cao Xá (Hoài Đức) được tu tạo từ đời nhà Mạc (1584) tiêu biểu cho một quán Đạo giáo. Trên thượng điện là tượng Tam Thanh gồm: Thái Thanh, Thượng Thanh, Ngọc Thanh; phía dưới là các tượng Cửu Thiên, Huyền Mẫu và Trấn Vũ Thánh… Đặc biệt là trong hậu cung của quán còn một hố giếng sâu, tục truyền là huyệt đan sa, vốn là lò luyện đan trường sinh bất tử của các đạo sĩ. Đến nay, nước giếng vẫn tinh khiết, dùng cúng lễ và ban lộc cho các tín đồ.
Nước giếng cổ từ xưa được đề cao: “Cơm ăn mỗi bữa một trâu/Không bằng tắm nước ao Chầu Liều Viên/Cơm ăn mỗi bữa mỗi gà/Không bằng tắm nước Đường Hoa kẻ Ngườm”
Ngày nay, đời sống vật chất và tinh thần ngày càng nâng cao. Từ giếng đất, giếng khơi rồi thay thế bằng giếng khoan, nước máy… Từ thành thị đến nông thôn các nguồn nước sạch phong phú, tràn trề. Tuy nhiên các giếng cổ vẫn tồn tại ở các vùng từ bán sơn địa đến đồng bằng. Số lượng các giếng cổ có ít đi nhưng giá trị của nó vẫn rất quý. Nước giếng cổ trong, sạch, mát vào mùa hè, ấm vào mùa đông. Giá trị tâm linh của giếng gắn bó tình cảm con người với tạo hoá. Có giếng cổ, cảnh quan môi trường càng đẹp, kỷ niệm tuổi ấu thơ bên giếng làng dễ mấy ai quên. Các di tích lịch sử - văn hoá có hình ảnh giếng cổ thì giá trị càng tăng.

Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Minh Nhương

Làng Việt cổ xứ Đoài

Ở Làng Mông Phụ, xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội) thời gian như ngưng đọng lại bởi những dấu ấn về ngôi làng thuần Việt xa xưa giản dị vẫn hiện diện một cách đầy đủ, phong phú và sống động với 140 ngôi nhà cổ hàng trăm năm tuổi.
Sử sách ghi lại rằng, cách đây mấy nghìn năm, làng Mông Phụ do người Việt cổ di cư từ vùng núi xuống đồng bằng lập ra. Người Việt lúc đó đã chọn bến Mải, nơi có gò đất cao, bằng phẳng, gần sông để lập nên làng Mông Phụ. Tuy đất chưa quen, dòng chảy chưa thuộc nhưng ý thức dựng và giữ làng để phát triển cho đời sau đã đi vào tâm thức người dân qua hàng nghìn thế hệ. Dấu ấn thời gian được thể hiện khá đầy đủ ở cổng làng, đình làng, sân kho, chùa và trong từng nếp nhà... 
Tháp Cửu phẩm Liên Hoa, một kiến trúc độc đáo ở chùa Mía. Ảnh: Minh Đức
Dấu tích làng cổ
Theo ông Giang Văn Khuê, một người cao tuổi ở làng Mông Phụ, cổng làng được quay về hướng Đông bởi quan niệm truyền thống cho rằng đó là hướng phát triển mạnh mẽ, con cháu mai sau sẽ thịnh vượng. Cổng làng được xây vào năm 1553 (đời vua Lê Thần Tông), làm từ gỗ mít, tường xây bằng đá ong, cát lấy trên gò rồi trộn vôi với mật tạo thành hỗn hợp kết dính để xây cổng. Cổng làng xưa chỉ đủ cho vài người gánh lúa nghỉ ngơi, chỗ trú chân cho mấy bác đi tuần làng. 

Đến đây mới thấy thời gian như ngưng đọng lại bởi những dấu ấn về ngôi làng thuần Việt xa xưa giản dị vẫn hiện diện một cách đầy đủ, phong phú và sống động với 140 ngôi nhà cổ hàng trăm năm tuổi. Sáu xóm: Sui, Xây, Trung, Hậu, Sải, Đình như nằm trên một vòng tròn khép kín mà ở giữa là đình làng, một nơi vừa trũng vừa dốc. Ít ai biết rằng, đó chính là xoáy đất linh thiêng mà người xưa chọn làm nơi hội họp, bàn bạc hương ước, lệ làng. Đình được xây dựng cùng với thời gian dựng cổng làng, có hai giếng Bình, Nghiễu chảy tràn ra hai bên. Hướng của đình nhìn về phía đồi Dum, là nơi nước chảy về làng nên người Mông Phụ khi thi cử lúc nào cũng đỗ hàng quan. Ngôi đình mang đậm kiểu kiến trúc Việt - Mường, có sàn gỗ cách mặt đất mô phỏng kiến trúc nhà sàn. Khoảng sân rộng của đình là nơi tổ chức hội làng hàng năm từ ngày mùng 4 đến ngày mùng 10 tháng Giêng.
Bà Vũ Thị Vọng, cán bộ ban Văn hoá xã Đường Lâm cho biết: "Trong khi xây dựng ngôi đình này, các cụ đã chạm trổ rất nhiều  bức hoành phi "Lão long huấn tử". Tiếc  là đến nay không còn lưu giữ được bao nhiêu". Theo bà Vọng, bức hoành phi một rồng mẹ và chín rồng con cùng một quyển vở, cái bút ngụ ý rằng mọi người phải luôn chăm lo đến sự học hành của con cháu. Vì thế, làng luôn luôn có người đỗ đạt cao, có đóng góp lớn trong việc xây dựng, gìn giữ đất nước. Đến nay, đình vẫn là nơi sinh hoạt văn hoá cộng đồng của bà con.
Cổng làng.
Bên cạnh đình làng, hệ thống nhà thờ họ cũng được lưu giữ nguyên vẹn. Đây chính là không gian tinh thần riêng của từng dòng họ trong làng. Nhà thờ họ Giang, nơi thờ sứ thần Giang Văn Minh (thế kỷ 17) đi sứ xoá nợ Liễu Thăng là một minh chứng tiêu biểu cho những ngôi nhà thờ họ ở đây... Dấu tích viên gạch góp của những chàng rể lấy vợ Mông Phụ đến nay vẫn chưa mất đi trên các bức tường đất bùn và đá ong cổ. Khác với đá ong ở những vùng Thạch Thất, Quốc Oai hay Sơn Đông, Cổ Đông (Sơn Tây), đá ở Mông Phụ sau khi khai thác về không cần gia công nhiều mà cứ thế xếp lên mà thành tường, thành nhà. Đá được đào từ dưới lòng đất, mỗi viên to khoảng 15 – 40 cm, càng để lâu càng tốt, khi xây không tốn nhiều công song vẫn đảm bảo cho khối tường dày, đủ làm mát nhà khi trời nóng và sưởi ấm nhà khi trời lạnh...
Sẽ là thiếu sót nếu đến Mông Phụ mà không tới viếng thăm chùa Mía (còn gọi là Sùng Nghiêm tự), ngôi chùa có kiến trúc đặc sắc về nghệ thuật tạo hình thế kỷ XVII và cũng là ngôi chùa đẹp nhất xứ Đoài. Theo sư cụ Đàm Cẩn, trụ trì chùa Mía, chùa được làm từ nhiều loại gỗ quý, chạm khắc công phu hình Tứ Linh, hoa lá cách điệu. Tượng Phật trong chùa không chỉ đặc sắc về hình dáng mà còn phong phú về số lượng. 287 pho tượng là 287 khuôn mặt, dáng vẻ khác nhau và được bài trí thành cụm khép kín. Đẹp nhất là tượng Tuyết Sơn, Kim Cương, Bá Đại Hòa Thượng, Quan Âm Nam Hải, bà Chúa Mía… Một nửa tượng được tạc bằng gỗ mít sơn son thếp vàng óng ánh, riêng tượng bà Chúa Mía được tạc bằng gỗ mít đặt trong khám gỗ ngay sát Tam bảo điện. Ngoài ra, trong chùa còn có rất nhiều động đắp cầu kỳ, sinh động như Nam Hải, Tây Trìu…
Những di vật cổ vẫn được lưu giữ tại Mông Phụ.
Gìn giữ nét xưa
Ngày 19/5/2006, Đường Lâm vinh dự tổ chức Lễ đón nhận bằng công nhận di tích lịch sử văn hoá “Làng cổ Đường Lâm” do Bộ Văn hoá - Thông tin ( nay là bộ Văn hóa Thể thao Du lịch) cấp. Đây là di tích văn hoá lâu đời, tiêu biểu nhất cho văn hoá truyền thống của người Việt và cũng là nơi đầu tiên trong tổng số 573 di tích lịch sử của Hà Tây được Nhà nước xếp hạng nhằm bảo tồn, tôn tạo, xây dựng và đưa vào khai thác phục vụ chương trình mục tiêu phát triển du lịch - văn hoá. Việc bảo tồn các giá trị cổ trong thời đại công nghiệp hoá, hiện đại hoá là điều không đơn giản. Ngoài việc tuyên truyền, nâng cao ý thức gìn giữ, tôn trọng di tích cho người dân, làng cổ Mông Phụ rất cần được sự quan tâm, đầu tư và quảng bá của các ban ngành để nâng cao giá trị cổ của làng.
Hiện nay, ngoài việc đầu tư tiền của để tu bổ, sửa chữa và khôi phục lại các di tích, làng Mông Phụ tích cực vận động bà con vệ sinh thôn xóm, trồng cây xanh, làm sạch đường làng... Mỗi gia đình đều ý thức được giá trị của các di tích lịch sử, văn hoá từ chính ngôi nhà, bức tường đá ong nâu đỏ sần sùi, vững chắc của mình. Bên cạnh việc hỗ trợ cho trùng tu, sửa chữa, người dân còn phát triển các nghề phụ đã có từ lâu đời như làm tương, chè, kẹo đường, thợ xây, thợ mộc… 

Cụ Hà Văn Giang, người đang trông nom ngôi đình Mông Phụ cho rằng: “Điều mà chúng tôi cần không chỉ là lời nói, văn bản hay những cách thức bảo tồn mang tính tạm thời mà là một nghiên cứu thực tế để gìn giữ, bảo vệ".

Chính quyền xã đã xây dựng dự án đệ trình UNESCO công nhận Đường Lâm, trong đó có làng Mông Phụ là di sản văn hoá thế giới. Với những nét cổ xưa, Mông Phụ sẽ không lạc lõng trong đời sống kiến trúc hiện đại và trở thành niềm tự hào của mỗi người dân đất Việt.

Minh Đức

Bình yên cảnh sắc xứ Đoài

Dọc theo những con đê, làng quê xứ Đoài hôm nay vẫn bình dị với những cánh đồng, dòng sông, giếng nước, sân đình, mái chùa… của một vùng Bắc Bộ thanh bình và trù phú.


Xứ Đoài (Hà Tây cũ) đất vốn rộng, có đến hàng nghìn làng tập trung ở ven bờ các dòng sông lớn như sông Tích, sông Đà, sông Hồng, sông Đáy, sông Nhuệ. Ngoài nghề trồng lúa nước, dân xứ này cũng làm nhiều nghề thủ công, đặc biệt là  trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa. Đây là đất của dân Tứ chiếng (chỉ bốn trấn quanh thành Thăng Long thời xưa), văn hiến chỉ thua kém Kẻ Chợ (người kinh thành) đôi chút.
Nay, kinh tế đã phát triển, vùng đất vốn được coi là cửa ngõ thủ đô đã trở thành một phần của Hà Nội, nhưng dọc theo con đê Phùng, đập Đáy, sông Tích hay bất cứ làng quê xứ Đoài nào, người ta vẫn bắt gặp những cánh đồng, dòng sông, giếng nước, sân đình, mái chùa… của một vùng quê Bắc Bộ thanh bình và trù phú. Hồn quê hàng nghìn năm dường như vẫn còn nguyên vẹn ở xứ Đoài.
Đất Việt giới thiệu một số hình ảnh về xứ Đoài hôm nay:
Sông Tích bên lở bên bồi bao nhiêu năm vẫn giữ được chất nước trong, sạch.
Lác đác những lò gạch ven sông, cung cấp vật liệu xây dựng cho người dân địa phương.
Cây cầu sắt vốn nối nhiều ngôi làng "trong sông" Tích với chợ Săn (Thạch Thất) giờ "thảnh thơi" hơn bởi chợ đã chuyển sang vị trí khác...
.. nhưng vẫn giữ được dáng dấp thân thương một thời.
Tre xanh vẫn bao bọc làng quê, thôn xóm.
Bến sông vẫn là nơi chị em giặt giũ; thanh niên nam nữ hẹn hò.
Những ngôi đình cổ kính, trầm mặc ngày càng được quan tâm tu bổ, gìn giữ bằng ngân sách địa phương và sự đóng góp của người dân.
Những người già vẫn giữ thói quen một thủa, quét lá đa về nhóm lửa, thổi cơm dù trong nhà con cái đã trang bị bếp ga.
Những ngôi chợ phiên ngày không họp bình lặng  trong buổi chiều tà.


Vân Nhi - Nguyễn Bình