Thứ Sáu, 6 tháng 12, 2013

5 nhà thờ cho lễ Giáng sinh tại Sài Gòn

Ngoài các điểm vui chơi ở trung tâm thành phố, nhà thờ là điểm đến của nhiều du khách để tận hưởng không khí đêm Giáng sinh. 
Các nhà thờ ở Sài Gòn chủ yếu xây dựng vào nửa sau thế kỷ 19, theo kiến trúc Pháp kết hợp phong cách Rôman, Gothic quen thuộc thời Trung cổ châu Âu. Có công trình xây dựng nhằm làm chỗ dựa tinh thần cho chính quyền thực dân Pháp, có nơi là công trình tôn giáo đáp ứng nhu cầu tâm linh của tín đồ bản xứ.  
Nhà thờ Đức Bà
dulichviet.jpg
Nhà thờ Đức Bà nằm tại đường Đồng Khởi, quận 1. Ảnh: Dulichviet.
Nhà thờ có quy mô lớn nhất thành phố là nhà thờ Đức Bà hoàn thành vào năm 1880, còn gọi là nhà thờ Nhà nước vì do chính quyền thuộc địa Pháp bỏ tiền ra xây dựng, là nơi diễn ra các cuộc lễ lạc chính thức, sau này mới chuyển về cho giáo phận Sài Gòn quản lý.
Vào thời đó, nhà thờ Đức Bà được xem là lớn nhất trong các nhà thờ thuộc địa Pháp, được xây bằng gạch ngói Marseille, kính màu và khung sườn thép mang từ Pháp sang kết hợp với đá xanh Biên Hòa. Các ô cửa cuốn tròn kiểu Rôman cùng cung vòm gãy kiểu Gothic gợi nhớ dạng thánh đường lớn ở Pari, Chartres, Reim.
Nhà thờ Đức Bà hoàn toàn không có chỗ cho nến (đèn cầy) mà được chiếu sáng hoàn toàn bằng đèn điện ngay từ khi xây dựng. Công trình được khởi công ngày 7/10/1877 và được khánh thành vào ngày 11/4/1880. Nhà thờ được thiết kế tại Pháp, thi công xây dựng do kỹ sư ngươi Pháp tên là Bourad chỉ huy thực hiện.
Nhà thờ Tân Định
baoanhvn.jpg
Nhà thờ Tân Định nằm tại 289 Hai Bà Trưng, quận 3. Ảnh: Baoanhvietnam.
Nhà thờ Tân Định nhỏ hơn, dành cho họ đạo người Việt, tiêu biểu của sự pha trộn nhiều phong cách kiến trúc nhà thờ Pháp, được xây dựng và nới rộng trong nhiều đợt. Khánh thành ngày 16/12/1876, nhà thờ Tân Định là một trong những công trình tôn giáo được xây dựng sớm ở Sài Gòn.
Tọa lạc trên một đường phố nhộn nhịp người xe qua lại, nhà thờ Tân Định có kiến trúc đẹp mắt từ những vòm cung cong cong cho đến các chi tiết chạm khắc tinh xảo. Vào mỗi buổi chiều tà, khi chuông thánh đường ngân từng hồi thánh thót, mây trắng bay về từng cụm, tháp chuông nhà thờ như in trên bầu trời một vệt dài thăm thẳm.
Nhà thờ Huyện Sĩ
Panoramio.jpg
Nhà thờ Huyện Sĩ số 1 Tôn Thất Tùng, quận 1. Ảnh: Panoramio.
Nhà thờ Huyện Sĩ được xây dựng theo nguyên mẫu nhà thờ nhỏ ở Pháp. Đây là một trong số hiếm công trình sử dụng vật liệu đá granít Biên Hoà tại mặt tiền cũng như các phần đế và nhất là các cột chính điện. Loại đá này rất cứng nên không có các chi tiết trang trí truyền thống nhưng lại thể hiện ý muốn phô trương sự giàu có.

Nhà thờ có phong cách kiến trúc tân Gothic. Chính điện có vòm chịu lực dạng cung nhọn, cửa sổ có vòm đỉnh nhọn và một số trang trí đặc thù khác.

Tường có cửa sổ nhưng ánh sáng ít vào được bên trong do được sàng lọc. Hậu cung có mộ ông bà Huyện Sỹ (Lê Phát Đạt) làm bằng cẩm thạch, kể cả tượng hai ông bà đang yên giấc ngàn thu. Huyện Sỹ là người giàu có nhất thời bấy giờ, đã bỏ tiền ra xây cất nhà thờ, nên nơi đây được đặt tên là "Nhà thờ Huyện Sỹ".
Nhà thờ Cha Tam
dothi.jpg
Nhà thờ Cha Tam tại 25 Học Lạc, quận 5. Ảnh: Dothi.
Nhà thờ Cha Tam hay nhà thờ Phanxicô Xaviê ở Chợ Lớn lại được trang trí hoành phi liễn đối bên trong như đền miếu người Hoa. Ngày 3/12/1900, lễ thánh Phanxicô Xaviê, Đức cha Mossard, giám mục Sài Gòn, đã đến làm phép đặt viên đá đầu tiên xây ngôi thánh đường dành cho người Hoa, tức nhà thờ Phanxicô Xaviê ngày nay.
Ngày 10/1/1902, lễ cung hiến (khánh thành) trọng thể ngôi thánh đường đã được tiến hành. Sau khi xây dựng nhà thờ, cha sở Tam Asson (Đàm Á Tô) còn xây một trường học, nhà nuôi trẻ, một nhà nội trú, một số nhà ở cho thuê.
Năm 1934, Cha Tam qua đời, mai táng ngay tại khu vực tường cửa vào nhà thờ. Do đó, dân gian thường gọi là nhà thờ Cha Tam. Năm 1990, tháp chuông nhà thờ được sửa lại và cung thánh được tân trang
Nhà thờ Chợ Quán
choquanpanoramio_1385693134.jpg
Nhà thờ Chợ Quán số 120 Trần Bình Trọng, quận 5. Ảnh: Panoramio.
Nhà thờ Chợ Quán có kiến trúc theo kiểu Gothic, trải qua hơn 100 năm nhưng vẫn uy nghi, đồ sộ nhất khu vực chợ Lớn. Chợ Quán là một trong những họ đạo lâu đời nhất của Tổng giáo phận TP HCM. Nơi đây đã xây dựng ngôi nhà nguyện đầu tiên vào năm 1674 do giáo dân từ miền Bắc, Trung vào xây dựng.
Sau nhiều lần xây lại nhà thờ, năm 1887, cha xứ Nicola Ham (Tài) khởi công xây dựng nhà thờ mới. Công trình này được khánh thành vào mùng 4 tết Bính Thân (1896) và tồn tại đến nay.
Yutaka

Những địa điểm đón giáng sinh tuyệt vời ở Sài Gòn

Những địa điểm đón giáng sinh tuyệt vời ở Sài Gòn: Tp Hồ Chí Mình có nhiều khu xóm đạo đông vui vì vậy Noel ở TP HCM như một ngày lễ cực kỳ quan trọng của năm.
Dưới đây là một số địa điểm đón lễ giáng sinh tuyệt vời ở Tp Hồ Chí Mình :

1. Quanh khu nhà thờ Đức Bà – Đồng Khởi

Khu trung tâm thành phố được trang hoàng công phu, sáng bừng cả một cung đường. Lấy nhà thờ Đức Bà làm trung tâm, các địa điểm vui chơi Noel ở khu vực này còn có Diamond plaza, đường Đồng Khởi, hồ con Rùa… Đến đây, bạn vừa có thể săn được những tấm hình thật đẹp, vừa được giải trí hoặc ăn uống với những dịch vụ khá đầy đủ. Nếu chọn nơi này để dạo chơi đêm Noel, bạn hãy chuẩn bị tinh thần sẽ bị kẹt xe khi muốn ra về.

2. Khu trung tâm quận 1, đường Nguyễn Huệ – nhà hát thành phố


Khu trung tâm quận 1, đường Nguyễn Huệ – nhà hát thành phố

Cũng giống như khu vực nhà thờ Đức Bà, trung tâm quận 1 đặc biệt là trục đường Nguyễn Huệ và Lê Lợi, đèn trang trí được bố trí khắp nơi vô cùng vui mắt. Ngoài ra, vì là khu vực tập trung rất nhiềukhách sạn 4 sao, 5 sao lớn tại thành phố Hồ Chí Minh, không khí Noel ở đây càng đậm đặc và có phần Tây hơn cả. Thường trước mỗi khách sạn hoặc trung tâm mua sắm đều được chủ nhân trang trí công phu, du khách có thể thoải mái tạo dáng chụp hình mà không phải trả phí.

Nhung dia diem don giang sinh tuyet voi o Sai Gon

3. Khu phố người Hoa – Hải Thượng Lãn Ông

Khu phố người Hoa – Hải Thượng Lãn Ông

Có thể mua đồ trang trí Giáng sinh tại các cửa hiệu tại rất nhiều con phố ở Sài Gòn nhưng nhiều người vẫn cứ thích đếnkhu phố người Hoa ở Hải Thượng Lãn Ông, đặc biệt là giới trẻ. Không quá đông đúc như rằm Trung thu, những người muốn cảm nhận không khí Noel sớm với hàng hóa trang trí đủ chủng loại có thể đến với khu phố người Hoa. Ở con phố với những cửa hàng san sát đủ sắc màu, bạn có thể chụp hình lưu niệm hay tranh thủ mua sắm đồ trang trí Noel giá mềm.

Khu phố người Hoa – Hải Thượng Lãn Ông

4. Khu xóm đạo quận 8

Khu xóm đạo quận 8

Khoảng 1 tuần trước lễ Giáng Sinh, khu xóm đạo quận 8 bỗng trở thành con đường lễ hội mùa Noel với đèn màu rực rỡ cùng hàng trăm hang đá đẹp mắt kéo dài gần 4km. Xóm đạo quận 8 nằm trên đường Phạm Thế Hiển, đoạn từ cầu Nhị Thiên Đường đến phường 7, quận 8 dài hơn 3 cây số đi qua Giáo xứ Bình An và Bình Thái. Hàng trăm hang đá, cây thông phủ tuyết trắng và ông già Noel, tượng Đức Mẹ, Chúa Jesus… với đủ sắc màu được người dân trang hoàng rực rỡ ngay trước nhà, trên vỉa hè, nơi các ngã ba, ngã tư đường phố, càng làm cho không khí đêm Giáng sinh thêm náo nhiệt và nhiều ý nghĩa.

Khu xóm đạo quận 8

5. Tại các thánh đường lớn ở Sài Gòn

Tại các thánh đường lớn ở Sài Gòn

Nhà thờ Tân Định, Q.1 – 289 Hai Bà Trưng, Q. 3
Nhà thờ Tân Định
Nhà thờ Hạnh Thông Tây – 53/7 Quang Trung, Q.Gò Vấp
Nhung dia diem don giang sinh tuyet voi o Sai Gon
Nhà thờ Chúa Cứu Thế – 38 Kỳ Đồng, Q.3.
Nhà thờ Cha Tam – 25 Học Lạc, Q.5
Nhà thờ Huyện Sĩ – 1 Tôn Thất Tùng, Q.1


Những địa điểm đón giáng sinh tuyệt vời ở Sài Gòn sẽ là điểm đến cho các bạn trong dịp Giáng Sinh này. Chúc bạn đón giáng sinh vui  vẻ!
Viet Bao.vn (Theo Dulichbanvatoi)

Nghề cũ Hà Nội

Thời vàng son đã qua, có bao nhiêu nghề mới sinh ra và nghề cũ bị mai một dần, trong đó có nghề làm dao kéo, may áo dài, cắt tóc dạo.
Nghề làm dao kéo
Sinh Từ vốn là tên cũ của phố Nguyễn Khuyến ngày nay và lúc đầu chỉ có duy nhất cửa hiệu Sinh Tài của một người dân làng Hòe Thị (còn gọi là làng Canh) có nghề rèn truyền thống mở ra vào cuối thế kỷ 19.
Dao kéo Sinh Từ có nhiều loại, từ con dao xén giấy, dao phay, dao bài đến các loại kéo, dụng cụ nạo gọt, cuốc, thuổng, mai… Dao để cắt da làm giầy lưỡi phải mỏng, cứng và sắc. Dao cạo râu lưỡi sắc, sống dao phải dày. Kéo cắt vải cho thợ may lưỡi phải sắc ngọt.
Dao kéo Sinh Từ tuy không đẹp bằng dao Thái, kéo Mỹ nhưng vẫn là vật dụng không thể thay thế đối với số đông thợ may, thợ cắt tóc hay đầu bếp nhà hàng, khách sạn và những người “sành” nội trợ.
DSC-0206-JPG.jpg
Đi trên phố Nguyễn Khuyến ngày nay, vẫn còn dăm ba cửa hiệu theo nghề cũ, bày bán đủ các chủng loại dao kéo.
Nghề may áo dài

Nghề may áo dài của Hà Nội gắn liền với những thợ may giỏi người làng Trạch Xá (nay thuộc xã Hòa Lâm, huyện Ứng Hòa, thành phố Hà Nội). Được đào tạo và truyền nghề từ năm 10-12 tuổi, trai làng Trạch Xá khi thạo nghề đã rời làng lên Hà Nội mở hiệu may áo dài ở phố Khâm Thiên, Cầu Gỗ, Hàng Bông và tập trung nhiều nhất là ở phố Lương Văn Can.
Nghề may áo dài đã có thời hoàng kim với hơn 20 hiệu may trên phố Lương Văn Can dài chưa đầy một km, người đến may áo dài nườm nượp, thợ may làm không hết việc. Vào khoảng những năm 80 của thế kỷ 20, áo dài bị thời trang phương Tây áp đảo, nghề may áo dài rơi vào cảnh đìu hiu, nhiều hiệu may chuyển nghề.
Ngày nay, không chỉ có người Việt Nam mà người nước ngoài cũng yêu thích nét đẹp của áo dài.
DSC-0213-JPG.jpg
Một số cửa hàng như Đông Trạch, Hưng Trạch, Tân Trạch… trên phố Lương Văn Can giờ là địa chỉ nổi tiếng chuyên may áo dài cho khách du lịch nước ngoài.
Nghề cắt tóc dạo
Nghề cắt tóc thịnh hành ở Hà Nội từ thời Pháp thuộc. Thợ cắt tóc ngày ấy chủ yếu là người làng Kim Liên (Hà Nội) vốn là một làng có nghề truyền thống cắt tóc.
Một người thợ cắt tóc phải mất 1 đến 3 năm học mới ra hành nghề được. Đa phần bác phó cạo của Hà Nội xưa là những tay hóm hỉnh, luôn sẵn sàng làm người khác bật cười vì những câu chuyện dí dỏm bởi họ không chỉ học cắt tóc mà còn học cách ăn nói với khách.
Trên phố Quang Trung, Tạ Hiện, Yec-xanh ngày nay vẫn dễ dàng bắt gặp một bác phó cạo với chiếc gương và cái ghế nhỏ dựng sát bên tường hay dưới gốc cây tán lá xòe rộng, “lách cách” nhịp kéo theo từng đường cắt và nụ cười hóm hỉnh chuyện trò.
DSC-0172-JPG.jpg
Công việc cắt tóc được tiến hành tỉ mỉ và chỉn chu từng bước. Khi cắt tóc xong phải đảm bảo không có sợi tóc nào dính trên áo khách mới được coi là đạt kỹ thuật.
Nghề khắc dấu gỗ
Những cửa hàng khắc dấu gỗ ở Hà Nội không nhiều với diện tích rất nhỏ trên cùng con phố. Mỗi cửa hàng có khoảng 100 mẫu dấu đủ hình dáng vuông, tròn, chữ nhật, e-lip, lục lăng… với hình phong phú: từ con dấu tủ sách gia đình, dấu tên người, tên phố phường, 12 con giáp… Bên cạnh đó, khách hàng cũng có thể yêu cầu thợ khắc theo mẫu riêng của mình. Những người mê thư pháp dùng dấu triện ấn lên bức thư pháp thay cho chữ ký.
Cửa hàng rất nhỏ, biển hiệu cũ kỹ dùng cả tiếng Anh và tiếng Hán, nhiều người sẽ dễ dàng lướt qua cửa hàng khắc dấu gỗ. Dù vậy, những nghệ nhân khắc dấu gỗ vẫn hàng ngày tỉ mỉ với từng nét khắc để thông qua con dấu nhỏ góp phần giới thiệu văn hóa Việt Nam đến với bạn bè năm châu.
DSC-0020-JPG.jpg
Một vài cửa hàng nhỏ ở đầu phố Hàng Quạt, lác đác trên phố Hàng Bông và phố Tạ Hiện.
Bài và ảnh: Yutaka

Trang sức độc đáo của người Hà Nhì

Ngoài bộ trang phục màu xanh hay đen nhuộm chàm, người phụ nữ Hà Nhì còn điểm tô thêm bằng mái tóc được tết rất độc đáo.
Nếu lên Lào Cai hay Lai Châu, bạn sẽ bắt gặp rất nhiều ngôi nhà trình tường nhỏ xinh của người dân tộc Hà Nhì sống dưới chân núi, gần các con sông, con suối. Bạn không chỉ được ngắm vẻ đẹp của núi rừng Tây Bắc, mà còn cảm nhận được những nét văn hóa dân tộc qua các trang phục của họ.
Từ xưa tới nay, người Hà Nhì nổi tiếng chịu thương chịu khó. Ngoài việc trồng lúa trên những thửa ruộng bậc thang, họ còn tự tay trồng bông, dệt vải và tự làm ra trang phục của mình, mang những nét đặc trưng riêng. Những bộ trang phục của nam và nữ đều được may từ vải chàm do người dân tộc tự dệt với màu xanh hay màu đen đặc trưng, nổi bật với những đường viền lượn cong.
Những chiếc tay áo trong trang phục của người dân tộc Hà Nhì cũng rất độc đáo, họ thêu những họa tiết sặc sỡ, nổi bật. Để hoàn thiện bộ trang phục phụ nữ và trẻ em thường phải mất tới khoảng hơn một tháng làm thủ công, trong đó việc thêu thêm những hoa văn tại cánh tay áo mất tới cả tuần lễ.
Ngoài ra người phụ nữ Hà Nhì rất chăm chú đến việc điểm trang cho mái tóc thêm duyên dáng. Họ đã sáng tạo ra những bộ tóc giả, những chiếc khăn trùm để làm duyên.
ha-nhi1-4819-1386135769.jpg
Người phụ nữ Hà Nhì đen đang nhuộm mái tóc giả.
Mái tóc giả được bện bằng những sợi tách ra từ vỏ, rễ cây trong rừng. Những cuộn tóc giả dài được bện từ hàng chục sợi dây nhỏ đã được nhuộm bằng thuốc nhuộm chế biến từ các loại cây cỏ. Sau khi đổ thuốc vào những máng gỗ, họ nhúng tóc giả nhiều lần vào thuốc nhuộm sao cho có màu đen bóng giống như tóc thật. Để có được bộ tóc giả ưng ý, người phụ nữ ở đây phải tốn khá nhiều thời gian và công sức để tỉa tót.
Những nhà có con gái đang ở tuổi trưởng thành thường treo một vài bộ tóc giả để làm đồ trang sức. Mỗi khi đeo tóc giả, các cô gái thường xõa mái tóc sang bên phải, chải chuốt thật kỹ rồi mới kết nối tóc giả vào, bện chặt với nhau tạo thành những mái tóc dài đến chấm đất. Phía mỗi đuôi tóc đều được bện lại lại ba chùm giống như một bông hoa.
hanhi3-5840-1386135769.jpg
Người Hà Nhì. Ảnh: sapatours
Với những phụ nữ Hà Nhì, mái tóc như một phần quan trọng. Ngày thường cũng như ngày hội, họ đều không rời mái tóc của mình dù nó rất nặng, được cuộn trên đầu thành từng khoanh. Để trang điểm thêm cho mái tóc, họ thường phủ một tấm khăn vuông bằng vải nhuộm chàm, được thêu hoa văn ở 4 góc. Tùy từng độ khéo tay của mỗi cô gái mà độ phong phú hay tinh xảo của chiếc khăn được thể hiện. Thông thường họ hay gắn thêm tua chỉ màu đính kèm những hạt cườm vào mỗi góc khăn để tạo sự duyên dáng và nổi bật.
Những người phụ nữ Hà Nhì cũng rất chăm chút đến việc trang điểm cho các cô con gái nhỏ của mình bằng những chiếc mũ rất độc đáo với nhiều màu sắc và kiểu dáng. Chiếc mũ thường được lót bên trong một lớp thổ cẩm, bên ngoài trang trí bằng những chùm len có màu sắc sặc sỡ, giữa chùm len có đồng bạc trắng và những hạt cườm ngũ sắc trông rất rực rỡ.
hanhi4-4638-1386135769.jpg
Những chiếc mũ sắc sỡ của những em bé người Hà Nhì. Ảnh: Sapatour
Theo quan niệm của người Hà Nhì, đồng bạc này thể hiện cho ước muốn giàu sang, no đủ và có tác dụng tránh gió độc, trừ tà ma rất tốt. Mũ của bé trai có tua rua vải, màu sắc khá sặc sỡ, còn mũ của trẻ gái thì diêm dúa hơn, bởi được đính thêm những dải hạt cườm đủ màu sắc. Chiếc mũ trên đầu trẻ em cũng thể hiện sự sáng tạo và sự phối màu đặc sắc của người Hà Nhì.
Anh Phương

Địa chỉ ăn chơi bỏ túi khi đến Buôn Ma Thuột

Không chỉ có phong cảnh đẹp, Buôn Ma Thuột còn níu chân du khách với những món ăn mang đậm bản sắc văn hóa.
Trong không khí mát lành của thành phố cao nguyên này, du khách có thể tản bộ trên các con phố để tham quan các địa điểm nổi tiếng như: nhà đày Buôn Ma Thuột, Bảo tàng các dân tộc Việt Nam; Biệt thự vua Bảo Đại; Toà Giám mục tại Đắk Lắk; đến thăm làng văn hóa buôn Ako Đhông và chụp hình lưu niệm với cây Kơ nia cổ thụ...
Bên cạnh đó, du khách cũng có thể đi tham quan các huyện và tham gia các trò chơi cảm giác mạnh như: cưỡi voi bản Đôn; chèo thuyền độc mộc trên hồ Lak; ngắm cảnh đẹp hùng vĩ của thác Dray Sáp; khu bảo tồn thiên nhiên Ea Sô - Ea Kar...
Ẩm thực
Đắk Lắk giữ trong mình một nền văn hóa ẩm thực phong phú, là kết tinh của các dân tộc anh em cùng sinh sống ở đây. Về đây, du khách sẽ tha hồ thưởng thức đủ món ăn ngon như: gà sa lửa, gà nấu lá giang, cơm lam, canh chua nấu cá lăng đặc sản của dòng Serepork, rượu cần, gỏi rau rừng, gỏi cà đắng... và không thể thiếu ly cà phê thơm nức trong buổi sáng trong lành ở đây.
ga-sa-lua-11-3671-1379668533.jpg
Cơm lam, gà sa lửa là hai món ăn nổi tiếng của người đồng bào ở bản Đôn. Ảnh: T.P.
Dưới đây là một vài món ăn đặc trưng ở  Buôn Ma Thuột:
- Bún đỏ, đây là một đặc sản của thành phố cao nguyên này. Tên gọi của món ăn bắt nguồn từ một tô bún với màu đỏ đặc trưng của nước dùng. Món ăn được kết hợp nhiều nguyên liệu như: gạch cua, trứng cút, các loại rau... Bạn có thể thưởng thức món ăn bình dân này ngay quán vỉa hè góc đường Lê Duẩn - Phan Đình Giót.
- Cơm lam, gà sa lửa là hai món ăn nổi tiếng của người đồng bào ở bản Đôn. Về đây, bạn có thể thưởng thức món ăn này trong các nhà hàng ở Buôn Ma Thuột.
ca-lang-6652-1379668534.jpg
Canh riêu cá lăng là một trong những món ăn được chế biến từ loài cá lăng nổi tiếng của dòng sông Serepork. Ảnh: T.P.
- Bánh ướt thịt nướng pha trộn nhiều nguyên liệu: một đĩa bánh ướt, một đĩa thịt nướng, bên cạnh là dưa leo, xoài xanh, dưa cải chua, rau thơm... Tất cả được cuốn lại và ăn kèm với chén nước chấm cay xé lưỡi. Du khách có thể ghé địa chỉ 43 Trần Nhật Duật.
- Bò nhúng me với vị chua ngọt, ăn kèm bánh mì, cải xoong và salad cũng là món ăn ngon nổi tiếng. Địa chỉ: 62A Lê Thánh Tông.
- Canh lá của người Êđê hay còn gọi là lẩu lá. Món ăn được chế biến từ 10 loại là rừng khác nhau. Khi ăn có vị nhân nhẩn đắng và cay nồng rất lạ miệng. Bạn có thể tìm thấy món ăn này trong các nhà hàng đặc sản ở Buôn Ma Thuột.
bun-gio-chia-6650-1379668534.jpg
Bún giò chìa là món ăn ngon miệng ở thành phố Buôn Ma Thuột. Ảnh: T.P.
- Canh chua cá lăng hay lẩu cá lăng - du khách khó có thể bỏ qua món cá đặc sản của dòng sông Serepork hùng vĩ. Đây là món ăn ngon miệng và có tác dụng giải nhiệt rất tốt trong những ngày nắng. Ngoài ra, cá lăng còn được dùng để kho tộ, canh riêu cá lăng. Địa chỉ: nhà hàng DakMe - 143 Ngô Quyền.
Ngoài những món ăn kể trên, Đắk Lắk còn hấp dẫn du khách với ẩm thực đường phố phong phú với các địa chỉ:
- Bún bò đường Ybí AleO; Lý Thường Kiệt; Hai Bà Trưng.
- Bún riêu đường Lê Thánh Tông; Xô Viết Nghệ Tĩnh.
- Xôi gà Phan Chu Trinh;
- Hủ tiếu bà Xuyến đường Lê Thánh Tông;
- Ốc hút Đinh Tiên Hoàng;
- Bánh bèo đường A Ma Jao;
- Lẩu gà lá giang ở số 9 Lê Lai.
- Gà hấp lá chanh đường Trương Công Định.
- Bánh canh chả cá đường Hai Bà Trưng.
- Bánh đúc nóng đường Phùng Chí Kiên.
- Bánh xèo đường Phan Bội Châu.
- Bánh canh cua đường Trần Phú.
- Cháo óc đường Lý Tự Trọng.
- Bún cá đường Hai Bà Trưng.
- Phở Tiến đường Lê Thánh Tông.
Tiêu Phong

Nếu thích cà phê hãy tìm về Buôn Ma Thuột

Không phải chỉ ở Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk mới có cà phê nhưng khi thưởng thức ở đây, người ta như tìm lại được hương vị đặc trưng của núi rừng Tây Nguyên hùng vĩ.
Bất kể ai có dịp đến với thành phố Tây Nguyên này đều muốn được một lần được thưởng thức hương vị cà phê đậm chất Ban Mê. Tuy không thể định nghĩa một cách rõ ràng nhưng khi đã một lần nhấp thử sẽ chẳng thế nào quên được vị thơm lừng, khác biệt.
Ở thành phố được coi là thủ phủ cà phê này, việc mời đi uống cà phê là một nét văn hóa, một phong cách sống. Quán cà phê có mặt ở hầu khắp các con phố ở Buôn Ma Thuột, từ những đường chính như Lê Thánh Tông, Ngô Quyền, Mai Hắc Đế, Nguyễn Du, Y Ngông và Phan Chu Trinh đến những ngõ hẻm nhỏ bé, quanh co hay lũng dốc.
Thien-NGuyen-5086-1386172095.jpg
Bạn có thể thưởng thức nhiều loại cà phê khác nhau khi đến đây. Ảnh: Thiện Nguyễn
Nhiều là thế nhưng mỗi quán đều chọn cho mình một tên gọi khác nhau, nào Hoài Niệm, Bâng Khuâng, đến Thung lũng Hồng hay Classic. Mỗi quán lại có cách bài trí và phong cách phục vụ riêng. Trong khi quán Bar Nguyên là điểm đến ưa thích của dân "teen", thì Bâng Khuâng lại là nét hòa quyện bản địa độc đáo. Điều cốt lõi là mang đến không gian gần gũi, thân thuộc cho người đến quán.
Ở đây cũng có những quán phục vụ pha sẵn nhưng pha phin được nhiều du khách ưa chuộng hơn cả. Mỗi khi có thực khách đến uống cà phê, chủ quán mới bắt đầu rang xay và pha chế. Tiếng ồ ồ máy xay làm cho khách đến quán lần đầu phải ngạc nhiên chú ý và xen lẫn cảm giác thích thú, tò mò.
baodaklak-JPG-2330-1386172096.jpg
Uống cà phê là nét văn hóa độc đáo ở Buôn Ma Thuột. Ảnh: Báo Đắk Lắk
Nếu bạn từng sốt ruột vì chờ đợi để thưởng thức cà phê, thì quãng thời gian này ở đây dường như gia tăng thêm thi vị cho từng giọt đắng. Ngay cả cách thưởng thức cũng mang đến bao điều thú vị. Người Buôn Ma Thuột thường không đòi hỏi lượng  trong ly phải nhiều, quan trọng phải là chất lượng và cách uống thì luôn chậm rãi, nhấp từng hớp nhỏ để cảm nhận hương vị tự nhiên.
Với những du khách còn đang băn khoăn lựa chọn giữa hàng trăm quán trong thành phố thì có thể nhanh chân bước đến làng cà phê cuối đường Lê Thánh Tông. Nơi đây được những người ghiền ví như một thủ phủ cà phê thu nhỏ ngay trong lòng thành phố Buôn Ma Thuột. Bạn có thể lựa chọn nhiều hương vị khác nhau tùy theo sở thích như cà phê chồn, pha sẵn hay cà phê tươi.
Sau-hon-nua-nam-di-vao-hoat-do-9545-5479
Không gian đậm chất Tây Nguyên ở làng cà phê tại Buôn Ma THuột. Ảnh: nld
Không gian thưởng thức cà phê là dãy nhà cổ gắn liền ẩn mình trong khung cảnh thiên nhiên xanh mát. Cà phê vô tình trở thành thứ ngôn ngữ không lời truyền tải những rung động, nỗi niềm của những người cùng thưởng thức. Làng còn là nơi lý tưởng để khám phá tìm hiểu về văn hóa ở của vùng đất bazan cũng như nhiều quốc gia trên thế giới, thông qua hệ thống hiện vật được trưng bày liên quan đến trồng và chế biến cà phê.
Một nơi khó bỏ qua đó là vườn sưu tập với các loại cà phê chè, vối, mít, robusta, robica… được dày công sưu tầm, gìn giữ qua nhiều năm, có cây gần trăm năm tuổi. Đan xen trong đó là những pho tượng mộc mạc, gần gũi, đậm chất Tây Nguyên.
Không dễ để phân định cà phê ở đâu là ngon nhất trong hàng trăm hàng quán lớn nhỏ ở thành phố Tây Nguyên này. Chỉ biết rằng, trong nền nhiệt độ hạ thấp về đêm ở Buôn Ma Thuột, được ngồi cùng bạn bè bên ly cà phê đặc quánh, ấm nóng giữa không gian đậm chất núi rừng Tây Nguyên, đó quả là một trải nghiệm khó quên.
Vy An

Thứ Hai, 2 tháng 12, 2013

Đặc sản bánh khúc của làng quan họ Bắc Ninh

Đến làng Diềm du khách không chỉ được lắng nghe những câu quan họ mượt mà của liền anh, liền chị mà còn được thưởng thức chiếc bánh khúc xanh thơm, thắm đượm hồn quê dân dã.
Làng Diềm là tên gọi nôm của thôn Viêm Xá, xã Hòa Long, thành phố Bắc Ninh. Là ngôi làng cổ có đền thờ Đức Vua Bà, thuỷ tổ quan họ, từ lâu nơi đây đã trở thành điểm hẹn của du khách gần xa mỗi khi muốn lắng nghe và tìm hiểu câu ca quan họ. Nhưng không chỉ có vậy, những ai có dịp đến đây, tất thảy đều không thể quên được món bánh khúc bình dị, thảo thơm của vùng quê Kinh Bắc.
DSC-0566-JPG-7584-1385744364.jpg
Rau khúc, nguyên liệu chính làm bánh khúc ở làng Diềm.
Chẳng thể nhớ bánh khúc làng Diềm có từ khi nào, chỉ biết vào những ngày lễ tết, hội hè, rằm hay mùng một, bánh mới được làm để mời họ hàng, quan khách. Tên bánh xuất phát từ chính loại cây làm nên nó – rau khúc. Có điều lạ là người làng Diềm không trồng mà thu hái rau khúc tự mọc ven các bãi đất trống, đất bồi ven sông, ven ruộng, bởi muốn trồng thì rau cũng tự lụi, không thu hoạch được.
Rau khúc có hình dáng bên ngoài như cỏ dại với màu lá xanh bàng bạc, phủ lớp phấn trắng bên trên. Để làm nên những chiếc bánh có hương khúc đặc trưng, cây được chọn phải nhỏ bản, dày bụ và đã ra hoa. Có nơi người ta phơi khô lá khúc, nghiền bột để dùng khi hết mùa rau, tuy nhiên, thơm hơn cả là rau khúc tươi.
Hiện là đầu mùa rau khúc nên vào thời gian này bạn đến với làng Diềm sẽ được người dân ở đây thiết đãi những chiếc bánh khúc thơm hương nóng hổi. Quy trình làm một chiếc bánh khúc không mất quá nhiều thời gian nên mỗi khi khách đến nhà, người làng Diềm mới bắt tay vào làm bánh.
DSC-0663-JPG-6465-1385744364.jpg
Bánh khúc nặn hình tai voi trước khi đem hấp.
Rau khúc sau khi hái về được rửa sạch, băm nhỏ rồi luộc sôi, bỏ nước, chỉ lấy phần rau chín. Sau đó đem giã nhuyễn với bột gạo tẻ Kháng Dân để làm vỏ bánh. Sở dĩ người làng Diềm sử dụng loại gạo này vì nó đủ độ kết dính và không quá dẻo. Từ hai màu trắng – xanh của bột và rau khúc, theo nhịp giã nhịp nhàng nắm bột mịn chuyển màu xanh nhạt đều mịn.
Nhân bánh khúc làng Diềm có nhiều nét giống với bánh trưng như đỗ xanh đồ chín giã nhỏ, hạt tiêu thơm phức và thịt ba chỉ thái nhỏ, chỉ khác cho thêm chút tóp mỡ băm nhỏ trộn đỗ xanh để tăng vị béo ngậy khi ăn. Công đoạn gây hứng thú nhất với du khách có lẽ là tham gia nặn bánh. Bạn sẽ được các cô các chị ở đây hướng dẫn véo nắm bột nhỏ, dàn đều và mỏng rồi gắp nhân bỏ vào giữa, nặn tròn hoặc hình tai voi tùy thích. Dù nặn thế nào thì quan trọng nhất vẫn là vỏ phải mỏng đều và không bị lộ nhân.
Bánh nặn xong được xếp ra mâm, chờ nước sôi rồi bỏ vào nồi hấp như đồ xôi, nếu thích lúc này có thể rắc lớp gạo nếp đã ngâm kỹ thành lớp áo bánh bên ngoài. Tuy nhiên, bánh khúc làng Diềm mời khách đến chơi thường hấp không để thấy được lớp áo màu xanh thẫm đặc trưng rau khúc.
DSC-0678-JPG-7613-1385744364.jpg
Sau khi hấp, bánh có màu xanh thẫm, bóng, thơm mùi rau khúc đặc trưng.
Thưởng thức bánh khi còn nóng hổi là thơm ngon nhất. Lúc này lớp vỏ bánh bóng mọng bốc hơi nghi ngút, khách vừa thổi vừa ăn để cảm nhận hương thơm, bùi của lá khúc cùng vị ngậy béo của nhân đỗ thịt. Chiếc bánh khúc dường như là sự kết hợp hoàn hảo các sản vật đặc trưng của làng Diềm, mang đến hương vị độc đáo, hấp dẫn không dễ gì trộn lẫn.
Với nhiều loại bánh khác, người ăn có thể dùng một hai cái đã cảm thấy ngán nhưng với bánh khúc làng Diềm, ăn đến 4-5 chiếc mà vẫn thòm thèm, luyến tiếc. Bởi thế, không ít người ăn xong phải mua thêm để làm quà và ăn dần khi nhớ. Bánh hấp xong để nguội có thể cất trong tủ lạnh trong vòng một tháng, khi ăn đem hấp lại hương thơm như vẫn nguyên vẹn.
Bài và ảnh: Vy An

Chủ Nhật, 1 tháng 12, 2013

Hấp dẫn Nhìu Cồ San

Không nổi tiếng, hùng vĩ như Phan Xi Păng, nhưng vẻ hoang sơ, với những cánh rừng nguyên sinh, thảm thực vật phong phú, núi Nhìu Cồ San có sức hấp dẫn mạnh mẽ với du khách.

Chinh phục núi Nhìu Cồ San
Núi Nhìu Cồ San nằm trên địa phận xã Sàng Ma Sáo (Bát Xát- Lào Cai), độ cao hơn 2.300 m so với mực nước biển. Theo tiếng địa phương, Nhìu Cồ San có nghĩa là núi Sừng Trâu. Tên này xuất phát từ việc những ngày trời nắng, không có sương mù bao phủ, đứng từ xa, có thể nhìn thấy đỉnh núi hình dáng giống như chiếc sừng trâu.
Theo những người cao tuổi trong xã Sàng Ma Sáo kể lại, cách đây gần một thế kỷ, thực dân Pháp đã đặt chân tới núi Nhìu Cồ San, họ cho xây dựng những tuyến đường mòn để vận chuyển lương thực, đạn dược sang xã Sin Suối Hồ, huyện Phong Thổ (Lai Châu). Từ trung tâm xã Sàng Ma Sáo tới nơi bắt đầu của đường mòn dẫn lên núi Nhìu Cồ San khoảng gần 10 km. Ngay khi đặt chân đến đây, bạn có thể cảm nhận được không khí mát lành, với những tán cây dập dìu. Phía xa xa, ẩn hiện trong sương là những bản làng của đồng bào dân tộc Mông, với những thảm ruộng bậc thang vàng óng vào mùa lúa chín.
Đi bộ khoảng 1 km, một bãi đất bằng phẳng, rộng hàng chục ha, đang được người dân trong xã Sàng Ma Sáo cải tạo, thử nghiệm cấy trồng lúa. Đi qua bãi đất phẳng, trước mắt bạn sẽ hiện ra những cánh rừng già, có đủ các loại cây gỗ quý, hàng trăm năm tuổi, vươn mình giữa đại ngàn, hai bên đường mòn với nhiều loài hoa đua nhau khoe sắc, dưới tán cây rừng là những nương thảo quả xanh tốt. Giữa đại ngàn, những nụ cười thân thiện, cùng hương thơm tỏa ra từ gùi thảo quả của đồng bào dân tộc Mông tạo cho bạn cảm giác thật thoải mái, dễ chịu.
Nhiều cây gỗ quý trên đỉnh Nhìu Cồ San
Anh Lê Hữu Ước, hướng dẫn viên chia sẻ: Nhìu Cồ San là một trong những ngọn núi đẹp của khu vực Tây Bắc, vẻ nguyên sơ của những tán rừng già, cùng sự mến khách của đồng bào nơi đây chắc chắn sẽ hấp dẫn du khách không chỉ một lần đến…
Theo Tất Đạt/baolaocai.vn

Về nơi di tích lẫn trong di tích

TTCT - Dấu ấn mang phong cách Bình Định trên vùng đất hai vua nằm ngay quần thể di tích thành Hoàng Đế ở thị xã An Nhơn. Dấu tích xưa còn phảng phất trên những lối mòn lọc cọc xe ngựa, quanh đầm sen, trầm tích những ngôi chùa, ngọn tháp.
Cổng chùa Thập Tháp - Ảnh: Hoa Khá
Thế kỷ 10, Chiêm Thành chọn vùng đất này xây thành Đồ Bàn, đến khoảng thế kỷ 12 xây tháp Cánh Tiên. Thế kỷ 18 hoàng đế Nguyễn Nhạc chọn nền cũ Đồ Bàn xây thành Hoàng Đế. Xung quanh là quần thể tháp xưa cổ kính, đặc biệt là ngôi chùa Thập Tháp cách thành cũ khoảng vài trăm mét.
Di tích chen di tích
Tất cả đều là di tích quốc gia, di tích nằm trong di tích. Nhiều nhà khảo cổ học đến đây cũng ngỡ ngàng vì sự phong phú này. Khách đến đây như lạc vào những vết son sử hào hùng, chiêm bái thành tựu văn hóa cổ xưa để kính cẩn nghiêng mình, để niềm tự hào lan tỏa.
Từ bến Xe Ngựa, du khách có thể ngồi trên chiếc xe ngựa lọc cọc, bồng bềnh bước vào một thời quá vãng để được nghe giai thoại về hạt lúa thần khổng lồ, về công chúa Huyền Trân, về chiến công lẫy lừng của các anh hùng sinh ra trên mảnh đất địa linh. Vẫn còn đó con đường làng quanh co dưới lũy tre cỗi già ông bà xưa dùng đánh giặc, giữ làng.
Tháp Cánh Tiên là sự hiện hữu một nét kiến trúc độc đáo nhất trong quần thể tháp Chăm. Có người nghi ngờ rằng đây là tháp Chế Mân xây riêng tặng công chúa Huyền Trân vì trong tháp có những hình chạm khắc công phu mang dáng dấp một mỹ nữ.
Vút lên trời cao ngọn tháp đứng trong một không gian thoáng đãng, cứ tưởng dang tay ra là ôm hết bầu trời. Không biết vị trí này đắc địa như thế nào mà trong nhiều thế kỷ, các vương quốc, các vị hoàng đế lại chọn xây thành kiên cố trị vì đất nước, nhiều thiền sư dừng chân trên đường truyền đạo.
Bình Định xưa nay được mệnh danh là đất võ - trời văn, kiến tạo văn hóa, quần tụ linh khí địa linh nhân kiệt thì nơi này chính là hạt nhân, nơi khởi nguồn của những khởi nguồn ở Bình Định.
Quần thể di tích chồng lấp lên nhau là lăng Võ Tánh được xây trên nền thành Hoàng Đế, thành Hoàng Đế thì lấy nền móng thành Đồ Bàn. Hiện các nhà khảo cổ đang khai quật và tìm thấy dấu vết của một tử cấm thành kinh đô xưa. Cổng lăng, song trung miếu, điện bát giác, hồ bán nguyệt, hậu cung... vẫn còn chứng giám trầm tích lịch sử một thời vang bóng.
Điện bát giác tại thành Đồ Bàn - Ảnh: Hoa Khá
Tháp Cánh Tiên, di tích trong di tích thành Hoàng Đế - Ảnh: Trường Đăng
Non nước hữu tình
Nếu du khách hiểu biết về lịch sử, về vương quốc Champa, về thời Tây Sơn, chùa chiền thì bước chân chắc chắn bị níu lại nhiều ngày. Có người cho rằng đây là nơi hội ngộ lịch sử. Đổi châu Ô và châu Rí lấy công chúa Huyền Trân và cuộc chiến với nhà Trần của Champa; cuộc chiến nhà Tây Sơn với hơn 20 vạn quân Thanh, Rạch Gầm - Xoài Mút với quân Xiêm và với nhà Nguyễn...
Đứng ở thành nhìn rõ tháp Cánh Tiên, đứng ở tháp Cánh Tiên nhìn thấy chùa Thập Tháp, đứng ở chùa Thập Tháp nhìn thấy núi Mò O. Nhìn từ phía chùa, núi Mò O (hay còn gọi là Thiên Bút, Ma Ha, Tiên Tỉnh Sơn, Mạ Thiên Sơn...) như một cánh buồm căng gió hướng ra biển Đông. Truyền thuyết kể rằng trên núi có nhiều mỏm đá giương ra phía Bắc hứng gió ngàn năm để biến thành kim cương nên được cho là nơi cuối cùng của long mạch, tiềm ẩn và phát tích đất đế vương.
Cảnh ở đây quá tuyệt nên có thơ: Rồng thiêng tiên cưỡi đi đâu/Cánh Tiên để đó dãi dầu nắng mưa/Cùng non tháp giữ tình xưa/Trải bao dâu bể vẫn chưa nao lòng/Đồ Bàn còn núi còn sông/Còn tiên kết cánh, còn rồng tuôn mây.
Lặng lẽ ngôi chùa Thập Tháp linh thiêng với kiến trúc hơn 340 năm vẫn âm vang theo tiếng chuông. Chùa gắn với câu chuyện hạt lúa khổng lồ, cứ đến mùa xuân, sau khi ruộng cày bừa xong lúa tự lăn ra đồng gieo hạt, đâm chồi trổ gié. Đến mùa hạ, người nông dân dọn dẹp sân sạch sẽ lúa tự lăn về. Mỗi hạt lúa dùng đủ no một tháng và chỉ dành cho người nghèo khổ.
Xe ngựa vẫn còn chạy trên kinh đô xưa
Làng sen Bả Canh bên cạnh tháp Cánh Tiên - Ảnh: Trường Đăng
Chùa lồng lộng mát hơi nước sông Kôn lại rợp bóng cây cổ thụ hơn 200 năm tuổi và những báu vật như quả chuông đúc từ thế kỷ 19, câu đối của chúa Nguyễn Phúc Chu, 2.000 bản gỗ in kinh Di Đà...
Rợn ngợp trong không khí linh thiêng, hòa cùng non nước hữu tình, du khách có thể thả hồn mình ven con đường làng, qua những bàu sen để đến chùa Nhạn Sơn theo tiếng đồn linh thiêng của hai pho tượng Ông Đỏ - Ông Đen, đến nỗi đồn rằng ai có nỗi ưu phiền thế sự, xui xẻo khi chui qua Ông Đỏ - Ông Đen là mọi việc được xóa sạch...
Dấu vết xưa không chỉ còn ở di tích lịch sử mà du khách còn tha hồ thăm những làng nghề truyền thống duy trì bao đời xúm xít quanh kinh đô xưa. Từ làng gốm Vân Sơn, làng dệt, làng rèn Phương Danh, làng đúc đồng Bằng Châu, làng tiện gỗ, làng nón Gò Găng, nón ngựa Phú Gia và rất nhiều làng võ dọc sông Kôn cho thấy sự rộn ràng xe ngựa phồn hoa trên mảnh đất kinh kỳ.
TRƯỜNG ĐĂNG

Lịch um lá nhàu, món ngon miền Tây

TTO - Mỗi khi nhắc đến con lịch, những ký ức năm tháng tuổi thơ cùng bạn bè rủ nhau đi thụt lịch (móc lịch) trong tôi lại hiện về. Với người dân miền Tây, từ xưa đến nay con lịch và những món ăn từ lịch đã không còn xa lạ.
Nguyên liệu chính lịch um lá nhàu - Ảnh: T.Tâm
Lịch sinh sống quanh năm dưới những bãi bùn nơi các kênh, rạch ở đồng bằng sông Cửu Long. Lịch có hình dáng tựa con lươn bông, to nhất cỡ ngón chân cái, lưng màu đen, đuôi ngắn, dẹp, xòe ra tựa cánh quạt. Với người dân nơi đây, lịch béo ngon nhất là vào khoảng tháng 6 đến tháng 10 âm lịch.
Mùa này, chỉ cần mang cái giỏ tre, miệng có hom kín, xỏ dây lác nơi miệng giỏ buộc chặt ngang hông là đủ bộ đồ nghề đi móc lịch. Đợi khi nước dưới sông giựt, cả bọn lội xuống bãi bùn nơi mé sông, thấy chỗ nào có hang và trên miệng hang có lớp bùn non mới trào ra là lấy tay thọc sâu vào móc.
Theo y học hiện đại, thịt lịch có nhều chất đạm, chất béo, các vitamin và khoáng chất khác (vitamin A, B1, B6...), sắt, natri, kali, canxi... Theo y học dân gian, thịt lịch có tác dụng bổ khí huyết, trừ phong thấp, bổ sung dinh dưỡng cho người gầy yếu, tăng cường khả năng tình dục...
Khi đụng phải lịch thì dùng ngón tay trỏ ngoéo chặt phần lưng để lịch không cử động được và nhanh tay kéo lịch lên cho vào giỏ. Một người có kinh nghiệm và may mắn trong vài giờ có thể bắt vài ký lịch dễ dàng.
Với các bà nội trợ miệt vườn miền Tây, thịt lịch dai, béo, thơm ngon hơn lươn (nhất là phần đuôi), được chế biến thành nhiều món ăn như lịch um rau ngổ hoặc lá cách, lá lốt, xào sả ớt, kho mắm, nấu chua, làm gỏi... Và món ăn các đấng mày râu tán thưởng nhất là món lịch um lá nhàu.            
Lịch bắt được đem về dùng tro bếp vuột sạch nhớt, mổ bụng móc bỏ hết ruột, rửa sạch để ráo, cắt đôi hay để nguyên con tùy thích. Tiếp đến, ướp gia vị cho vừa khẩu vị để ngấm khoảng 15 phút. Lá nhàu dùng lá vừa ăn rửa sạch, để ra rổ cho ráo. Cho lá nhàu cùng vài tép sả đập giập lót dưới đáy nồi rồi cho lịch vào phủ lên trên một lớp lá nhàu nữa.
Cuối cùng, đổ nước cốt dừa vào đặt lên bếp um dưới ngọn lửa liu riu đến khi thấy lá nhàu ngả màu sẫm, da lịch nứt ra là chín. Lúc này, chỉ cần múc ra dĩa và rắc lên một nhúm đậu phộng rang giã giập.
Lịch um lá nhàu thơm ngon và hấp dẫn - Ảnh: T.Tâm
Nhưng nếu để thế mà dùng là một thiếu sót lớn vì không thưởng thức trọn vẹn chất lượng món ăn.
Có thể khẳng định một cách dứt khoát rằng “linh hồn” của món lịch um lá nhàu là nước chấm. Nước chấm là một hỗn hợp nhiều gia vị khác nhau như nước cốt dừa, sả băm, nước mắm, bột ngọt, ớt, đậu phộng rang giã giập... cho vào nồi nấu sôi. Và để làm cho món ăn “thăng hoa”, món nước chấm phải hơi sệt, tròn vị, mặn, béo, chua, cay và ngọt...
Dùng đũa giẽ một miếng thịt lịch cùng miếng lá nhàu chấm vào chén nước chấm đưa lên miệng nhai chậm rãi sẽ cảm nhận vị béo, ngọt, dai của thịt lịch cùng vị nhân nhẫn hậu ngọt của lá nhàu; béo béo của đậu phộng, nước cốt dừa; cay cay của sả, ớt lan tỏa vào vị giác len xuống thực quản. Và một miếng cơm nóng vào nữa thì thật tuyệt!...
Cũng cần nói thêm về lợi ích từ cây nhàu. Theo đông y, cây nhàu có tác dụng chữa bệnh rất hiệu quả (rễ, thân, lá, trái). Rễ nhàu có tác dụng nhuận tràng, lợi tiểu, làm êm dịu thần kinh giao cảm, giảm đau nhức, hạ huyết áp... Trái nhàu có tác dụng nhuận tràng, lợi tiểu... Lá nhàu có tác dụng tăng lực, hạ sốt, điều hòa kinh nguyệt... Lá nhàu non um với lịch rất tốt cho người bị suy nhược cơ thể, tráng dương, cường thận...
Nếu có dịp về đồng bằng sông Cửu Long vào mùa này, bạn hãy tìm cơ hội để thưởng thức món lịch sông um lá nhàu thơm ngon hấp dẫn này!
THANH TÂM

Đậu phụ và... buổi chiều Phố Cáo

TTO - Sống động và rộn ràng, mộc mạc và thân thiện, đó là tất cả những gì tôi đã lưu giữ lại trong ký ức với... món đậu phụ khi có dịp đi qua Phố Cáo (Đồng Văn, Hà Giang) vào đúng dịp chàng trai Mông cưới vợ, cũng là lúc đứa con đầu lòng được 1 tháng tuổi.
Phố Cáo một ngày đông đầy nắng
Một ngày đông đầy nắng. Nắng cao nguyên vàng rực trên nền trời xanh đến rút ruột, cháy đỏ và làm nứt nẻ những đôi má hồng bầu bĩnh của bọn trẻ con. Trong khi đám đàn ồng ngồi quây quần và khề khà bên niêu mèn mén, chén rượu ngô thì cánh đàn bà đang hối hả làm đậu phụ, một vài người khác đang đi sắp xếp bàn ghế. Chiều nay sẽ tổ chức tiệc mừng.
Cùng với cây ngô, người Mông vẫn trồng đỗ tương trong thung lũng, hai loại cây nông sản có giá trị quan trọng góp phần nâng cao đời sống của người dân trên miền cao nguyên đá. Nhà nào cũng có thể tự chế biến lương thực từ nguồn nông sản của chính gia đình. Bởi thế, mỗi khi nhà có việc, hàng xóm láng giềng sẽ góp công góp sức cùng với gia chủ, tự chuẩn bị đồ ăn, thức uống rồi cùng nhau chia sẻ niềm vui.
Do điều kiện gia cảnh, đám cưới của chàng trai người Mông sẽ được tổ chức giản dị. Đậu phụ là một trong những món ăn chính của bữa cơm chiều. Thông thường, người Mông sẽ ngâm đậu tương vào nước lạnh, đãi sạch trước khi cho vào cối đá xay thành bột nước, đựng trong những chiếc chậu lớn.
Ở phía ngoài đường, có hai người phụ nữ dùng gáo múc bột cho vào một túi vải dầy lớn, đứng cạnh một chiếc máng gỗ cũng lớn và chắc chắn là có tuổi với hình ảnh bóng bẩy và lên nước của nó. Họ cùng dùng tay để ấn và vắt túi bột, lọc bỏ bã đậu và thu về thứ nước đậu nành trắng trẻo, sánh, sạch, theo máng gỗ chảy xuống một chiếc chậu đã chờ sẵn.
Ngay cạnh đó là một bếp củi lửa cháy liu riu, cùng một chiếc chảo gang lớn. Bột đậu nành đã lọc (sữa đậu) được cho vào chảo và đun nóng lên, vừa đun vừa dùng muôi gỗ lớn nguấy đều chống cháy ở đáy chảo, khói bếp lẫn vào với nắng trưa tạo cho khung cảnh lao động một vẻ đẹp thật kỳ diệu.
Người phụ nữ Mông đang lọc sữa đậu bên chiếc máng gỗ lâu đời
Sữa đậu được đun trên bếp củi nhỏ lửa, khuấy nhẹ bằng muôi gỗ
Khuôn làm đậu bằng gỗ của người Mông, sữa quấy xong sẽ được đổ vào khuôn
Chảo sữa đậu luôn được khuấy đều và đến khi sôi lăn tăn thì được bắc khỏi bếp, đổ sang chậu để tiếp tục nấu mẻ sữa đậu mới. Sữa đậu trong chậu được hòa thêm với muối và chất chua để tạo kết tủa trước khi cho vào khuôn ép.
Khuôn của người Mông làm bằng gỗ, hình vuông, bên trong có lót một miếng bao bố. Sau khi dùng miếng bao này gói kín lớp sữa đậu đã đổ vào khuôn, sẽ có một chiếc vung cũng bằng gỗ được ấn vào khuôn đè lên bề mặt, ấn cho lượng nước đậu dư chảy ra ngoài.
Trẻ con và cả người lớn lúc này đều rất háo hức trước thành quả của mẻ đậu phụ. Nhiều người hớn hở cùng xúm lại để nhấc vung gỗ ra khỏi khuôn, rồi dùng dao chia lớp đậu phụ mềm mềm ấm nóng ra thành nhiều miếng nhỏ vừa ăn. Một vài người phụ nữ lấy những miếng đậu phụ vỡ bé để ăn thử hay chia cho đám trẻ trước khi chuyển cả mẻ đậu sang giá phơi trên nóc bể nước.
Quy trình đậu phụ vẫn đang tiếp tục đều đặn, không biết để làm đám cưới, gia chủ và những người hàng xóm sẽ làm bao nhiêu mẻ đậu phụ như thế này?
Hớn hở chuẩn bị dỡ mẻ đậu phụ đầu tiên
Món đậu phụ Phố Cáo làm đám cưới cho bữa cơm chiều
Say sưa ngắm nhìn và chụp ảnh công đoạn làm đậu phụ của người Mông ở Phố Cáo, tôi như quên hết tất cả những muộn phiền phố thị. Bạn đồng hành đang rón rén bước qua cái ngưỡng cửa cao, vào căn nhà tranh tối tranh sáng, nơi có những người đàn ông đang ngồi chuyện trò bên bếp lò và uống rượu.
Ai cũng nhiệt tình nhường cho anh chiếc ghế gỗ, ấn vào tay anh chiếc thìa và chỉ vào xoong mèn mén đặt giữa nhà, rồi mời anh uống một chén rượu ngô mừng cho hạnh phúc của anh con trai gia chủ. Một cảm giác ấm áp lan tỏa trong tâm hồn.
Vừa trải qua những giây phút sống động và rộn ràng ngoài kia, giờ lại được cảm nhận sự mộc mạc thân thiện truyền sang từ đôi tay nứt nẻ, đen đúa của người đàn ông đang mời tôi chén rượu trong leo lẻo. Rượu cạn môi và má tôi hồng lên.
Đôi khi, niềm vui hiện diện quá đỗi bất ngờ. Niềm hạnh phúc của một lần qua Phố Cáo.
BĂNG GIANG

Lộc An hoa anh đào vẫy gọi

Một khi đã đến biển Lộc An, bạn sẽ không muốn cất bước ra về bởi vẻ đẹp biển và đa dạng sinh vật rừng nguyên sinh ngập mặn.
Lộc An là xã thuộc huyện Đất Đỏ, cách thành phố Vũng Tàu 50 km. Trải nghiệm trên tuyến đường từ quốc lộ 51B tới Lộc An qua thị trấn Long Hải là một cái thú không nên bỏ lỡ. Bạn sẽ có cơ hội ngắm vẻ đẹp quyến rũ của rừng cây anh đào, loại hoa tưởng chừng chỉ có ở xứ sở Phù Tang.
Nếu vào đúng dịp Giáng sinh, hoa anh đào đua nhau tràn ra vệ đường, thi nhau khoe sắc với đủ màu trắng tinh, xen lẫn vàng, xanh, tím. Cảm giác lướt trên những cung đường ven biển tuyệt đẹp của Long Hải, một bên là biển, một bên là rừng hoa anh đào, vừa cảm nhận làn gió biển trong lành, mát rượi vừa nhìn ngắm hoa anh đào nở thật không có gì tuyệt vời hơn.
Hoa-anh-dao-tin-moi-truong-7392-13805265
Cung đường hoa anh đào chào đón du khách đến biển Lộc An. Ảnh: tinmoitruong
Đi qua cung đường hoa lãng mạn này, bạn sẽ đến với một trong 7 bãi biển đẹp nhất Vũng Tàu, biển Lộc An. Biển nơi đây chiếm ưu thế bởi những cung đường nước trong vắt, xanh biếc ôm gọn triền cát trắng xóa trải dài với vẻ hoang sơ, yên bình.
Muốn ra bãi biển Lộc An bạn phải dùng xuồng hoặc thúng câu băng qua một hồ nước rộng, người địa phương gọi là đùng. Điều này tạo sự thích thú cho du khách vì được lắc lư trong chiếc thúng câu rong chơi trên mặt hồ phẳng lặng. Những phương tiện chuyên chở “đặc chủng” cùng với ghế bố, dù, võng, lò nướng... đã làm nên sự khác biệt khiến du khách không thể quên mỗi khi nhớ về.
Ấn tượng nhất khi vi vu Lộc An là những cồn cát có tên là Bún Bịch – Động Điền hay còn gọi là Trảng Vua, nơi có vẻ đẹp kỳ diệu không kém gì đồi cát Mũi Né, Hòn Rơm. Bên dưới đồi cát là bờ biển mịn màng của cát màu vàng kem và dòng nước trong xanh, mát rượi. Lộc An có một đảo cát nhỏ, nằm nhô ra biển trông như một cù lao xinh đẹp. Ở vị trí này, khách có thể ngắm khung cảnh ngoạn mục của bình minh lẫn hoàng hôn trên biển.
Loc-An-2740-1380526513.jpg
Bình minh trên biển Lộc An. Ảnh: Zen Nguyễn.
Bên cạnh việc chơi đùa và thả mình vào làn nước trong xanh, Lộc An cũng là nơi phù hợp để tổ chức du lịch theo nhóm. Bạn chỉ cần thuê địa điểm cắm trại ngay tại các bãi cát ven biển với chi phí khá mềm từ 30.000 đến 50.000 đồng một người, và mang theo lều để dựng trại là có một tối team building vui vẻ mang đậm phong cách biển.
Nếu sành sỏi trong việc đi chợ, bạn cũng dễ dàng mua được hải sản ngon, tươi sống vừa được ngư dân đánh bắt với giá phải chăng, để làm bữa tiệc lửa trại ngoài trời ngay tại bờ biển. Và cũng đừng quên thưởng thức ly rượu đế do chính tay người Lộc An chưng cất nhắm với cá thòi lòi nấu me, một đặc sản chỉ Lộc An mới có.
blogspot-1-JPG-8115-1380526513.jpg
Nước biển Lộc An trong vắt nhìn tận đáy. Ảnh: blogspot
Đến với cửa biển Lộc An, bạn còn có cơ hội thăm lại điểm hẹn của đường mòn Hồ Chí Minh trên biển. Nơi đây từng là tuyến giao thông huyết mạch nối liền giữa miền Bắc và miền Đông Nam Bộ. Xung quanh Lộc An cũng có khá nhiều điểm tham quan hấp dẫn như hồ Tràm, hồ Cốc, núi Minh Đạm, suối nước nóng, bến Cát – sông Ray…
Với đà phát triển các khách sạn cao cấp có lẽ không bao lâu nữa, Lộc An sẽ ít có cơ hội giữ vẻ hoang sơ như bây giờ. Thế nên, nếu bạn là người yêu vẻ đẹp thiên nhiên thuần khiết, hãy tranh thủ đến với Lộc An bình dị để thưởng thức những ngày biển nắng, những đêm biển trăng trên vùng đất hiền hòa này.
Kim Anh

Đến Lộc An ngủ đêm, nghe gió biển

Đến đây để cảm nhận cái bao la của đất trời, cái lạnh của từng đợt gió biển, cả những trận mưa bất chợt khi trời về sáng.
Sau tất cả công đoạn chuẩn bị, đoàn chúng tôi gồm 50 người mang theo đồ ăn, khởi hành từ TP HCM đến bãi biển Lộc An cắm trại. Đường đi Lộc An rất đẹp, dọc theo quốc lộ 51B đến Bà Rịa, đi hướng Long Hải qua khu núi Minh Đạm là tới. Hai bên đường có rất nhiều hoa anh đào màu sắc rực rỡ, rất bắt mắt.
Đến Lộc An ngủ đêm, nghe gió biển
Xe rẽ vào resort Hồng Phúc (Lộc An, Xuyên Mộc, Bà Rịa) đã gần trưa. Nói resort cho "oai" chứ chúng tôi chỉ thuê khu vực cắm trại trong resort với giá 30.000 đồng một người. Cắm trại thì phải ăn cơm trại mới đúng nghĩa, song phân công người nấu nướng thì phiền và mất thời gian nên ban tổ chức đã đặt cơm ở một quán cơm gần đó với giá 15.000 đồng/phần. Bữa cơm như vậy vừa rẻ, vừa ngon, vừa tiện.
Đến Lộc An ngủ đêm, nghe gió biển
Chúng tôi tới đây vào một ngày trời khá u ám, song ai cũng ồ lên ngạc nhiên với vẻ đẹp của biển, với bãi cát phẳng lì, rừng dương, đặc biệt là với khu vực cắm trại rất rộng. Điểm cộng thứ hai là bãi biển không có hàng quán. Ngôi nhà gần nhất cũng cách đó khoảng 5km nên không gian khá yên tĩnh. Đến lúc này, cả đoàn mới hiểu tại sao trưởng đoàn lại cẩn thận chuẩn bị nhiều đồ ăn, bánh kẹo, nước uống… đến thế.
Đến Lộc An ngủ đêm, nghe gió biển
Khu cắm trại khá rộng.
Đến Lộc An ngủ đêm, nghe gió biển
Bảng tên lều được trang trí bằng vỏ ốc.

Cắm trại xong, cả đoàn bắt đầu chơi trò chơi. Mọi trò "điên cuồng" như chuyền trái cây cho cả đội bằng miệng, khiêng người qua lỗ sao cho không có bất cứ thứ gì trên người đụng vào dây, ôm trọng tài ném xuống biển… kéo dài đến từ chiều đến đêm để chuyển sang phần dịch mật mã cổ điển với quy định oái ăm “mỗi người trong đội phải bắt được một chú còng”. Biển đêm không trăng, ai cũng tận dụng đèn pin của điện thoại để bắt nhưng, những chú còng gió đúng như tên gọi phóng như gió nên chẳng dễ bắt. Cuối cùng, cả đám nghĩ ra cách kết hợp 3, 4 người thành một nhóm mới vây bắt được.
Đến Lộc An ngủ đêm, nghe gió biển
Chuyền trái cây cho đồng đội bằng miệng.
Đến nửa đêm, cái mệt của chuyến đi cùng việc chạy chơi suốt cả ngày khiến không ai còn mở mắt nổi, nên đều “lăn” vào lều ngủ. Ban ngày bãi biển đã nhiều gió, ban đêm còn lồng lộng hơn. Từng đợt thổi thông thốc vào lều mang theo hơi lạnh và vị mặn của biển khiến ai cũng vội trùm thêm tấm áo, cái mền. Mà đâu phải chỉ đối phó với gió, còn phải đối phó với đám muỗi vo ve đeo bám suốt đêm, cả cơn mưa khi trời về sáng khiến một nhóm phải di tản sang lều của nhóm khác. Khổ sở là vậy nhưng sáng ra, cả bọn đều dậy thật sớm, ngắm mặt trời mọc rồi lao xuống biến ngâm mình trong làn nước mát rượi.
Đến Lộc An ngủ đêm, nghe gió biển
Từ TP HCM ra Lộc An khoảng 120km. Bạn có thể đến bằng tuyến xe Sài Gòn - Bình Châu với giá 70.000 đồng/ người tại bến xe Miền Đông. Chi phí dự trù cho đi kiểu dạng cắm trại khoảng 300.000 - 500.000/ người. Hoặc bạn có thể đi theo tour, mỗi tour 2 ngày 2 đêm có giá từ 1 triệu đến 1,5 triệu đồng/ người. Dù đi tour hay tự túc cũng nên chuẩn bị theo đồ ăn, nước uống.
Đến Lộc An ngủ đêm, nghe gió biển
Cuối cùng cũng có nắng.
Đến Lộc An ngủ đêm, nghe gió biển
Một góc khác của resort.
Theo Bưu điện Việt Nam

Đám ma của người Mông đen

Mỗi người đến viếng đều gùi 10-20 kg thóc, một bình rượu trắng khoảng 5-10 lít và 50 nghìn tiền mặt đưa cho gia chủ. Nếu đưa 100 nghìn, chủ sẽ trả lại 50 nghìn.
Bản Cát Cát cách thị trấn Sa Pa (huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai) hơn 3 km vòng qua mấy quả đồi. Đường vào bản quanh co heo hút, uốn theo con suối Mường Hoa thuộc dãy Hoàng Liên Sơn. Tuy cách thị trấn không xa, nhưng bản làng người Mông đen ở đây vẫn mang đậm những nét hoang sơ vốn có.
Do mấy ngày mưa liên tục nên đường vào bản bùn ngập ngang mắt cá chân, ngổn ngang những vết chân người lẫn với cả phân trâu. Những người tới dự đám ma một cô gái trong bản đều mang ủng vì đường rất trơn và bẩn.
Tới nhà có tang mà không khí như trong một lễ hội. Những người say rượu ngồi la liệt từ đầu cổng, tới hiên nhà, mé ngoài chuồng trâu. Trong nhà người người chen nhau quanh chiếc trống lớn tùng tùng và tiếng khèn Mông dặt dìu.
catcat-8822-1385688913.jpg
Bản Cát Cát, Sa Pa, Lào Cai. Ảnh: baolaocai
Theo anh Giàng A Chừ (43 tuổi), đám tang là làm cho người sống vui vẻ, bởi người chết sẽ về thiên đường cùng ông bà tổ tiên. Tùy theo nguyên nhân của cái chết như thế nào sẽ có cách thức tổ chức đám ma riêng. Có sự khác biệt lớn giữa người chết già, người chết trẻ, người chết tại nhà hay người chết do tai nạn ngoài đường, ngoài rừng.
Với cái chết của người già, người thân được giữ xác từ 3 đến 5 ngày tùy theo gia đình giàu hay nghèo. Người chết được thay quần áo và bỏ xác vào quan tài trước khi chôn. Đối với những người trẻ khi chết đi, người ta không cho thi thể vào quan tài ngay, mà để nguyên xác chết giữa nhà rồi tổ chức đám tang. Sau đó khiêng ra ngoài rừng, mới bắt đầu đào huyệt và ghép quan tài. Với người không may chết ngoài đường, ngoài rừng người Mông đen sẽ dựng lán ngoài sân, ngoài vườn để làm đám tang, tuyệt đối không đem xác vào nhà.
Mỗi người trong bản đến viếng đám ma đều mang trên lưng một gùi lớn đựng từ 10 đến 20 kg thóc, một bình rượu trắng khoảng 5 đến 10 lít và 50 nghìn tiền mặt đưa cho gia chủ. Nếu đưa 100 nghìn, nhà chủ sẽ trả lại cho khách 50 nghìn chứ không lấy thêm.
Những người thân, bạn bè đến tiễn đưa người chết, họ bước vào nhà đem theo chai rượu đến trước mặt người chết để làm lễ. Họ rót rượu từ trong bình của mình mời người chết, bằng cách đặt sát vào môi, rồi xoay chén rượu 3 vòng trên mặt. Sau đó họ tung hai tấm thẻ tre nhỏ để biết người chết nhận lễ hay không, tới khi hai mặt tấm thẻ cùng sấp hay cùng ngửa có nghĩa là đã đồng ý, rồi đổ rượu vào chiếc thùng gỗ.
Trong đám ma của người Mông đen ở Sa Pa những người thân vui vẻ nói chuyện và uống rượu suốt những ngày làm đám. Bên cạnh đó là những thợ khèn, thợ trống nhảy múa suốt ngày đêm. Họ liên tục mời nhau uống rượu theo vòng, cứ người này mời người kia cho tới khi mệt và say.
nguoimong-2603-1385688914.jpg
Những phụ nữ người Mông đen. Ảnh: vuisongmoingay
Trong đám tang này, cô gái mới 25 tuổi, chết do bệnh nặng và không có điều kiện thuốc thang. Sau khi phát hiện cô đã chết trên giường, người anh trai nhanh chóng thông báo cho bà con trong bản, bằng cách bắn hai phát súng kíp lên trời.
Người trong bản đều biết tín hiệu này là báo có người mới chết. Sau đó, thầy mo được mời về để làm lễ, người chết được thay váy áo và giày mới, chân được bó bằng một tấm vải. Tuy nhiên, chân người chết được bó bằng vải màu trắng, chứ không phải vải đen như những người phụ nữ H'Mông vẫn bó chân thường ngày.
Nghi lễ thứ nhất gọi là lễ Ngựa tức là đưa xác người chết lên treo giữa nhà để cúng. Họ dùng ván gỗ Pơ Mu hoặc hai đoạn tre dài được ghép lại với nhau thành tấm bằng những sợi dây rừng cho người chết nằm.
Họ buộc chân và phần thân người chết trong tư thế nằm ngủ, trên người phủ rất nhiều quần áo chỉ để hở chân và mặt. Ngoài ra, họ buộc một con gà trống vào thân một cây nỏ cùng một con dao rồi cúng cho người chết.
Lễ thứ hai trong đám tang người Mông đen là lễ mổ trâu, mổ lợn, tùy theo gia đình giàu hay nghèo mà lễ vật lớn hay nhỏ. Họ đem trâu, lợn tới với ngụ ý giao cho người chết, sau đó sẽ giết thịt làm đồ cúng và chia cho những người tới dự đám tang.
Ngoài ra, những người thân thiết, bạn bè có nhã ý muốn cúng tiến trâu, lợn cho người chết có thể đem lễ vật tới. Sau khi làm lễ giao cho người chết, phần thịt được chia cho nhà chủ phần chân sau và cái đuôi, phần còn lại được chia cho những người tới tham dự.
sapa1-9672-1385688914.jpg
Người nhà làm lễ trước khi đem xác đi chôn. Ảnh: VTC
Đến ngày thứ ba, mọi người trong bản vẫn tiếp tục uống rượu, ăn uống và nhảy múa bên xác người chết. Không khí ngột ngạt bởi mùi rượu, mùi thịt và đám đông trong gian nhà sàn chật hẹp.
Ngày giờ chôn cất được gia đình và thầy mo sắp đặt. Họ thường chôn vào lúc sáng sớm khi chưa có ánh mặt trời hoặc chôn vào buổi chiều muộn. Trước khi đưa xác ra khỏi nhà, họ làm lễ cúng giao các đồ vật để người chết mang theo. Các xâu tiền vàng được đem đốt giữa nhà, sau đó họ gói tro vào một tờ giấy đặt vào thùng gỗ đựng đồ ăn của người chết.
Những thanh niên bắt đầu chặt sợi dây buộc chiếc cáng tre nơi người chết nằm. Họ khiêng trên vai, lúc này những que nhang mới bắt đầu được đốt, để những người thân trong gia đình quỳ lạy ngoài cửa. Họ khiêng xác chết đi rất nhanh qua rừng, dường như vừa đi vừa chạy, theo sau là rất đông người trong bản đi xem chôn cất.
Nơi chôn cất cách xa nhà khoảng 2 km, trên một khu đồi tre xanh tốt. Những người phụ nữ chỉnh sửa trang phục cho người chết một lần nữa. Trong khi đó những người đàn ông bắt đầu đào huyệt mộ.
Thầy mo lẩm nhẩm một bài cúng bí truyền rồi tung 2 chiếc thẻ tre tới khi hai mặt đều nhau, sau đó lấy chiếc khăn đỏ bỏ vào ngực áo của người chết rồi mới đậy nắp quan tài.
Trước đó một lát, những người phụ nữ không ai bảo ai đã chạy về bản rất nhanh. Sau khi đóng nắp quan tài, chỉ còn những thanh niên trẻ ở lại lấp mộ. Họ vừa lấp vừa chia nhau những chén rượu cuối cùng. Khi lấp xong những người thanh niên còn lại cũng chạy đi rất nhanh, như sợ bị ma đuổi.
Sau khi chôn cất được 12 ngày, người nhà sẽ mời thầy mo về làm lễ cúng một lần nữa. Đây là lễ mời người chết về thăm nhà, giúp linh hồn người chết ra đi thanh thản, không trở về làm hại những người thân trong gia đình.
Kể từ đây người chết sẽ vĩnh viễn ra đi và những người còn sống rất ít khi nhắc tới họ bởi người Mông đen không có tập tục thờ cúng tổ tiên. Chỉ khi nào có các dịp lễ lớn hay có người trong nhà hay đau ốm thì họ mới làm lễ cúng cầu may mắn và gọi hồn người chết về lại thăm nhà.
Theo VTC