Thứ Tư, 1 tháng 1, 2014

Người Mạ: Nếu loạn luân, trai gái phải trần truồng, ăn ở máng heo

Người Mạ hôn nhân theo chế độ phụ quyền, đàn ông là người chủ quyết định mọi việc trong gia đình và đại diện cho gia đình trong mọi quan hệ với xóm làng.

Trong hôn nhân họ tuân thủ rất nghiêm ngặt luật lệ của buôn làng, ít có trường hợp li dị và vi phạm lệ làng.

Cho phép đàn ông lấy vợ lẽ

Ở người Mạ, hôn nhân một vợ, một chồng bền vững, vợ chồng gắn bó với nhau rất sâu nặng, tuy xã hội người Mạ cho phép người đàn ông có vợ lẽ, nhưng hiện tượng cưới vợ lẽ không nhiều. Đa số đàn ông lấy vợ lẽ là do yêu cầu của công việc hơn là vì thói ong bướm.

Thường những người cưới vợ lẽ là những người giàu, có cơ ngơi rộng lớn (nhiều vườn, ruộng, gia súc) cần có thêm người để chăm nom, coi sóc, phần lớn là chủ làng.

Họ có thể lấy bất cứ người phụ nữ nào, thế nhưng đàn ông người Mạ thích lấy em vợ làm vợ lẽ, được như vậy thì gia đình vẫn hòa thuận, vợ cả và vợ lẽ đều cùng chung sức chăm lo vun vén cho gia đình. Trường hợp này người Mạ rất quý và gia đình phía người vợ rất sẵn sàng chấp nhận để cả hai hoặc ba chị em cùng lấy một chồng.

Trong hôn nhân, người Mạ không cho phép kết hôn lẫn lộn trật tự anh em, ví như người anh lấy cô em làm vợ, thì người em không thể lấy chị của vợ anh mình được. Trường hợp vi phạm này bị trừng phạt nặng như tội loạn luân trong một dòng máu.

Từ quan hệ thông gia mật thiết như trên, dẫn đến chồng chết, vợ được lấy em chồng hoặc vợ chết, chồng được lấy em vợ, nếu hai bên đều nhất trí để bảo vệ tài sản của gia đình lớn. Thông thường khi chồng hay vợ chết, người góa phải để tang một năm. Tuy nhiên người chồng có thể miễn tuân theo luật tục này và có thể tái hôn khi chưa miễn hạn tang, nếu anh ta được gia đình người vợ quá cố cho phép hoặc anh ta lấy chị em gái của người vợ quá cố.

Những “quy tắc” hôn nhân được áp dụng cả đối với bản thân và gia đình anh em, chị em kết nghĩa, cha con kết nghĩa hay cha đỡ đầu và con cháu của họ cũng phải tuân thủ những “quy tắc” này.

Cấm hôn nhân cận huyết thống

Cũng giống như người Kinh, chế độ hôn nhân ở người Mạ cấm ngặt việc lấy nhau trong dòng họ gần như con chú, con bác ruột và con dì. Nếu vi phạm sẽ phải chịu trừng phạt rất nghiêm, vì tội loạn luân này đôi trai gái phải trần truồng ăn vào máng heo trước sự chứng kiến của dân làng, giống như trường hợp giao hợp với thú vật.

Trường hợp đôi trai gái này yêu thương nhau đến mức không thể bỏ nhau được, họ có thể dẫn nhau đến một vùng đất xa để chung sống. Sau thời gian làm lụng, tích lũy được ít vốn họ có thể quay về làng cũ mua một con heo hoặc trâu để chịu phạt. Heo hoặc trâu này được mang trình cúng và mời cả làng cùng ăn, sau đó gia đình và làng xóm mới bỏ qua chuyện cũ.
Họ nhà trai mang lễ vật đến nhà gái.
Họ nhà trai mang lễ vật đến nhà gái.
Trước kia, chế độ hôn nhân ở người Mạ thường có quan hệ hôn nhân trong bộ tộc, ngày nay trong quan hệ hôn nhân người Mạ đã cho phép con gái trong làng được lấy chồng xa. Con trai thuộc dân tộc khác hoặc dân tộc Mạ nhưng ở buôn khác muốn cưới vợ trong buôn, phải đến ở nhà gái, vừa làm việc với dân làng để sinh sống, vừa giúp đỡ nhà gái.

Sau hai hoặc ba năm, khi nhà gái và buôn làng có cảm tình tốt với chàng trai, thì gia đình nhà gái với già làng mới cho phép tổ chức cưới. Thường sau khi cưới vợ, chàng trai ở hẳn bên buôn của vợ và gia đình mới được gây dựng này trở thành thành viên của buôn làng.

Đa số phụ nữ người Mạ có chồng sớm. Mười ba tuổi đã có thể gả chồng và thường họ lấy chồng vào năm mười lăm tuổi. Vợ chồng người Mạ gắn bó với nhau không chỉ vì tình cảm yêu thương đơn thuần. Họ quan niệm vợ chồng lấy nhau được xem như chuôi dao với lưỡi dao, như lửa với tro, nên ít có tình trạng chồng hoặc vợ ngoại tình, để dẫn đến li dị nhau. Ngoại tình được coi như một trọng tội và bị luật tục trừng phạt.

Xử phạt nghiêm khi li dị

Ở người Mạ vợ chồng li dị nhau là một vấn đề rất hệ trọng đối với đôi vợ chồng và cả hai họ thông gia. Tình trạng ly hôn ít xảy ra trong các làng người Mạ, khi vợ chồng ly hôn phải được chủ làng chấp thuận mới hợp thức theo phong tục Mạ. Những lý do thường dẫn đến li dị như vợ hoặc chồng ngoại tình, bỏ bê nhiệm vụ trong gia đình, hay một trong hai người tuyệt đường sinh sản, có những bất hòa dẫn đến chửi mắng đánh đập nhau…

Người gây ra việc li dị bị xử phạt rất nghiêm, nhất là trong trường hợp đã có con. Ngoại tình bị coi là trọng tội. Kẻ gian dâm vừa phải phạt vạ để tạ tội với thần linh, vừa phải bồi thường cho người bị phụ tình một số tài sản theo sự xét xử của tòa án phong tục.
Lễ chạm trán cho cô dâu, chú rể. Ảnh: Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng.
Lễ chạm trán cho cô dâu, chú rể. Ảnh: Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng.
Chuyện xét xử không chỉ do họ hàng mà còn do hội đồng già làng thu xếp một cách rất thận trọng, do việc li dị của hai người, thường dẫn đến sự cắt đứt quan hệ tốt đẹp giữa hai họ đã trở thành thông gia. Mà theo “quy tắc” hôn nhân của người Mạ, hai họ thông gia trong cùng một thế hệ được khuyến khích kết hôn qua lại.

Khi cặp vợ chồng người Mạ li dị, nếu người chồng bỏ vợ thì theo luật lệ của buôn làng người chồng phải để lại tất cả của cải, nhà cửa, ruộng vườn cho người vợ và ra đi tay không, về với gia đình cha mẹ của mình.

Trường hợp hai vợ chồng đã có con với nhau, đứa con sẽ quyết định, nó thích sống với ai và người cha hoặc mẹ phải có trách nhiệm nuôi nấng. Đứa bé còn nhỏ thì nhất định phải sống với mẹ. Nếu vợ quyết định bỏ chồng, người vợ cũng phải để lại tất cả tài sản cho chồng và ra về nhà cha mẹ tay không như trường hợp chồng bỏ vợ. Sau khi chia tay nhau, hai người đều có thể tự do tiếp tục cuộc hôn nhân mới. 

Người Mạ hôn nhân theo chế độ phụ quyền, đàn ông là người chủ quyết định mọi việc trong gia đình và đại diện cho gia đình trong mọi quan hệ với xóm làng.

Trong hôn nhân họ tuân thủ rất nghiêm ngặt luật lệ của buôn làng, ít có trường hợp li dị và vi phạm lệ làng.

Cho phép đàn ông lấy vợ lẽ

Ở người Mạ, hôn nhân một vợ, một chồng bền vững, vợ chồng gắn bó với nhau rất sâu nặng, tuy xã hội người Mạ cho phép người đàn ông có vợ lẽ, nhưng hiện tượng cưới vợ lẽ không nhiều. Đa số đàn ông lấy vợ lẽ là do yêu cầu của công việc hơn là vì thói ong bướm.

Thường những người cưới vợ lẽ là những người giàu, có cơ ngơi rộng lớn (nhiều vườn, ruộng, gia súc) cần có thêm người để chăm nom, coi sóc, phần lớn là chủ làng.

Họ có thể lấy bất cứ người phụ nữ nào, thế nhưng đàn ông người Mạ thích lấy em vợ làm vợ lẽ, được như vậy thì gia đình vẫn hòa thuận, vợ cả và vợ lẽ đều cùng chung sức chăm lo vun vén cho gia đình. Trường hợp này người Mạ rất quý và gia đình phía người vợ rất sẵn sàng chấp nhận để cả hai hoặc ba chị em cùng lấy một chồng.

Trong hôn nhân, người Mạ không cho phép kết hôn lẫn lộn trật tự anh em, ví như người anh lấy cô em làm vợ, thì người em không thể lấy chị của vợ anh mình được. Trường hợp vi phạm này bị trừng phạt nặng như tội loạn luân trong một dòng máu.

Từ quan hệ thông gia mật thiết như trên, dẫn đến chồng chết, vợ được lấy em chồng hoặc vợ chết, chồng được lấy em vợ, nếu hai bên đều nhất trí để bảo vệ tài sản của gia đình lớn. Thông thường khi chồng hay vợ chết, người góa phải để tang một năm. Tuy nhiên người chồng có thể miễn tuân theo luật tục này và có thể tái hôn khi chưa miễn hạn tang, nếu anh ta được gia đình người vợ quá cố cho phép hoặc anh ta lấy chị em gái của người vợ quá cố.

Những “quy tắc” hôn nhân được áp dụng cả đối với bản thân và gia đình anh em, chị em kết nghĩa, cha con kết nghĩa hay cha đỡ đầu và con cháu của họ cũng phải tuân thủ những “quy tắc” này.

Cấm hôn nhân cận huyết thống

Cũng giống như người Kinh, chế độ hôn nhân ở người Mạ cấm ngặt việc lấy nhau trong dòng họ gần như con chú, con bác ruột và con dì. Nếu vi phạm sẽ phải chịu trừng phạt rất nghiêm, vì tội loạn luân này đôi trai gái phải trần truồng ăn vào máng heo trước sự chứng kiến của dân làng, giống như trường hợp giao hợp với thú vật.

Trường hợp đôi trai gái này yêu thương nhau đến mức không thể bỏ nhau được, họ có thể dẫn nhau đến một vùng đất xa để chung sống. Sau thời gian làm lụng, tích lũy được ít vốn họ có thể quay về làng cũ mua một con heo hoặc trâu để chịu phạt. Heo hoặc trâu này được mang trình cúng và mời cả làng cùng ăn, sau đó gia đình và làng xóm mới bỏ qua chuyện cũ.
Họ nhà trai mang lễ vật đến nhà gái.
Họ nhà trai mang lễ vật đến nhà gái.
Trước kia, chế độ hôn nhân ở người Mạ thường có quan hệ hôn nhân trong bộ tộc, ngày nay trong quan hệ hôn nhân người Mạ đã cho phép con gái trong làng được lấy chồng xa. Con trai thuộc dân tộc khác hoặc dân tộc Mạ nhưng ở buôn khác muốn cưới vợ trong buôn, phải đến ở nhà gái, vừa làm việc với dân làng để sinh sống, vừa giúp đỡ nhà gái.

Sau hai hoặc ba năm, khi nhà gái và buôn làng có cảm tình tốt với chàng trai, thì gia đình nhà gái với già làng mới cho phép tổ chức cưới. Thường sau khi cưới vợ, chàng trai ở hẳn bên buôn của vợ và gia đình mới được gây dựng này trở thành thành viên của buôn làng.

Đa số phụ nữ người Mạ có chồng sớm. Mười ba tuổi đã có thể gả chồng và thường họ lấy chồng vào năm mười lăm tuổi. Vợ chồng người Mạ gắn bó với nhau không chỉ vì tình cảm yêu thương đơn thuần. Họ quan niệm vợ chồng lấy nhau được xem như chuôi dao với lưỡi dao, như lửa với tro, nên ít có tình trạng chồng hoặc vợ ngoại tình, để dẫn đến li dị nhau. Ngoại tình được coi như một trọng tội và bị luật tục trừng phạt.

Xử phạt nghiêm khi li dị

Ở người Mạ vợ chồng li dị nhau là một vấn đề rất hệ trọng đối với đôi vợ chồng và cả hai họ thông gia. Tình trạng ly hôn ít xảy ra trong các làng người Mạ, khi vợ chồng ly hôn phải được chủ làng chấp thuận mới hợp thức theo phong tục Mạ. Những lý do thường dẫn đến li dị như vợ hoặc chồng ngoại tình, bỏ bê nhiệm vụ trong gia đình, hay một trong hai người tuyệt đường sinh sản, có những bất hòa dẫn đến chửi mắng đánh đập nhau…

Người gây ra việc li dị bị xử phạt rất nghiêm, nhất là trong trường hợp đã có con. Ngoại tình bị coi là trọng tội. Kẻ gian dâm vừa phải phạt vạ để tạ tội với thần linh, vừa phải bồi thường cho người bị phụ tình một số tài sản theo sự xét xử của tòa án phong tục.
Lễ chạm trán cho cô dâu, chú rể. Ảnh: Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng.
Lễ chạm trán cho cô dâu, chú rể. Ảnh: Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng.
Chuyện xét xử không chỉ do họ hàng mà còn do hội đồng già làng thu xếp một cách rất thận trọng, do việc li dị của hai người, thường dẫn đến sự cắt đứt quan hệ tốt đẹp giữa hai họ đã trở thành thông gia. Mà theo “quy tắc” hôn nhân của người Mạ, hai họ thông gia trong cùng một thế hệ được khuyến khích kết hôn qua lại.

Khi cặp vợ chồng người Mạ li dị, nếu người chồng bỏ vợ thì theo luật lệ của buôn làng người chồng phải để lại tất cả của cải, nhà cửa, ruộng vườn cho người vợ và ra đi tay không, về với gia đình cha mẹ của mình.

Trường hợp hai vợ chồng đã có con với nhau, đứa con sẽ quyết định, nó thích sống với ai và người cha hoặc mẹ phải có trách nhiệm nuôi nấng. Đứa bé còn nhỏ thì nhất định phải sống với mẹ. Nếu vợ quyết định bỏ chồng, người vợ cũng phải để lại tất cả tài sản cho chồng và ra về nhà cha mẹ tay không như trường hợp chồng bỏ vợ. Sau khi chia tay nhau, hai người đều có thể tự do tiếp tục cuộc hôn nhân mới.

Rừng "loạn luân" và bí ẩn lời nguyền trăm năm chưa có lời giải

.

Truyền thuyết kể rằng, đồi Cư HLăm theo tiếng Ê Đê, thì Cư có nghĩa là rừng, Lăm là loạn luân. Dịch đúng ra là rừng loạn luân hoặc rừng Đin - Hoan...

    Trải qua những cuộc kiến tạo địa chất cộng với sự hồi sinh của vạn vật, dấu tích cuộc trừng phạt "mối tình loạn luân" năm xưa vẫn còn nguyên vẹn ở Sình đỉa. Đồi Cư HLăm vẫn khoác trên mình lời nguyền bí ẩn của anh em nhà Đin – Hoan.

    Chiến tranh và những lần cuồng bạo của thiên nhiên cũng không thể xóa được “dấu vết” sự trừng phạt của Giàng. Sự thèm khát khai phá “tài sản rừng” của con người cũng đã bị lời nguyền trăm năm này kìm hãm và khuất phục.
    Một góc đồi thiêng Cư HLăm.
    Một góc đồi thiêng Cư HLăm.

    Mối tình "loạn luân" đầy oan trái

    Buôn Mắp (thị trấn Ea Pốc, huyện Cư MNga, tỉnh Đắk Lắk) nằm tựa lưng vào đồi Cư HLăm linh thiêng và huyền bí. Không khí hối hả cho vụ mùa cà phê dường như nặng trĩu trên những chiếc gùi. Già làng Y Ruê Mlô (67 tuổi) rắn rỏi, vạm vỡ. Già cười vang khi có người nhắc đến truyền thống văn hóa của dân tộc mình.

    Tổ tiên của già sinh ra ở buôn Mắp này, bao đời nay, sống cũng ở đây và chết cũng ở đây. Nhìn về đồi Cư HLăm sừng sững, bao trọn lời nguyền của các đấng thần linh, già Y Ruê không giấu nổi niềm tự hào.

    Truyền thuyết kể rằng, đồi Cư HLăm theo tiếng Ê Đê, thì Cư có nghĩa là rừng, Lăm là loạn luân. Dịch đúng ra là rừng loạn luân hoặc rừng Đin - Hoan. Thuở đó, trong buôn có hai anh em ruột là Y Đin và HHoan mồ côi cha mẹ từ nhỏ. Yêu thương gần gũi, chia ngọt sẻ bùi trong những lúc khó khăn, hoạn nạn đã khiến hai anh em nảy sinh tình cảm. Họ yêu nhau vượt qua giới hạn tình máu mủ, tình yêu khiến đất lở, đá mòn. Rồi họ bị dân làng phát hiện.

    Tình yêu ấy đã động chạm đến luật tục của bản làng, khiến Giàng nổi giận. Hội đồng già làng, chức sắc đã họp lại với nhau quyết định trừng phạt thật nghiêm khắc anh em Đin - Hoan. Bắt anh em Đin - Hoan phải nộp phạt một con trâu trắng làm lễ tế thần linh và Giàng. Vì gia cảnh khốn cùng, anh em Đin – Hoan không thể tìm đâu ra trâu trắng nộp phạt. Họ được chiếu cố cho làm lễ cúng bằng lợn trắng. Toàn bộ dân bản có mặt để chứng kiến cảnh Giàng trừng phạt mối tình loạn luân của hai anh em mồ côi Đin - Hoan.

    Trên một bãi đất trống dưới chân cánh rừng già, lễ giết heo trắng tế Giàng diễn ra rầm rộ, chiêng trống đánh ầm vang khắp vùng. Heo trắng bị quấn chặt bụng, quấn hai chân chỉ để chừa ra chiếc thủ cốc. Heo trắng bị nướng trên đống lửa, già làng rạch bụng lấy bộ lòng làm sạch cúng lên thần linh. Hai anh em Đin - Hoan bị trói quỳ vào cây cột đóng giữa bãi đất trống. Lễ cúng đang diễn ra, đột nhiên mây đen ùn ùn kéo về, sấm chớp giật lóe sáng cả bản.

    Con heo trắng bỗng nhiên vùng dậy, kéo đứt bó dây cuốn quanh bụng, chồm ra khỏi đống lửa đang hun. Heo trắng chạy vòng quanh bản làng, nó chạy đến đâu đất lở đến đó. Dân làng nháo nhào bỏ chạy nhưng không kịp, trong tích tắc vòng chạy của heo đã khoanh tròn diện tích đất bản. Đất ầm ầm rung chuyển, tiếng la hét thất kinh náo loạn. Toàn bộ con người, nhà cửa chứng kiến lễ cúng Giàng hôm đó bị chôn vùi.

    Chứng tích của buổi lễ cúng thần linh sau đó chỉ còn một bãi sình lầy. Người ta bước đi trên đó, nước bập bùng không chạm đáy. Nhiều thập kỷ trôi qua, đám sình lầy ấy không một ai dám khai hoang trồng tỉa, nước trong vắt, mát lạnh nhưng tuyệt nhiên không có một loài cá sinh sống. Sình lầy chỉ toàn là đỉa và vắt. Đỉa to bằng ngón tay ngón chân người lớn, lúc nhúc đen kịt.

    Người ta đi làm rẫy gần đó, ngồi nghỉ cách vài trăm mét còn nghe tiếng lao xao của vắt bò trên lá khô. Khu rừng già không tên sau đó được đổi thành đồi Cư HLăm (rừng loạn luân), còn bãi sinh lầy hoang hóa, bí ẩn tự nhiên mà có người ta gọi là Sình đỉa. Già làng Y Ruê bảo, đỉa không tự nhiên mà có, cái gì cũng phải có nguyên do của nó. Các đời già làng đi trước đều đồn đoán rằng, đỉa là do hồn ma của dân làng ngày xưa từng chứng kiến cảnh trừng phạt anh em Đin – Hoan.

    Lời nguyền Cư HLăm

    Già làng Y Ruê kể rằng, bất cứ ai có ý đồ đen tối, nhằm trục lợi từ đồi Cư HLăm đều phải đền tội. Người nào tự ý vào rừng thì ngay lập tức bị lạc không biết đường ra, lạc vài ngày cũng có. Ngày xưa, người Kinh không quan tâm đến lời nguyền, tự ý vào chặt gỗ phá rừng, bỗng nhiên từ trong hốc cây cổ thụ ANatônlôn (tên gọi một loài cây của người Ê Đê) bay ra những con đại bàng mỏ đen xòa cánh hung tợn.

    Đại bàng nhào xuống giáng cặp mỏ nhọn hoắm vào đầu người lấy gỗ. Những cái chết tức tưởi ngay giữa rừng xanh, một số người chạy được về nhà bị ám ảnh dẫn đến điên loạn cả đời. Riêng bà con trong buôn làng, thì sức mạnh của lời nguyền đã thẩm thấu vào trong dòng máu từ thế hệ này qua thế hệ khác. Họ tôn sùng và sợ hãi với đồi Cư HLăm.

    Ai lên đồi chặt cây dù lớn dù nhỏ về làm nhà thì y như rằng, chỉ được ít hôm, ngôi nhà tự nhiên cháy rụi hoặc chẳng hiểu lý do gì mà bị sập lún. Người nào săn bắn thú hoang trong rừng, về nhà không gặp tai nạn cũng bị ốm liệt giường.

    Già lấy dẫn chứng anh Y Ban Mlô, một hôm đi lên đồi tìm măng. Anh cứ đi mải miết trong rừng mà không ra được. Đến chiều tối chạng vạng, người nhà không thấy anh về thì đổ xô đi tìm. Họ phong tỏa khắp đồi Cư HLăm, hú gọi mải miết đều bặt vô âm tín. Từ trong lòng đồi, Y Ban nhìn thấy tất cả, anh nghe rõ tiếng gọi nhưng anh gọi lại thì lại chẳng có ai nghe. Anh quay cuồng trong đó cảm giác như có một thế lực nào đó cản mắt, kéo chân và làm lu mờ tâm trí.

    Người nhà làm lễ cúng thần, đọc thần chú khẩn cầu Giàng giải thoát cho đứa con đang mắc tội của bản được trở về nhà. Tự nhiên, những hàng cây chắn đường trước mặt Y Ban mở ra thành con đường mòn, phía trước mặt có ánh sáng bìa rừng, Y Ban mừng rỡ chạy một mạch ra khỏi rừng.

    Già làng Y Ruê bật mí thêm, ngoài câu thần chú thì còn một cách khác mà người đi rừng có thể tự giải thoát cho mình. Đó là tự xé rách một cách tay áo, buộc vào cành cây trong rừng rồi đọc thần chú. Tôi ngỏ ý muốn biết câu thần chú đó như thế nào, thì già Y Ruê xua tay bảo: “Không tiết lộ được đâu, đây là bảo bối của dân làng mà. Giàng chỉ cho người của bản mới biết thôi”.

    Buôn Bắp được di dời ra gần tỉnh lộ 8, gần hơn với đồi Cư HLăm. Dân bản sống ôn hòa, đoàn kết, được thần rừng che chở mang khí hậu tốt lành, mang điềm may mắn quanh năm. Già làng Y Ruê tự hào khẳng định điều đó. Bởi, già nghiệm thấy, trong gần hết cuộc đời của già, bão tố, lụt lội, hạn hán đã xảy ra ở ngay bản làng kia hay cánh rừng nọ trong huyện Cư MNga, nhưng chưa bao giờ xảy ra với bà con sống xung quanh đồi Cư HLăm.

    Bí ẩn chưa có lời giải
    Toàn bộ diện tích đồi Cư HLăm chỉ khoảng hơn chục hécta, toàn bộ gỗ rừng, sản vật và thú hoang của rừng đều nguyên vẹn. Với đà khai phá, săn bắt như vũ bão những năm 80, 90 của thế kỷ trước, đã có rất nhiều cánh rừng già, rừng nguyên sinh của vùng Tây Nguyên bị con người xóa sổ. Xóa đến tận cùng, nguy cơ diệt vong nhiều loài động vật và gỗ quý đã được báo trước.

    Rừng ngày một lùi xa con người, nương rẫy bản làng tấn công vào tận ngọn nguồn, cày sâu vào trong lòng rừng xanh đã và đang dẫn đến những hệ lụy khôn lường về môi trường.
    Già làng Y Ruê bên một gốc cây đại thụ trên đồi Cư HLăm.
    Già làng Y Ruê bên một gốc cây đại thụ trên đồi Cư HLăm.

    Nhưng rừng Cư HLăm nằm cách trung tâm TP Buôn Ma Thuật chỉ hơn 10 km, nằm tiếp giáp với tỉnh lộ 8, được bao bọc bởi sự sống của các bản làng, khu dân cưngày một đông đúc đang vươn mình trỗi dậy, mà rừng thì vẫn còn nguyên vẹn. Có những cây cổ thụ cả chục người ôm không xuể, những loài động vật bình yên thỏa thê sải cánh sinh trưởng.

    Đồi Cư HLăm ngoài sự bảo hộ của thần rừng thần núi, thì nó còn linh thiêng bởi mối tình loạn luân oan trái của hai anh em Đin – Hoan. Linh hồn của họ vẫn ngày đêm bám rừng, sẵn sàng trừng phạt những đứa con không nghe lời của mẹ thiên nhiên, như ngày xưa họ vì tình yêu mà làm xoay trở đạo lý khiến thần linh trừng phạt.

    Dẫn tôi đi lên đồi Cư HLăm để trải nghiệm cảm giác lạc lõng giữa chốn u tịch, hoang dã hiếm có, già Y Ruê tiết lộ về một lời giải có thể “qua mặt” thần linh. Ai đó trước khi vào rừng, thì phải chọn một cái bóng điện tròn còn nguyên vẹn chôn sâu dưới gốc cây. Quan sát trong một ngày, thấy bóng điện trồi lên khỏi mặt đất, có nghĩa thần linh đã chấp nhận cho người đó vào rừng. Còn bóng điện không nổi lên, thần linh không chịu, anh ta chớ có vào mà gặp tai họa. Cách hóa giải này, một số người trong bản đã thực nghiệm và đều trôi chảy, không bị lạc trong rừng.

    Lời nguyền trên đồi Cư HLăm cho đến bây giờ chưa ai lý giải nổi, nhưng ở khía cạnh tâm linh thì nó đã trở thành sức mạnh cứu rỗi sự hủy diệt rừng xanh từ phía con người. Ngày xưa, người ta sợ đến mức không dám đọc đúng tên của hai anh em Đin – Hoan ra.

    Những năm trở lại đây, bắt đầu có sự manh nha xâm lấn của con người. Nhiều vạt ngô, khoai xanh mơn mởn trồi lên mấp mé bìa rừng, có những nương ngô lấn lên tận sườn đồi. Già Y Ruê bảo: “Thôi thì để bà con mượn tạm đất rừng để kiếm chút lương thực cải thiện cuộc sống. Họ cũng chỉ dám mon men ở bìa rừng thôi chứ chưa dám xâm phạm đến “hồn thiêng” Cư HLăm đâu”.

    Già Y Ruê cười đầy mãn nguyện, già có vốn học thức sâu rộng, hiện đang giữ chức Phó Chủ tịch Hội Người cao tuổi thị trấn Ea Pốc. Trong suy nghĩ của mình, già làng luôn hiểu, đồi Cư HLăm vẫn còn đó. Già tin có một lời nguyền mang sức mạnh huyền bí đã đẩy lùi dã tâm hủy diệt rừng xanh của loài người, nhưng trong tiềm thức khoa học, già khẳng định chắc chắn một điều rằng, bảo vệ đồi Cư HLăm cũng chính là bảo vệ lá phổi cho buôn làng, bảo vệ sự sống của chính mình

    Truyền thuyết kể rằng, đồi Cư HLăm theo tiếng Ê Đê, thì Cư có nghĩa là rừng, Lăm là loạn luân. Dịch đúng ra là rừng loạn luân hoặc rừng Đin - Hoan...

    Trải qua những cuộc kiến tạo địa chất cộng với sự hồi sinh của vạn vật, dấu tích cuộc trừng phạt "mối tình loạn luân" năm xưa vẫn còn nguyên vẹn ở Sình đỉa. Đồi Cư HLăm vẫn khoác trên mình lời nguyền bí ẩn của anh em nhà Đin – Hoan.

    Chiến tranh và những lần cuồng bạo của thiên nhiên cũng không thể xóa được “dấu vết” sự trừng phạt của Giàng. Sự thèm khát khai phá “tài sản rừng” của con người cũng đã bị lời nguyền trăm năm này kìm hãm và khuất phục.
    Một góc đồi thiêng Cư HLăm.
    Một góc đồi thiêng Cư HLăm.

    Mối tình "loạn luân" đầy oan trái

    Buôn Mắp (thị trấn Ea Pốc, huyện Cư MNga, tỉnh Đắk Lắk) nằm tựa lưng vào đồi Cư HLăm linh thiêng và huyền bí. Không khí hối hả cho vụ mùa cà phê dường như nặng trĩu trên những chiếc gùi. Già làng Y Ruê Mlô (67 tuổi) rắn rỏi, vạm vỡ. Già cười vang khi có người nhắc đến truyền thống văn hóa của dân tộc mình.

    Tổ tiên của già sinh ra ở buôn Mắp này, bao đời nay, sống cũng ở đây và chết cũng ở đây. Nhìn về đồi Cư HLăm sừng sững, bao trọn lời nguyền của các đấng thần linh, già Y Ruê không giấu nổi niềm tự hào.

    Truyền thuyết kể rằng, đồi Cư HLăm theo tiếng Ê Đê, thì Cư có nghĩa là rừng, Lăm là loạn luân. Dịch đúng ra là rừng loạn luân hoặc rừng Đin - Hoan. Thuở đó, trong buôn có hai anh em ruột là Y Đin và HHoan mồ côi cha mẹ từ nhỏ. Yêu thương gần gũi, chia ngọt sẻ bùi trong những lúc khó khăn, hoạn nạn đã khiến hai anh em nảy sinh tình cảm. Họ yêu nhau vượt qua giới hạn tình máu mủ, tình yêu khiến đất lở, đá mòn. Rồi họ bị dân làng phát hiện.

    Tình yêu ấy đã động chạm đến luật tục của bản làng, khiến Giàng nổi giận. Hội đồng già làng, chức sắc đã họp lại với nhau quyết định trừng phạt thật nghiêm khắc anh em Đin - Hoan. Bắt anh em Đin - Hoan phải nộp phạt một con trâu trắng làm lễ tế thần linh và Giàng. Vì gia cảnh khốn cùng, anh em Đin – Hoan không thể tìm đâu ra trâu trắng nộp phạt. Họ được chiếu cố cho làm lễ cúng bằng lợn trắng. Toàn bộ dân bản có mặt để chứng kiến cảnh Giàng trừng phạt mối tình loạn luân của hai anh em mồ côi Đin - Hoan.

    Trên một bãi đất trống dưới chân cánh rừng già, lễ giết heo trắng tế Giàng diễn ra rầm rộ, chiêng trống đánh ầm vang khắp vùng. Heo trắng bị quấn chặt bụng, quấn hai chân chỉ để chừa ra chiếc thủ cốc. Heo trắng bị nướng trên đống lửa, già làng rạch bụng lấy bộ lòng làm sạch cúng lên thần linh. Hai anh em Đin - Hoan bị trói quỳ vào cây cột đóng giữa bãi đất trống. Lễ cúng đang diễn ra, đột nhiên mây đen ùn ùn kéo về, sấm chớp giật lóe sáng cả bản.

    Con heo trắng bỗng nhiên vùng dậy, kéo đứt bó dây cuốn quanh bụng, chồm ra khỏi đống lửa đang hun. Heo trắng chạy vòng quanh bản làng, nó chạy đến đâu đất lở đến đó. Dân làng nháo nhào bỏ chạy nhưng không kịp, trong tích tắc vòng chạy của heo đã khoanh tròn diện tích đất bản. Đất ầm ầm rung chuyển, tiếng la hét thất kinh náo loạn. Toàn bộ con người, nhà cửa chứng kiến lễ cúng Giàng hôm đó bị chôn vùi.

    Chứng tích của buổi lễ cúng thần linh sau đó chỉ còn một bãi sình lầy. Người ta bước đi trên đó, nước bập bùng không chạm đáy. Nhiều thập kỷ trôi qua, đám sình lầy ấy không một ai dám khai hoang trồng tỉa, nước trong vắt, mát lạnh nhưng tuyệt nhiên không có một loài cá sinh sống. Sình lầy chỉ toàn là đỉa và vắt. Đỉa to bằng ngón tay ngón chân người lớn, lúc nhúc đen kịt.

    Người ta đi làm rẫy gần đó, ngồi nghỉ cách vài trăm mét còn nghe tiếng lao xao của vắt bò trên lá khô. Khu rừng già không tên sau đó được đổi thành đồi Cư HLăm (rừng loạn luân), còn bãi sinh lầy hoang hóa, bí ẩn tự nhiên mà có người ta gọi là Sình đỉa. Già làng Y Ruê bảo, đỉa không tự nhiên mà có, cái gì cũng phải có nguyên do của nó. Các đời già làng đi trước đều đồn đoán rằng, đỉa là do hồn ma của dân làng ngày xưa từng chứng kiến cảnh trừng phạt anh em Đin – Hoan.

    Lời nguyền Cư HLăm

    Già làng Y Ruê kể rằng, bất cứ ai có ý đồ đen tối, nhằm trục lợi từ đồi Cư HLăm đều phải đền tội. Người nào tự ý vào rừng thì ngay lập tức bị lạc không biết đường ra, lạc vài ngày cũng có. Ngày xưa, người Kinh không quan tâm đến lời nguyền, tự ý vào chặt gỗ phá rừng, bỗng nhiên từ trong hốc cây cổ thụ ANatônlôn (tên gọi một loài cây của người Ê Đê) bay ra những con đại bàng mỏ đen xòa cánh hung tợn.

    Đại bàng nhào xuống giáng cặp mỏ nhọn hoắm vào đầu người lấy gỗ. Những cái chết tức tưởi ngay giữa rừng xanh, một số người chạy được về nhà bị ám ảnh dẫn đến điên loạn cả đời. Riêng bà con trong buôn làng, thì sức mạnh của lời nguyền đã thẩm thấu vào trong dòng máu từ thế hệ này qua thế hệ khác. Họ tôn sùng và sợ hãi với đồi Cư HLăm.

    Ai lên đồi chặt cây dù lớn dù nhỏ về làm nhà thì y như rằng, chỉ được ít hôm, ngôi nhà tự nhiên cháy rụi hoặc chẳng hiểu lý do gì mà bị sập lún. Người nào săn bắn thú hoang trong rừng, về nhà không gặp tai nạn cũng bị ốm liệt giường.

    Già lấy dẫn chứng anh Y Ban Mlô, một hôm đi lên đồi tìm măng. Anh cứ đi mải miết trong rừng mà không ra được. Đến chiều tối chạng vạng, người nhà không thấy anh về thì đổ xô đi tìm. Họ phong tỏa khắp đồi Cư HLăm, hú gọi mải miết đều bặt vô âm tín. Từ trong lòng đồi, Y Ban nhìn thấy tất cả, anh nghe rõ tiếng gọi nhưng anh gọi lại thì lại chẳng có ai nghe. Anh quay cuồng trong đó cảm giác như có một thế lực nào đó cản mắt, kéo chân và làm lu mờ tâm trí.

    Người nhà làm lễ cúng thần, đọc thần chú khẩn cầu Giàng giải thoát cho đứa con đang mắc tội của bản được trở về nhà. Tự nhiên, những hàng cây chắn đường trước mặt Y Ban mở ra thành con đường mòn, phía trước mặt có ánh sáng bìa rừng, Y Ban mừng rỡ chạy một mạch ra khỏi rừng.

    Già làng Y Ruê bật mí thêm, ngoài câu thần chú thì còn một cách khác mà người đi rừng có thể tự giải thoát cho mình. Đó là tự xé rách một cách tay áo, buộc vào cành cây trong rừng rồi đọc thần chú. Tôi ngỏ ý muốn biết câu thần chú đó như thế nào, thì già Y Ruê xua tay bảo: “Không tiết lộ được đâu, đây là bảo bối của dân làng mà. Giàng chỉ cho người của bản mới biết thôi”.

    Buôn Bắp được di dời ra gần tỉnh lộ 8, gần hơn với đồi Cư HLăm. Dân bản sống ôn hòa, đoàn kết, được thần rừng che chở mang khí hậu tốt lành, mang điềm may mắn quanh năm. Già làng Y Ruê tự hào khẳng định điều đó. Bởi, già nghiệm thấy, trong gần hết cuộc đời của già, bão tố, lụt lội, hạn hán đã xảy ra ở ngay bản làng kia hay cánh rừng nọ trong huyện Cư MNga, nhưng chưa bao giờ xảy ra với bà con sống xung quanh đồi Cư HLăm.

    Bí ẩn chưa có lời giải
    Toàn bộ diện tích đồi Cư HLăm chỉ khoảng hơn chục hécta, toàn bộ gỗ rừng, sản vật và thú hoang của rừng đều nguyên vẹn. Với đà khai phá, săn bắt như vũ bão những năm 80, 90 của thế kỷ trước, đã có rất nhiều cánh rừng già, rừng nguyên sinh của vùng Tây Nguyên bị con người xóa sổ. Xóa đến tận cùng, nguy cơ diệt vong nhiều loài động vật và gỗ quý đã được báo trước.

    Rừng ngày một lùi xa con người, nương rẫy bản làng tấn công vào tận ngọn nguồn, cày sâu vào trong lòng rừng xanh đã và đang dẫn đến những hệ lụy khôn lường về môi trường.
    Già làng Y Ruê bên một gốc cây đại thụ trên đồi Cư HLăm.
    Già làng Y Ruê bên một gốc cây đại thụ trên đồi Cư HLăm.

    Nhưng rừng Cư HLăm nằm cách trung tâm TP Buôn Ma Thuật chỉ hơn 10 km, nằm tiếp giáp với tỉnh lộ 8, được bao bọc bởi sự sống của các bản làng, khu dân cưngày một đông đúc đang vươn mình trỗi dậy, mà rừng thì vẫn còn nguyên vẹn. Có những cây cổ thụ cả chục người ôm không xuể, những loài động vật bình yên thỏa thê sải cánh sinh trưởng.

    Đồi Cư HLăm ngoài sự bảo hộ của thần rừng thần núi, thì nó còn linh thiêng bởi mối tình loạn luân oan trái của hai anh em Đin – Hoan. Linh hồn của họ vẫn ngày đêm bám rừng, sẵn sàng trừng phạt những đứa con không nghe lời của mẹ thiên nhiên, như ngày xưa họ vì tình yêu mà làm xoay trở đạo lý khiến thần linh trừng phạt.

    Dẫn tôi đi lên đồi Cư HLăm để trải nghiệm cảm giác lạc lõng giữa chốn u tịch, hoang dã hiếm có, già Y Ruê tiết lộ về một lời giải có thể “qua mặt” thần linh. Ai đó trước khi vào rừng, thì phải chọn một cái bóng điện tròn còn nguyên vẹn chôn sâu dưới gốc cây. Quan sát trong một ngày, thấy bóng điện trồi lên khỏi mặt đất, có nghĩa thần linh đã chấp nhận cho người đó vào rừng. Còn bóng điện không nổi lên, thần linh không chịu, anh ta chớ có vào mà gặp tai họa. Cách hóa giải này, một số người trong bản đã thực nghiệm và đều trôi chảy, không bị lạc trong rừng.

    Lời nguyền trên đồi Cư HLăm cho đến bây giờ chưa ai lý giải nổi, nhưng ở khía cạnh tâm linh thì nó đã trở thành sức mạnh cứu rỗi sự hủy diệt rừng xanh từ phía con người. Ngày xưa, người ta sợ đến mức không dám đọc đúng tên của hai anh em Đin – Hoan ra.

    Những năm trở lại đây, bắt đầu có sự manh nha xâm lấn của con người. Nhiều vạt ngô, khoai xanh mơn mởn trồi lên mấp mé bìa rừng, có những nương ngô lấn lên tận sườn đồi. Già Y Ruê bảo: “Thôi thì để bà con mượn tạm đất rừng để kiếm chút lương thực cải thiện cuộc sống. Họ cũng chỉ dám mon men ở bìa rừng thôi chứ chưa dám xâm phạm đến “hồn thiêng” Cư HLăm đâu”.

    Già Y Ruê cười đầy mãn nguyện, già có vốn học thức sâu rộng, hiện đang giữ chức Phó Chủ tịch Hội Người cao tuổi thị trấn Ea Pốc. Trong suy nghĩ của mình, già làng luôn hiểu, đồi Cư HLăm vẫn còn đó. Già tin có một lời nguyền mang sức mạnh huyền bí đã đẩy lùi dã tâm hủy diệt rừng xanh của loài người, nhưng trong tiềm thức khoa học, già khẳng định chắc chắn một điều rằng, bảo vệ đồi Cư HLăm cũng chính là bảo vệ lá phổi cho buôn làng, bảo vệ sự sống của chính mình

    Trung tâm văn hóa Huyền Trân - chốn Thiên thai giữa cõi trần

    Kiến trúc theo lối truyền thống: trụ biểu vươn cao, nền móng kiên cố, lương đống vững chắc, điện thờ tôn nghiêm, Trung tâm văn hóa Huyền Trân nguyên là đền thờ Huyền Trân công chúa, được khởi công xây dựng lại vào năm 2006.

      Trung tâm văn hóa Huyền Trân hiện tọa lạc tại 151 đường Thiên Thai, phường An Tây, TP.Huế. Năm 2006, nhân kỷ niệm 700 năm mảnh đất Thuận Hóa – Phú Xuân – Thừa Thiên Huế, đền thờ Huyền Trân công chúa, được xây dựng lại nhưng vẫn giữ được nét kiến trúc truyền thống độc đáo xưa kia.

      Theo bài phụng soạn Bia ký tại đền thờ Huyền Trân công chúa viết: "Ngôi đền tọa lạc phía Nam sông Hương, cách kinh thành Huế chừng vài dặm, tương truyền là nơi danh thắng phước địa. Kiến trúc theo lối truyền thống: trụ biểu vươn cao, nền móng kiên cố, lương đống vững chắc, điện thờ tôn nghiêm. Phía sau, thế núi Ngũ Phong trấn giữ. Phía trước, dòng tiểu khê quây thành hồ Trường Xuân soi bóng nhật nguyệt, sơn mạch tả hữu trườn xuống như hai bức trường thành.

      Nội điện đặt tượng Huyền Trân, hậu điện phối thờ các bậc công thần mở nước. Sân sau xây lầu bát giác, dựng tượng Ni sư, mở vườn Bồ Đề; sau nữa là điện Trúc Lâm, nhà đọc sách, tượng Di Lặc, miếu Sơn thần, Thủy thần, gác chuông Hòa Bình… tất cả tạo thành một Trung tâm văn hóa tâm linh ở chốn Thiên Thai”.


      Đến với Trung tâm văn hóa Huyền Trần, chúng ta như lạc vào chốn Thiên thai, với phong cảnh hữu tình, của thông xanh, của không khí thiền. Tại đây còn có đôi rồng chầu trước điện thờ vua cha của công chúa Huyền Trân là điện thơ vùa Trân Nhân Tông, đôi rồng chầu được ghi vào sách Kỷ lục Việt Nam với chiều dài108 mét, tương đương với chiều cao của ngọn núi Ngũ Phong.

      Sau khi viếng thăm các công trình văn hóa dưới chân núi Ngũ Phong, bước tiếp theo sẽ là chinh phục tháp chuông Hoà Bình trên đỉnh núi Ngũ Phong, sau 246 bậc cấp, bạn đã đến được với tháp chuông Hòa Bình, thắp một nén hương, đánh một tiếng chuông cầu nguyện cho cuộc sống bình yên cho gia đình, quê hương và thế giới.

      Nghe tiếng chuông trên núi, xung quanh là rừng thông, âm thanh thật linh diệu, thấy tâm hồn an lạc bình yên. Từ đây có thể nhìn toàn cảnh thành phố sông Huế bên dòng sông Hương chậm chậm trôi, nhìn núi Ngự Bình như hư như thực, cảm giác như lạc vào chốn thiên thai.
       
      Cổng vào đền Huyền Trân
      Điện thờ công chúa Huyền Trân
      Lầu bát giác với tượng ni sư Hương Tràng
      Tượng ni sư Hương Tràng
      Đôi rồng chầu bên lối vào điện thờ vua Trần Nhân Tông
      Đôi rồng chầu kỷ lục Việt Nam
      Điện thờ vua Trần Nhân Tông
      Tượng đức vua Trần Nhân Tông trong điện thờ
      Tượng Di Lặc trong trung tâm văn hóa Huyên Trân
      Đường lên tháp chuông Hòa Bình
      Tháp chuông Hòa Bình
      Chuông Hòa Bình
      Núi Ngự Bình nhìn từ tháp chuông Hòa Bình

      Mẫu Ỷ Lan và đền Tạm Thương ở Hà Nội

      Trong giao tiếp và trong huyền thoại, văn học, tôn giáo từ Mẫu để chỉ một nhân vật nữ được suy tôn do đức hạnh và công sức đóng góp cho đời, cho dân.

        Ở nước ta, từ các làng vùng đồng bằng cho đến miền núi, miền biển tại khắp các phủ, đền, chùa đều có thờ Mẫu Liễu Hạnh với 3 ngôi; đã có nhiều ý kiến, công trình, sách, truyện nghiên cứu, mô phỏng nhân vật hư, thực trên. Riêng Mẫu Ỷ Lan đã được thờ tại hàng trăm đền, chùa lại là một nhân vật có thật trong lịch sử nước ta, một nữ lưu kiệt xuất được lưu danh, ghi nhận trong sử sách từ cổ tới nay với đền thờ ngay giữa thủ đô Hà Nội.


        Mẫu Ỷ Lan: từ thôn nữ đến Hoàng thái hậu - hai lần nhiếp chính

        Theo sử sách ghi rõ: Ỷ Lan tên thật là Lê Thị Khiết, sinh ngày 7 tháng 3 năm Giáp Thân 1044, mất ngày 25 tháng 7 năm Đinh Dậu 1117; con ông Lê Công Thiết, mẹ là bà Vũ Thị Tỉnh ở làng Thổ Lỗi (tên Nôm là làng Sủi), năm lên 10 tuổi mẹ mất, bố lấy vợ kế; có tiếng là người con gái xinh đẹp và chăm ngoan, hiếu học và thông minh (được bố và sư chùa làng dạy chữ).

        Theo Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT), vào năm Quý Mùi 1063, bấy giờ vua Lý Thánh Tông tuổi đã 40 mà chưa có con trai nối dõi, đi chùa Dâu Keo cầu tự, dân đổ đến chúc, xem xa giá, duy có một người con gái hái dâu vẫn đứng nép bên bụi cỏ lan, vua truyền gọi đến nàng ứng đáp linh hoạt, lại thùy mị, xinh đẹp, được vua ưng ý nên đưa về kinh đặt tên là Ỷ Lan. Lúc đầu cho ở ngoài cung trong một dinh cơ ở làng Yên Thái (nay là phố Yên Thái thuộc phường Hàng Bông - Hà Nội).

        Ba năm sau, tháng giêng năm Bính Ngọ 1066, Ỷ Lan sinh được con trai, vua mừng rỡ ngay hôm sau lập làm Hoàng thái tử Càn Đức và phong Ỷ Lan làm Nguyên phi. Từ khi vào cung, Ỷ Lan rất chăm lo học tập lại chăm chỉ công việc, hướng dẫn các cung nữ, phi tần trong việc thêu thùa, dệt may; xếp đặt mọi việc trong cung nên chẳng bao lâu được trong cung và các triều thần tôn trọng, vị nể, nhà vua rất yêu. Năm Kỷ Dậu 1069, vua thân chinh đi đánh Chiêm Thành, giao cho Nguyên phi Ỷ Lan làm nhiếp chính cùng Thái sư Lý Đạo Thành thay vua lo mọi công việc của đất nước.

        Năm ấy có lụt lớn, dân đói sinh nạn trộm cướp nhiều nơi; nguyên phi quyết định mở kho lấy thóc cấp cho dân bị nạn, qua đó hết trộm cướp, dân tình được yên bình, ca ngợi công đức của Ỷ Lan coi như Phật bà Quan âm tái thế. Trong khi đó, vua Lý Thánh Tông đi đánh Chiêm, lại lo tình hình trong nước nên đem quân về, đến châu Cự Liên (nay là Hưng Yên) nghe nhân dân ca ngợi nguyên phi nội trị được vững vàng yên ổn, vua nói: “Nguyên phi là đàn bà còn làm được như thế, ta là nam nhi lại chẳng được việc gì hay sao” (ĐVSKTT), bèn quay lại đánh Chiêm, bắt được vua Chiêm là Chế Củ. Tháng 7 năm ấy, Chiêm xin dâng 3 châu Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính (nay là đất Quảng Bình, Quảng Trị) nên vua tha cho Chế Củ về.

        Năm Canh Tuất, Lý Thánh Tông cho xây dựng Văn Miếu (còn tồn tại đến nay) và đưa Hoàng thái tử Càn Đức đến đó học, năm sau xây tháp và chùa trên núi Tiên Du (Bắc Ninh) được cho là có công sức lớn của Ỷ Lan vì bà không chỉ là người sùng đạo Phật mà cũng rất trọng Nho giáo và việc học hành.

        Năm Nhâm Tý 1072, Lý Thánh Tông mất, Hoàng thái tử Càn Đức lên nối ngôi tức vua Lý Nhân Tông, lúc đó mới lên 7 tuổi, Hoàng hậu họ Dương làm Hoàng thái hậu, giữ quyền nhiếp chính cùng Thái sư Lý Đạo Thành. Trước tình hình vua còn nhỏ, tình hình trong nước không ổn định, Chiêm Thành đã mang quân chiếm lại 2 châu cũ, Vương An Thạch là tể tướng nhà Tống cho rằng nước ta đang suy yếu nên sai Thẩm Khởi và Lưu Di tập hợp quân mã, đóng thuyền bè tại Quế Châu chuẩn bị sang xâm chiếm. Ỷ Lan đã giành lại quyền chính, tự làm nhiếp chính; đưa Lý Thường Kiệt làm Thái úy, tổng chỉ huy quân đội để đảm bảo an ninh đất nước, tuy sau đó đã bức tử Thượng Dương hoàng hậu và hơn 70 cung nữ, để lại vết đen phải sám hối đến cuối đời; theo lập luận của Hoàng Xuân Hãn đây là cuộc đảo chính thực sự cần thiết và kịp thời…

        Thái hậu Linh Nhân (Ỷ Lan) cũng quên việc riêng lại đưa Lý Đạo Thành về kinh làm Thái phó Bình Chương quân quốc trọng sự, chăm lo nội trị để Lý Thường Kiệt chuyên lo về quân sự. Để ngăn phá âm mưu xâm lược của nhà Tống, theo ĐVSKTT, Lý Thường Kiệt đã chủ động đưa 10 vạn quân đi đánh châu Khâm, châu Liêm và vây châu Ung trên đất Tống; Đô giám Quảng Tây là Trương Thủ Tiết đem quân đi giải cứu, bị Lý Thường Kiệt đón đánh ở ải Côn Lôn chém chết Thủ Tiết tại Nam Ninh ngày nay. Sau 40 ngày cố thủ, thành Ung Châu bị hạ, tri châu là Tô Giám tự tử theo thành; quân ta bắt được hàng vạn tù binh.

        Năm sau, Bính Thìn 1076, nhà Tống lại sai Quách Quỳ (một tướng nổi tiếng được viết thành truyện Chinh đông, chinh tây ở Trung Quốc) cùng Triệu Tiết hợp với quân Chiêm Thành và Chân Lạp sang đánh báo thù. Quân ta lập chiến tuyến trên sông Như Nguyệt (tức sông Cầu) cố thủ. Sau gần tháng trời, quân Tống suy yếu, đến đêm tại đền thờ Trương Hống, Trương Hát vang lên bài thơ thần: “Nam quốc sơn hà Nam đế cư/ Tiệt nhiên định phận tại thiên thư/ Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm/ Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”.

        Sáng hôm sau Lý Thường Kiệt đưa quân qua sông phản công, quả nhiên trước khí thế quân ta, quân Tống thua phải rút chạy về nước. Năm sau ta lại đưa quân sang đánh châu Khâm và châu Liêm, bắt được hàng vạn tù binh. Năm Mậu Ngọ, vua Tống phải trả cho ta châu Quảng Nguyên (tức Cao Bằng) để đổi lấy tù binh. Sau đó Lý Thường Kiệt lại đánh Chiêm Thành, buộc vua nước ấy là Chế Ma Na phải nộp lại đất Quảng Bình, Quảng Trị (xưa Chế Củ đã dâng nộp cho ta); từ đấy đất nước mới trở lại thái bình.

        Trong suốt nhiều năm nhiếp chính lần thứ hai này, từ khi Lý Nhân Tông còn nhỏ cho đến khi vua trưởng thành đã thể hiện rõ rệt tài năng, đức độ và những đóng góp to lớn của Mẫu Ỷ Lan tức Linh Nhân hoàng thái hậu với đất nước, tạo nên một thời kỳ thịnh trị triều Lý với những chiến công hiển hách phá Tống, bình Chiêm rực rỡ nhất trong lịch sử nước ta mà có nhà sử học còn gọi là thời đại Ỷ Lan; thái hậu cũng thể hiện đức độ, tài năng trong việc trị nước.

        Trên cương vị sử thần, Ngô Sĩ Liên ghi lại việc mùa xuân năm Quý Mùi 1103, Mẫu Ỷ Lan lấy tiền ở kho Nội phủ để chuộc những người con gái nhà nghèo phải bán đi ở, đem gả cho đàn ông nghèo không có vợ, đã viết: “…Thái hậu đổi đời cho họ thật là việc làm nhân chính” (ĐVSKTT). Cũng theo Mẫu Ỷ Lan, một số làng ở Bắc Ninh nay còn giữ tập tục: mồng 1 Tết thưởng công cho trâu một miếng bánh chưng sau khi cúng; theo truyền thuyết nhân ngày tết Mẫu Ỷ Lan đến thăm một gia đình nông dân, gia chủ dâng Thái hậu bánh chưng, Mẫu xuống chuồng cho mỗi con trâu một miếng bánh rồi mới ăn với giải thích vì “trâu là đầu cơ nghiệp của nhà nông”.

        Để giải thích việc Thái hậu ở ngôi cao tuyệt đỉnh mà vẫn thông cảm, gần gũi với tầng lớp bình dân nghèo khổ, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng ngoài đức độ cần lưu ý đến nguồn gốc và lòng mộ đạo của Ỷ Lan.

        Trong sử sách và truyền thuyết đều nêu rõ Mẫu Ỷ Lan rất sùng đạo Phật, không chỉ thể hiện thường xuyên đến cầu kinh tại các chùa mà còn xây dựng nhiều chùa chiền ở khắp nơi mà có người cho là để sám hối về việc giết Dương hoàng hậu và hơn 70 cung nữ (theo sưu tầm đã phát hiện đến gần 100 ngôi chùa do Mẫu Ỷ Lan xây dựng).

        Ngoài việc xây dựng chùa, Mẫu còn có đóng góp quan trọng trong việc tìm hiểu, xác định nguồn gốc đạo Phật ở nước ta. Theo Thiền uyển tập anh, cuốn sách cổ về đạo Phật nước ta, nêu rõ qua cuộc đàm đạo giữa Mẫu Ỷ Lan với các vị quốc sư thời Lý Nhân Tông tại chùa Trấn Quốc đã tạo cơ sở cho việc hình thành cuốn sách nói về đạo Phật thời Lý và các thời trước nữa. Sách còn ghi sau khi đàm đạo với quốc sư Thông Biện về những tôn chỉ của đạo Thiền, Ỷ Lan đã viết bài kệ, còn gọi là Kệ Sắc Không.

        BÀI KỆ SẮC KHÔNG

        Phiên âm Hán-Việt:

        Sắc thị không, không tức sắc,

        Không thị sắc, sắc tức không

        Sắc không quân bất quản,

        Phương đắc khế chân tông.

        Bản dịch:

        Sắc là không, không tức sắc,

        Không là sắc, sắc tức không.

        Sắc không đều chẳng quản,

        Mới được hợp chân tông.

        Với bài kệ trên Mẫu Ỷ Lan đã được các nhà nghiên cứu văn học Việt xếp vào hàng tác gia văn học thời Lý-Trần.

        Đền, đình Tạm Thương, Yên Thái

        Đền Tạm Thương nay là đình Yên Thái, nơi thờ Mẫu Ỷ Lan có liên quan đến chuyện Thái giám Nguyễn Bông.

        Thái giám Nguyễn Bông vừa là truyền thuyết vẫn còn phổ cập đến nay, vừa là chuyện thật được ghi chép trong chính sử từ gần 1.000 năm trước. Theo ĐVSKTT quyển III, năm Quý Mão - Chương Thánh Gia Khánh thứ 5 (1063) ghi: “Bấy giờ vua xuân thu đã nhiều, muốn có con trai, sai Bông (Thái giám Nguyễn Bông) đem hương cầu tự ở chùa Thánh Chúa. Nhà sư dạy cho Bông thuật đầu thai thác hóa, Bông nghe theo. Việc phát giác đem chém Bông ở trước cửa chùa. Người sau gọi chỗ ấy là đồng Bông. Chùa ở xã Dịch Vọng huyện Từ Liêm…”.

        Ỷ Lan khi được vua đưa về kinh, chỉ ở tạm tại làng Yên Thái, gần cửa Nam thành và giao cho Thái giám Nguyễn Bông phục vụ, vua vẫn thường xuyên lui tới với Ỷ Lan. Một hôm Ỷ Lan tố giác với vua Nguyễn Bông đã lén nhìn trộm khi nàng đang tắm. Vua bèn kết tội Bông bị chém như trong Toàn Thư đã ghi. Trước khi chết Bông tâu do nhà sư hướng dẫn thuật đầu thai thoát xác để mong vua có con trai chứ không dám phạm thượng; vua cho triệu đến, nhà sư xác nhận và để làm tin sau này xin ghi chữ “càn” trên lưng xác Bông (theo một truyền thuyết khác là rạch một vệt ở ngón chân phải để làm dấu). Sau đó Ỷ Lan có mang, được đưa vào cung và sinh con trai, khi mới sinh ra đã có chữ “càn” trên lưng nên vua đặt tên là Thái tử Càn Đức.

        Sáu năm sau, Lý Thánh Tông băng hà, Thái tử Càn Đức nối ngôi là vua Lý Nhân Tông, Mẫu Ỷ Lan thành Linh Nhân hoàng hậu. Thái giám Nguyễn Bông được giải oan và vua cho làm lễ xá tội. Thần tích làng Sủi (tên Nôm làng Thổ Lỗi) ghi: vua cho sứ về Lỗi hương mang sắc minh oan cho ông Bông vào ngày 3 tháng 3. Nhân dân đã lập miếu thờ, hiện nay không còn, nhưng hàng năm vào ngày 3 tháng 3 làng Sủi (nay là làng Phú Thị) vẫn tổ chức ngày hội Bông - Sòng với ý nghĩa chúc mừng Thái giám Nguyễn Bông được sòng phẳng xóa bỏ tội.

        Chuyện Nguyễn Bông - Ỷ Lan nguyên phi và vua nhà Lý nằm trong mô típ chuyện dân gian Việt Nam về “mang thai tâm linh” phổ cập từ lâu: Mẹ Gióng chỉ ướm chân mình lên vết chân trên tảng đá mà có thai sinh ra Thánh Gióng, bà Man Nương ngủ ở sân chùa Dâu Keo, nhà sư Ấn Độ lỡ bước qua người mà sinh ra một bọc với 4 phật: Pháp vân, Pháp vũ, Pháp lôi, Pháp điện và ngay thời nhà Lý, vua Lý Thần Tông cũng là hóa thân của Từ Đạo Hạnh nên chuyện Nguyễn Bông cũng dễ dàng được dân ta tiếp nhận.

        Chuyện Thái giám Nguyễn Bông và câu chuyện tình giữa vua Lý Thánh Tông và cô thôn nữ làng Sủi không chỉ đưa đến Mẫu Ỷ Lan, Linh Nhân thái hậu, nữ lưu nổi danh trong lịch sử với hai lần thay vua nhiếp chính mà để lại cho Thăng Long - Hà Nội một di tích còn lưu lại đến nay.

        Ta đã biết vua Lý Thánh Tông trên đường đi cầu tự gặp được cô thôn nữ đem lòng yêu mến đưa về kinh thành nhưng chưa thể hay chưa dám đưa ngay vào cung, nên cho xây lầu Động Tiên ở cạnh đình làng Yên Thái để sớm tối gặp gỡ chờ dịp đưa vào cung. Không rõ có phải khi biết vua để Ỷ Lan ở tạm trước khi vào cung nên dân gọi nơi đó là tạm thương và đến nay tại phố Yên Thái có ngõ Tạm Thương?

        Theo Nguyễn Vĩnh Phúc thì tên ngõ Tạm Thương do đây là nơi các thương gia xưa để hàng trước khi đưa ra bán; cũng có ý kiến đây là nơi tạm để thương binh khi Pháp đánh thành Hà Nội trước khi chuyển về các làng xa. Tuy nhiên cả hai ý trên đều không đưa ra nguồn tư liệu; tôi cũng cố gắng tìm hiểu trên thư tịch và hỏi mấy vị đã ở lâu năm tại đây nhưng cũng chưa thể xác định được nguồn gốc cũng như thời gian xuất hiện địa danh nên mạnh dạn đưa ra: nơi thờ Mẫu Ỷ Lan: đền - đình Yên Thái ở ngõ Tạm Thương nay liên quan đến câu chuyện tình thi vị mà có thực trong lịch sử từ ngàn năm trước.

        Làng Yên Thái (còn gọi là An Thái) có từ thời Lý nằm gần cửa Nam của thành Thăng Long xưa, phố Yên Thái ở chính ngay vị trí của làng, trước thuộc tổng Thuận Mỹ - huyện Thọ Xương; nay thuộc phường Hàng Gai - quận Hoàn Kiếm, thuộc khu phố cổ của Hà Nội, gần với các phố Hàng Gà, Hàng Mành, Hàng Hòm…, ngay trước chợ Cửa Nam, là phố nhỏ không có vỉa hè, cũng như các phố cổ của thủ đô rất đông đúc chật hẹp, các nhà đều mở cửa hàng: ăn uống, quần áo, tạp dụng… bày cả ra lòng đường.

        Đi từ chợ Cửa Nam vào chừng 100m là ngõ Tạm Thương nằm bên phải. Ngõ Tạm Thương cũng là ngõ nhỏ, hẹp dài không đến 100m tuy nhiên không hiểu sao trong ngõ có đến gần chục khách sạn mini, nhà khách, nhà nghỉ cho người nước ngoài và một số cửa hàng lưu niệm. Đình nằm cuối ngõ bên phải, mới được trùng tu trong dịp “Kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long” trang nghiêm, tôn kính. Do nằm sâu trong ngõ nhỏ diện tích hạn hẹp nên không có cổng, qua mấy bậc thềm vào thẳng cửa đình; trước cửa đình ghi rõ tên “Đình Yên Thái”, ngay chính giữa là bức hoành phi cổ sơn son thếp vàng với bốn chữ Nho đại tự “Lý đại mẫu nghi” cho biết rõ đình thờ Mẫu Ỷ Lan – Linh Nhân hoàng thái hậu nhà Lý.

        Tuy địa thế nằm sâu trong ngõ của phố cổ, diện tích hạn hẹp nhưng vẫn giữ gìn được sự sạch sẽ, tôn nghiêm của di tích lịch sử cấp quốc gia, xứng với vị thế của nhân vật lịch sử Mẫu Ỷ Lan, một nữ kiệt dân tộc, mẫu nghi của nước Việt; đền Tạm Thương - đình Yên Thái mãi là nơi trân trọng, tự hào của đất Thăng Long .

        Truyền kỳ chùa Thiên Sanh có đường 'xuống âm phủ'

        Chùa Thiên Sanh Thạch tự, có tên chữ là Thạch Cốc. Tương truyền ở đó có hai con đường để lên trời và xuống âm phủ, cùng nhiều chuyện nhuốm màu huyền thoại.

          Lưng chừng núi Chùa thuộc địa phận thôn Hội Khánh (xã Mỹ Hòa, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định) có một ngôi chùa do được hình thành từ hang đá nên gọi là chùa Hang.

          Thật ra cái tên núi Chùa cũng xuất phát từ cách quen gọi của dân trong vùng nhằm chỉ ngọn núi có chùa tọa lạc (vì ở đây còn nhiều núi khác nhưng không có chùa), bởi ngọn núi này có tên là La Hơi, tên chữ là Lý Thạch.
          Bàn thờ bên trong chùa Hang.
          Bàn thờ bên trong chùa Hang.

          Ông Đặng Như Dước, 95 tuổi, là một trong số ít bậc cao niên ở Hội Khánh có nhiều tìm hiểu và nắm giữ nhiều chuyện về chùa Thiên Sanh, giải thích về cái tên La Hơi của núi: “Tương truyền, khi trời đang nắng hạn, nếu nghe trên núi (về phía chùa Thiên Sanh – NV) có tiếng “ồ ồ” như người ta xay lúa thì liền sau đó trời sẽ đổ mưa. Ngược lại, nếu trời đang mưa tầm tã mà nghe tiếng “ồ ồ” như trên thì trời sẽ nắng ngay lập tức”. Ông Dước cho biết thêm, đó là đặc điểm để người ta đặt tên núi là La Hơi, còn sự thật thì ngày nay hiện tượng trên vẫn còn, dù không thương xuyên như trước.

          Hai truyền thuyết về chùa Hang

          Như nói ở trên, chùa Hang chính là tên thường gọi của Thiên Sanh Thạch tự, đại đức Thích Nhuận Tín, trụ trì ngôi chùa này cho biết chùa được khai sơn vào năm 1613 dưới thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có bất cứ tư liệu lịch sử nào phản ánh chính xác điều này.

          Một vài tài liệu khác thì cho rằng, sau khi chùa Thập Tháp Di Đà (ở thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định) được xây dựng thì đạo Phật trong vùng phát triển mạnh mẽ. Nên vào cuối thế kỷ XVII đầu thể kỷ XVII, có người đến hang đá ở thôn Hội Khánh kiến tạo thành chùa để tu hành, gọi là chùa Hang. Ban đầu chùa còn hoang sơ, bày biện đơn giản, mãi đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX về sau thì chùa mới được tu chỉnh quy mô.

          Cũng theo đại đức Thích Nhuận Tín, ngài mới về trụ trì ở chùa vài năm gần đây, toàn bộ lịch sử cũng như chuyện liên quan đến chùa đều do ông Dước ghi ghép và bàn giao lại. Ông Dước trước đây là cán bộ tiền khởi nghĩa, rồi làm bí thư xã Mỹ Hòa. Những tài liệu, chuyện kể do ông Dước ghi chép hiện vẫn còn lưu giữ ở phòng văn hóa xã Mỹ Hòa. Hiện có hai truyền thuyết về chùa Hang.
          Ông Đặng Như Dước kể về chuyện kỳ lạ xung quanh chùa Hang với tác giả.
          Ông Đặng Như Dước kể về chuyện kỳ lạ xung quanh chùa Hang với tác giả.

          Lúc bấy giờ khắp vùng Phù Mỹ đã có vài ngôi chùa, nhưng không có sư trụ trì. Hay tin có ông Phan Chọn ở huyện mình vào tu hành tại chùa Trà Cang (ở Bình Thuận), dân bèn bàn nhau vào mời về. Hòa thượng trụ trì chùa Trà Cang đã đồng ý cho sư Trà Ban (tức ông Phan Chọn, có tài liệu ghi là Trà Bang) về trụ trì chùa Hang, đó là vào năm 1896. Ngoài ra, khi trở về, sư Trà Ban còn xây dựng nhiều chùa khác ở trong và các huyện lân cận.

          Tương truyền, do tu hành đắc đạo nên sư Trà Ban đi nhanh như bay và nhẹ tựa gió mây. Ông lại giỏi y thuật, thông kinh chú, đã thu thập thông tin, cung cấp cho nghĩa quân Trần Cao Vân thời kỳ Trần Cao Vân lấy vùng núi Bình Định, Phú Yên làm căn cứ chống Pháp.

          Trong cuốn sách Nhân vật Bình Định của Lộc Xuyên Đặng Quí Địch, phần viết về nhân vật Võ Trứ (là một phó tướng dưới trướng Mai Xuân Thưởng trong phong trào Cần Vương ở Bình Định, sau cùng với Trần Cao Vân gầy nên phong trào Minh Trai chủ tể ở Phú Yên nhưng bất thành), có đề cập một chuyện lạ xảy ra ở Bình Định. Khi ấy là năm Giáp Ngọ (1894), huyện Phù Cát và nhiều nơi ở Bình Định bị dịch bệnh hoành hành, nhiều làng bị rào cách ly, có nơi dân chúng đốt làng di tản nơi khác. Người chết không kịp chôn, khắp nơi đều bao trùm bởi khí tử và dịch bệnh.

          Lúc này bỗng thấy xuất hiện một vị lão tăng, do tu ở chùa Hang nên gọi là thầy chùa Hang, vài hôm sau thì thấy Võ Trứ cũng có mặt. Hai người phát thuốc cho dân chữa bệnh, thuốc là tấm giấy màu vàng có in năm hình Bồ tát Quan Âm, gọi là “Ngũ công Quan Âm”. Ban đầu dân còn nghi ngờ loại thuốc này nên không dám dùng, sau nghĩ dù sao cũng chẳng còn đường cứu, lại thấy không bị mất tiền nên theo lời thầy chùa Hang tâm niệm đấng cứu thế, đốt giấy đó hòa nước uống và khỏi.

          Tin về sự hiệu nghiệm của thuốc do lão tăng và Võ Trứ phát truyền tai nhau rất nhanh, điều này khiến cho quan tri huyện Phù Cát sợ thầy chùa Hang tụ hội khởi loạn nên ra lệnh cấm người đến xin thuốc, đồng thời tầm nã gắt gao thầy chùa Hang. Vốn tu hành đắc đạo nên thầy chùa Hang có rất nhiều đệ tử, khi chuyện phát thuốc cứu người của vị lão tăng này “động” đến quan tri huyện thì phần đông đệ tử của ngài cũng bị liên can, nhiều người khuynh gia bại sản, thậm chí là mất mạng.
          “Mái che” của chùa Hang.
          “Mái che” của chùa Hang.

          “Riêng thầy chùa Hang thì nghe nói, vì muốn tránh sự tầm nã của quan mà phải nay ẩn nhà này, mai ẩn nhà khác. Lúc bấy giờ chỉ còn mỗi mình Võ Trứ vẫn lén lút thoát sự kiểm tra gắt gao của quan huyện để phát thuốc cho dân. Về sau không rõ vị lão tăng mất khi nào và ở đâu, để nhớ ơn, dân đã đến hang để lập chùa Hang thờ cúng nhằm nhớ công ơn cứu mạng”, ông Dước kể lại.

          Cũng theo ông Dước, về thời gian xuất hiện chùa Hang, lại có thêm một dư luận cho rằng chùa được lập vào đời nhà Trần. Nguyên do là trước đây, có một người đào trộm trước chùa thì phát hiện một tượng Phật Di Đà, trên pho tượng này có đề chữ Huyền Trân Công chúa tặng (không rõ tặng ai).

          Truyền kỳ đường xuống âm phủ

          Nhân đây cũng xin giới thiệu đôi chút về chùa Hang: Đây là một hang đá sâu nằm ở lưng chừng núi, mặt trước của chùa quay về hướng đông với bao la là ruộng lúa, rừng dừa. Muốn lên được chùa Hang phải đi theo dốc đá quanh co, đi mãi, khi nào gặp một tảng đá to thì đó chính là “mái che” của chùa. Cạnh bên trái “mái che” được bày biện mấy ghế đá, bên phải các ghế đá này có một lối đi nhỏ để vào hang. Muốn qua lối này phải khom người xuống, lúc này đã cảm nhận được cái lạnh của hang đá. Lại theo vài ba bực đá nữa, sẽ thấy bàn thờ các Phật.

          Chùa Hang tuy nhỏ nhưng đủ cho hơn chục người đi đứng thoải mái. Ở cái tuổi 95, nhưng ông Dước chỉ hơi nặng tai, còn đầu óc rất minh mẫn, nhớ kỹ càng lịch sử và những truyền thuyết của chùa Hang.

          Ông kể rằng trước đây ở chùa Hang có hai đường đi, một lên trời và một xuống âm phủ. Phía trên bàn thờ của chùa Hang, chệch về phía tay phải còn có một lỗ “thông hơi”. Lỗ “thông hơi” này chính là đường lên trời, tiếc là chưa nghe những chuyện gì về đường lên trời này. Kỳ thực lỗ “thông hơi” mà ông Dước nói chính là khoảng trống phía trên bàn thờ. Các Phật và vật dụng thờ được bày biện theo từng bậc cao dần kiểu bậc thang, bậc cao nhất của bàn thờ là nơi rất gần với đường lên trời theo như lời ông Dước kể.

          Trước đây, phía dưới “mái che” của chùa Hang (không rõ về phía nào) có một đường hầm chạy xuống, người ta gọi là đường xuống âm phủ. Tương truyền khi còn sống, một trụ trì của chùa là ngài Nguyên Lượng có đi thử, càng đi càng thấy sâu thăm thẳm, khó đi nên đành quay trở lại.

          Lại có lời kể, một người nọ, vì muốn kiểm chứng độ sâu của “đường xuống âm phủ”, nên gánh theo hai thúng nến để đốt lần soi đường. Nến gần hết, mà hang vẫn còn xa vời vợi nên đành quay trở về. Có người thả một quả bưởi được khắc dấu xuống hang, một thời gian sau thì có người tận cửa biển Đề Gi cách chùa hơn 20km nhặt được. Từ ấy dân gian đồn rằng cái hang này ăn thông với biển. Trải qua chiến tranh, đường xuống âm phủ đã bị vùi lấp.

          Vào thời kỳ phong trào Cần Vương, chùa Hang từng là nơi ẩn náu, hoạt động của một số tướng lĩnh như Trần Cao Vân, Bùi Điền… Thời kháng chiến chống Pháp, chùa Hang là cở sở thứ hai của xã Mỹ Hòa nói riêng và huyện Phù Mỹ nói chung. Thời chống Mỹ, chùa Hang là nơi hoạt động của cán bộ cách mạng, bộ đội giải phóng. Chính vì vậy mà ngày 29.1.1968, Mỹ - Ngụy ném pháo ngạt làm chết 24 người dân khi đang tránh bom trong hang.

          Ngày nay, để đáp ứng nguyện vọng của dân trong vùng cũng như các tăng ni Phật tử, nhiều công trình phụ của chùa đã và đang xây dựng.
          Lý Sơn (Dòng Đời)

          Những chú ý khi du lịch vùng biên giới Việt Nam

          Khi đến vùng biên giới, hãy chuẩn bị kỹ giấy tờ tùy thân và tránh bị kẻ xấu lợi dụng chở hàng phi pháp.

          Giấy tờ tùy thân bao gồm CMND hoặc hộ chiếu, giấy giới thiệu cơ quan cùng giấy phép lái xe, giấy tờ xe (với người điều khiến phương tiện đi lại ). Đây là quy định bắt buộc khi bạn đi lại trong vùng biên giới. Bạn phải xuất trình giấy tờ cho chính quyền địa phương hoặc đồn biên phòng nơi đến khi được yêu cầu. Người nước ngoài khi đến khu vực biên giới tham quan, phải có giấy phép của bộ chỉ huy biên phòng ở tỉnh đó.

          Mỗi vùng miền có một phong tục tập quán khác nhau, bạn nên tìm hiểu một chút về tập quán để có cách cư xử khéo léo, tránh ngôn từ trong giao tiếp với người dân. Việc tìm hiểu các phong tục tập quán giúp bạn lấy được lòng dân trong bản và tạo điều kiện cho bản thân có cơ hội tiếp cận sâu hơn với các phong tục. Đi một ngày đàng học một sàng khôn, hãy khiêm tốn và khéo léo. Bởi không phải vùng dân tộc nào cũng thân thiện với người từ nơi khác đến.



          Với các vùng biên giới đang trong thời gian nhạy cảm chính trị hay tranh chấp, bạn phải trình báo đồn biên phòng trước để nhận được cái gật đầu nếu muốn vào sâu bên trong hơn. Tuyệt đối tuân thủ các yêu cầu về đường biên, lối đi lại và cột mốc vùng biên.


          Tỉnh táo và cảnh giác khi đi qua các vùng biên giới, cẩn thận để không bị kẻ xấu lợi dụng vận chuyển hàng phi pháp hay tuyên truyền phản động. Với mọi sự giúp đỡ nơi vùng biên phải có sự cảnh giác cao độ về mọi mặt và thỏa thuận rõ ràng. Mọi đồ đạc và xe cộ phải kiểm tra kỹ càng, đề phòng kẻ xấu lợi dụng vật lạ đưa qua cửa khẩu. Không chụp ảnh hay cười đùa ồn ào khu vực cửa khẩu.



          Ý thức bảo vệ môi trường tại nơi mình đi qua, không bẻ cành, phá rừng, xả rác. Không kỳ thị, chê bai hay dè bỉu, thiếu tôn trọng với cuộc sống cùng các hoạt động của người dân hàng ngày. Hãy để lại hình ảnh đẹp cho người địa phương nơi mình đến.

          Với các điểm nóng buôn bán, hãy thận trọng với mọi hành vi, lời nói và đồ đạc mang theo.

          Với địa hình hiểm trở núi non và các làng bản xa xôi, không an toàn khi chạy xe đêm, bạn phải có kế hoạch chuẩn bị kỹ càng về lộ trình đi lại để đảm bảo dừng nghỉ tại các khu vực có dân cư. Tránh đi lại trong đêm dễ bị lạc đường, không an toàn và dễ đi nhầm sang biên giới nước khác. Bạn có thể xin ngủ nhờ tại nhà trưởng bản hay trong các đồn biên phòng.
          Theo Vnexpress

          Những chuyện lạ kỳ bí ở hang Trâu

          Nhiều người vào hang nhưng không trở ra, dân làng tổ chức đốt đuốc đi tìm người mất tích nhưng vô vọng.

          Với diện tích rộng hàng trăm mét vuông và sâu hun hút, hang Trâu tại bản Chũm (xã Trung Sơn, Lương Sơn, Hòa Bình) tựa như mê cung khổng lồ trong lòng núi. Bên cạnh những giá trị về du lịch, hang Trâu còn chứa đựng những câu chuyện lạ lùng, bí ẩn thôi thúc sự khám phá, lý giải của con người...

          Địa đạo khổng lồ...

          Hang Trâu được xem là một trong những địa điểm tham quan hấp dẫn cho những người ưa khám phá, một món quà đặc biệt mà tạo hóa đã ban tặng cho xứ Mường. Người dân đã phát hiện bên trong hang nhiều đồ vật cổ (búa, rìu… bằng đá) có niên đại hàng nghìn năm. Bên cạnh đó là một chiếc sọ người mà theo những nhà khảo cổ học rất có thể liên quan đến tục lệ cổ xưa.

          Bên trong lòng hang, vô vàn những khối thạch nhũ hình thù kỳ thú, ánh lên mỗi khi có ánh sáng rọi vào. Vào mùa mưa, trong lòng hang hình thành những dòng suối nhỏ với tiếng nước chảy róc rách nghe rất vui tai. Những dòng nước chảy xuống từ các khối thạch nhũ trong vắt tựa như bầu sữa mẹ.

          Hang Trâu trong thời kỳ chiến tranh từng là căn cứ kháng chiến quan trọng của quân và dân. Với địa hình hiểm trở, được bao bọc xung quanh bởi hệ thống núi non trùng điệp, căn cứ này từng được xem là nơi “bất khả xâm phạm”.



          Trong ký ức của nhiều bậc bô lão nơi đây, hang Trâu đã phải hứng chịu không biết bao nhiêu đạn bom. Mỗi khi giặc càn quét qua vùng này, nếu dân cư vào hang trú ẩn đều được bình an vô sự. Hang rộng tới mức, ngoài sức chứa hàng nghìn người, còn có khả năng chứa được cả gia súc.

          Còn nhiều điều bí ẩn…

          Người dân kể rằng trước đây hang Trâu còn hoang vu, muông thú như hổ báo, gấu, khỉ vẫn sống theo bầy đàn, đã có rất nhiều thợ săn trong vùng vào khu vực hang Trâu để khám phá. Một phần vì tò mò, mặt khác có nhiều lời đồn rằng trong hang động này chứa đựng nhiều vàng bạc châu báu. Đã có biết bao người vào hang nhưng không trở ra.

          Nhiều lời đồn thổi cho rằng, những người này đã bị con ma rừng bắt đi. Nhiều lần dân làng tổ chức thành đoàn đốt đuốc đi tìm những người mất tích nhưng trở về trong thất vọng.

          Một hiện tượng nữa khiến cho người dân nơi đây cảm thấy lạ. Họ kể rằng có những đêm, từ bên trong khu vực hang Trâu phát ra luồng ánh sáng. Đôi lúc, những ánh sáng này còn có những hình thù cụ thể.

          Những hiện tượng này chưa được nhà chức trách kiểm chứng, nhưng việc phát hiện ra nhiều hiện vật cổ xưa có niên đại hàng nghìn năm và một chiếc sọ người là có thực. Các nhà khảo cổ học cũng đã kiểm tra và thu thập những cổ vật này nhằm phục vụ cho công tác nghiên cứu.

          Theo những tài liệu ghi chép lại, một vài người dân nơi đây trong quá trình thám hiểm hang Trâu đã phát hiện ra một chiếc sọ người gần như còn nguyên vẹn nằm trên một tảng đá lớn bằng phẳng bên trong lòng hang. Chiếc sọ người này có một đặc điểm kỳ lạ là có một lỗ tròn nhỏ ngay giữa trán.




          Tìm kiếm xung quanh, người dân còn phát hiện nhiều hiện vật khác như: một chiếc rìu, chiếc đục bằng đá, một mảnh xương có vết mài và hai mảnh vỏ trai biển sắc nhọn.

          Theo những nghiên cứu ban đầu, những đồ vật cổ được tìm thấy trong hang Trâu có niên đại hàng nghìn năm. Đây được phỏng đoán là những công cụ lao động sản xuất của người xưa.

          Trong đó chiếc sọ người nhận được nhiều sự quan tâm từ phía những nhà khảo cổ học. Nhiều câu hỏi, giả thiết đã được đưa ra. Toàn bộ cổ vật và chiếc sọ người được tìm thấy ở hang Trâu được trưng bày tại bảo tàng tỉnh Hòa Bình. Liệu rằng, chiếc sọ người này có liên quan gì đến một tục lệ xa xưa nào đó hay không, hiện vẫn còn là một dấu hỏi lớn.
          Theo VTC


          .

          Cái duyên với trái cau, lá trầu

          Một khu chợ vô cùng độc đáo, chỉ bán một thứ hàng hóa đặc biệt – trầu cau, người bán chủ yếu là những cụ, những bà đã bước sang lứa tuổi “thất thập” dân Bà Điểm, Hóc Môn.
          Với họ, bán trầu cau như một nghề truyền thống, một nét duyên “truyền đời” vì họ đã gắn bó với trái cau, lá trầu từ khi còn là những thiếu nữ…

          Độc đáo chợ trầu cau giữa Sài GònChẳng biết chính xác từ bao giờ ở ngay đường Lê Quang Sung, phường 2, quận 6 (đoạn cắt từ đường Chu Văn An đến đường Nguyễn Hữu Thận, đối diện bến xe Chợ Lớn) đã hình thành nên một khu chợ chỉ chuyên bán trầu cau phục vụ chuyện cưới hỏi, lễ lạt, cúng tế, và đương nhiên dành cho cả những người “ghiền” món ăn “biểu tượng của sự giao tiếp” này…
          Theo các cụ, các bà ngồi bán ở khu chợ này vui vẻ kể lại thì những năm đất nước còn chiến tranh cho đến khoảng những năm 1990 là thời kỳ chợ trầu cau buôn bán nhộn nhịp nhất. Cả khu chợ có khi lên tới hàng trăm gánh trầu cau của tiểu thương tứ xứ đổ về, hàng được lấy từ xã Bà Điểm (huyện Hóc Môn) – địa danh nổi tiếng cả nước với 18 thôn vườn trầu, đây cũng là nơi cung cấp trầu cau chủ yếu cho các chợ.
          Vào thời ấy, người bán là những cô, những chị gái duyên dáng, thướt tha trong chiếc áo bà ba mộc mạc, ngồi san sát nhau, hàng bày chật ních cả chợ, có khi còn bày tràn xuống đường. Chợ bắt đầu họp từ 3 giờ sáng và kéo dài cho gần hết ngày… Ngày đó, nhờ nghề buôn bán trầu cau, nhiều người có thể làm giàu, có tiền lo cho con cái, cuộc sống gia đình mình ổn định.
          Một góc chợ trầu cau
          Ngồi nhắc lại thời hoàng kim của khu chợ, đôi mắt nhiều cụ, nhiều bà bỗng ánh lên niềm vui, sự tự hào về cái nghề đặc biệt của mình một thời. Cụ Nguyễn Thị Lên thường gọi là cụ Sáu Lên, quê ở ấp Năm Lân, Bà Điểm, Hóc Môn, dù năm nay đã 84 tuổi nhưng vẫn rất linh hoạt, nhanh nhẹn, đặc biệt cụ rất vui tính, hay chọc cười khách mua hàng. Hằng ngày cứ gần 5 giờ sáng cụ lại đi xe buýt từ Bà Điểm tới chợ mất hơn một tiếng đồng hồ, bán hàng tới 5 giờ chiều mới về nhà. “Tôi bán trầu cau ở chợ này từ hồi trước giải phóng tới giờ, cũng là thừa kế nghề của bà, của mẹ tôi thôi. Thời kỳ trước và những năm đầu sau giải phóng, việc bán trầu cau còn ngon lành, thu nhập tốt, vì hồi đó các tỉnh đều lên đây mua hay lấy trầu cau về bán…
          Nhất là vào dịp cuối năm – thời điểm có nhiều hoạt động lễ hội, giỗ chạp, đám cưới hỏi thì lượng khách rất đông đến mua hàng”, cụ Sáu Lên cười bỏm bẻm hồi tưởng về thời cực thịnh của khu chợ.
          Và cũng như cụ Sáu Lên thuở nào, một số những cô, những chị chủ gánh sạp bán trầu cau ngày xưa vẫn bám trụ, theo đuổi cái nghề đặc biệt của mình cho đến ngày nay, mặc cho bao khó khăn, vất vả vì thời cuộc thay đổi.
          Bởi theo năm tháng, hiện khu chợ trầu cau ngày càng bị thu nhỏ, vì nhu cầu của người tiêu dùng không còn được như xưa nữa và tất nhiên cũng chẳng có cảnh buôn bán tấp nập, nhộn nhịp của hàng trăm gánh sạp trầu cau, thay vào đó chỉ còn lác đác trên dưới 10 gánh sạp rời rạc. Dù vậy, chợ vẫn họp vào các ngày trong tuần, và đông nhất là vào thứ 6 mỗi tuần.“Bây giờ rất ít người còn thói quen ăn trầu nên việc buôn bán may ra cũng chỉ đủ lo cho bản thân mình. Vậy nhưng nói nhiều người không tin chứ chúng tôi buôn bán không phải do lời lãi mà chủ yếu vì đây là nghề truyền thống của gia đình, hơn nữa là cái duyên, là tình yêu đối với trái cau, lá trầu”, cụ Sáu Lên giãi bày mà cứ như đang tự sự với chính mình.
          Cũng ở Bà Điểm, Hóc Môn và cũng đi bán trầu cau ở chợ này từ trước giải phóng, cụ Nguyễn Thị Anh 72 tuổi vui vẻ góp chuyện:
          “Hồi đó tôi ở Bà Điểm cau trầu nhiều lắm, lớn lên tôi theo bà ngoại, theo mẹ đi bán trầu cau, rồi từ đó theo nghề này luôn. Vì thế, tôi yêu thích nghề này từ nhỏ. Dù biết là bán buôn thì phải có lời, nhưng tiền lời một tháng cũng chẳng đáng bao nhiêu, chỉ đủ tiêu xài nếu biết gói ghém tằn tiện một chút. May mắn là giờ tôi không phải nuôi ai cả vì con cái trưởng thành hết rồi, chúng tự lo cho bản thân được, trong khi đó chồng tôi thì có gì mấy đứa con sẽ lo”.
          Nghe cụ Anh nói về chuyện lời lãi, cực nhọc, cụ Đinh Thị Cúc (70 tuổi, ngụ Bà Điểm, Hóc Môn) cũng chép miệng than thở: “Nghề này với tôi cũng chẳng nhẹ nhàng gì vì phải tự mình làm mọi thứ, từ chuyện đi mua hàng tới chuyện phải đi mấy lượt xe mới tới nơi bán, rồi chiều lại lục tục thu dọn mọi thứ, tiếp tục phải lên xuống mấy lượt xe mới về tới nhà.
          Đó là chưa nói tới chuyện phải ngồi hằng ngày ngoài nắng mưa bán hàng, trong khi đó lời lãi lại chẳng bao nhiêu. Bởi trung bình một ngày bán được khoảng 40kg trầu, cau thì một thiên (khoảng 1.300 trái), giá bán thì tùy theo chất lượng hàng, một ký trầu từ 40-50 ngàn đồng, còn cau cũng vậy từ 10-15 ngàn đồng/chục…
          Hồi xưa bán thì có thể nuôi cả bầy con ăn học, chứ bây giờ ít người mua chắt bóp lắm cũng chỉ đủ nuôi mình thôi. Hơn nữa, trong năm thì chỉ bán được mấy tháng “cao điểm” có nhiều lễ hội, cúng kiếng, cưới hỏi, chứ mấy tháng còn lại cũng chỉ bán cầm chừng”.
          Những nỗi niềm đau đáu với nghề
          Cũng chính vì việc buôn bán của các cụ, các bà chẳng lời lãi bao nhiêu nên cơ quan chức năng địa phương cũng không nỡ thu một khoản thuế nào. Thời gian trước có tin là chợ này sẽ bị giải tỏa nhưng cho đến giờ mọi người vẫn chưa hề thấy có động tĩnh gì. Cụ Anh bộc bạch:
          “Chắc là không giải tỏa đâu mà nếu có đi chăng nữa thì chúng tôi cũng bán lòng vòng ở đây thôi chứ cũng không thể đi chỗ nào khác được vì mấy chục năm qua người dân đã quá quen với nơi mua bán trầu cau này rồi. Và nếu có đuổi thì chúng tôi cũng chẳng biết sẽ đi đâu, mà vô sạp hàng ngồi thì tiền đâu đóng thuế”.
          Quả đúng là như cụ Sáu Lên, cụ Anh đã nói thì dù phải đối mặt với bao khó khăn, vất vả, nhưng cái duyên đối với trái cau, lá trầu đã đi vào tâm thức, tình cảm của những người bán ở đây sau biết bao năm gắn bó. Vì thế mà khu chợ này khác hẳn với những khu chợ khác vì sự yên bình, nhẹ nhàng của nó, hầu như hiếm khi nào có sự tranh giành khách hàng hay cãi cọ giữa những người bán, họ như những người bà con thân thuộc hay những người bạn cùng giúp nhau buôn bán, làm ăn.
          Trong khi đó, những người khách đến đây mua hàng phần nhiều cũng là những người đang sống vui vẻ, hạnh phúc hay thành tâm cúng kiếng, do đó với nhiều người khu chợ này như một không gian văn hóa, một nét duyên lắng đọng chút hồn quê giữa lòng thành phố đô hội mỗi khi tìm tới hay có dịp đi qua hướng mắt nhìn vào.
          Dì Hai: “Tôi chọn nghề này vì thấy phù hợp với mình”
          Một trong những người bán được coi là “trẻ nhất” ở đây cũng đã 63 tuổi là dì Huê. Theo dì Huê thì công việc bán trầu cau ở chợ này đã mang lại cho dì những niềm vui khó nói thành lời. “Một mâm trầu cau làm lễ vật ngày ăn hỏi thường có 60 trái cau và mười bó trầu dắt quanh, trên mỗi quả cau được dán chữ “hỉ”, gắn nơ hồng và dắt thêm các nhánh hoa cau. Thường thì các đám cưới miền Nam thích chọn các buồng cau nhỏ (khoảng 60 trái) vì theo cách hiểu của người miền Nam thì buồng cau 60 trái hàm ý chữ thọ, sống lâu. Trong khi đó, người miền Bắc, miền Trung lại thích buồng cau to, đủ 105 trái với hàm ý trăm năm hạnh phúc…
          Chúng tôi bán mặt hàng này cũng thấy vui vui vì có thể nói đó là những vật phẩm góp phần xây dựng hạnh phúc cho những đôi bạn trẻ, hay những người mua trầu cau đi cúng lễ, đến khi họ làm ăn may mắn phát tài, nhiều người đã tới tận nơi nói chuyện và cảm ơn chúng tôi nữa đó”, dì Huê tỏ rõ sự mừng vui.
          Cụ Sáu Lên sẽ đi bán trầu cau đến lúc nào không thể bán được nữa mới thôi
          Cũng theo dì Huê thì hiện tại, chợ thường bán hai loại cau, giống tròn gọi là cau sung, giống dài, có đầu nhọn gọi là cau vú bò; với trầu thì trầu xanh cuống dài (còn gọi là trầu lương) thường bán nhanh hơn các loại khác. Đặc biệt, ngoài việc bán trầu cau, điều khiến người mua cảm thấy hài lòng và yên tâm là khi tìm tới chợ này, họ sẽ được người bán tư vấn cách chuẩn bị mâm quả, nên mua những loại vật phẩm nào, cách sắp xếp, bưng bê, đặt để ra sao…Đúng là trái cau, lá trầu đã trải qua một thời gian dài gắn bó thắm nồng thủy chung với người dân Việt. Song cũng chính thời gian và cuộc sống hiện đại đã làm thu hẹp dần sự hiện diện của miếng trầu trong đời sống thường nhật, và dĩ nhiên tục ăn trầu cũng dần bị mai một đi, có chăng hầu như chỉ còn tồn tại trong thế hệ người cao tuổi chủ yếu ở khu vực nông thôn.
          Ngay như địa danh Mười tám thôn Vườn trầu nổi tiếng hàng trăm năm nay, bây giờ cũng chỉ còn rất ít vườn trầu và diện tích ngày càng bị thu hẹp thêm.
          Theo cụ Nguyễn Thị Anh, chợ này không thu một khoản thuế nào
          Nhìn những cụ, những bà tuổi đời “thất thập cổ lai hy” ngồi bán giữa nắng gắt, cứ thấy có điều gì đó chạnh lòng, đượm buồn bởi chẳng bao lâu nữa tuổi cao sức yếu này họ cũng sẽ không thể tiếp tục với nghề, lúc đó khu chợ trầu cau này sẽ ra sao, dù bây giờ các cụ, các bà cùng với các gánh sạp trầu cau vẫn ngồi đấy như những người trung thành níu giữ cái duyên “truyền đời” đối với quả cau, lá trầu của một thời không thể lãng quên.Nhưng đúng như lời cụ Sáu Lên giãi bày: “Nhiều người lo lắng cái chợ này rồi sẽ giải tán, nhưng tôi nghĩ chừng nào người ta còn cưới hỏi, cúng kiếng mà không cần trầu cau nữa thì chắc chợ này mới phải dẹp bỏ. Riêng tôi, sẽ đi bán đến lúc nào không thể bán được nữa mới thôi”.
          Thì ra, dù đã không còn phổ biến như xưa nhưng trầu cau sẽ vẫn là vật phẩm không thể thiếu trong việc hiếu hỉ, kết thân, lễ tế… bởi miếng trầu đã gắn liền với đời sống của người Việt, mang đậm dấu ấn văn hóa Việt từ bao đời nay. Thật khó tưởng tượng nếu trong một lễ cưới hỏi, cúng kiếng lại thiếu đi những lá trầu, trái cau. Và, sẽ tiếc và buồn lắm thay, nếu một ngày nào đó khu chợ này không còn nữa!

          ÁNH XUÂN/DNSGCT

          Đặc sắc lễ hội chùa Minh Khánh

          Nằm ở trung tâm thị trấn Thanh Hà, chùa Minh Khánh là một trong những kiến trúc cổ đẹp nhất Hải Dương. Đặc biệt, công trình gần ngàn năm tuổi này gắn liền với những dấu ấn về vua Trần Nhân Tông, vị tổ thứ nhất của Thiền phái Trúc Lâm. Bảo vật quý nhất của chùa là chín hạt xá lợi, tương truyền là xá lợi của chính đức Phật hoàng.
          .
          Bước qua tam quan ba tầng mái độc đáo, du khách thấy mình tách biệt hẳn cuộc sống phố thị để bước vào một không gian cổ kính, thanh tịnh. Khuôn viên chùa khá rộng. Sân chùa có một con đường đá dài thẳng đến tiền đường và điện tổ, nơi có tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông được tạc khắc công phu. Chùa Minh Khánh có quy mô to lớn, gồm tam quan ba tầng, mái chồng diêm, tiền đường, tam bảo, điện Phật, nhà tổ, giải vũ, nhà tăng, nhà khách… tất cả là 84 gian trên mặt bằng 14 ngàn mét vuông.
          Phía sau còn có hai dãy hành lang nối thẳng vào điện thờ Phật. Ngoài ra còn là các kiến trúc khác như nhà tăng, nhà khách, vườn hoa.
          Tam quan chùa cổ kính
          Bên cạnh kiến trúc quy mô, đẹp đẽ, xưa kia chùa Minh Khánh nổi tiếng khắp vùng bởi lễ hội hằng năm được tổ chức công phu và đặc sắc. Hội chùa Minh Khánh bắt nguồn từ kỷ niệm ngày mất của vua Trần Nhân Tông vào mùng Một tháng 11 Âm lịch. Hội chính thức bắt đầu vào ngày 30/10, kết thúc vào chiều 1/11, nhưng trước đó cả tuần, mấy xã xung quanh chùa đều nô nức chuẩn bị.
          Lối vào chùa ngày lễ
          Đầu tiên, lễ rước sắc được tổ chức vào sáng ngày 29/10. Sau khi tập trung ở đền Ngự Dội, đoàn lễ làm lễ xin sắc rồi rước về chùa để làm lễ tế xin khai hội. Giữa tiếng trống chiêng, đội múa lân vui nhộn đi đầu cùng đoàn rước phướn Phật, cờ hội và các tăng ni phật tử. Kế tiếp là đội nghi lễ bát bửu, chấp kích do tám cô gái và tám chàng trai trẻ mặc áo nâu đỏ, quần trắng, đầu chít khăn.
          Xong rồi mới đến long đình được đặt bát hương và mâm ngũ quả.Đi sau đoàn rước là các bô lão, quan viên và dân làng cùng du khách thập phương.
          Không khí rộn ràng ngày lễ
          Sáng 30/10, mâm cỗ và bánh được rước về chùa cúng Vua và đức Phật rồi các trò chơi, các màn biểu diễn dân gian được bắt đầu. Hấp dẫn nhất là các trò cờ người, múa rối nước, diễn chèo, hát quan họ… Đặc biệt, cuộc thi xếp mâm ngũ quả và làm năm loại bánh gồm bánh dày, bánh mật, bánh ít, bánh tày, bánh gấc làm nên nét cuốn hút riêng của hội chùa Minh Khánh.
          Các mâm bánh phải đẹp mắt, thơm ngon. Các mâm ngũ quả thì được trình bày cầu kỳ theo một số chủ đề như cửu long tranh châu, cửu long bảo tháp, long lân khánh hội…
          Vật liệu được sử dụng là những trái cây địa phương như bưởi, chuối, đu đủ, hạt tiêu, quất, mãng cầu, nhãn… Qua bàn tay tài hoa, trí tưởng tượng phong phú của người dân, những con rồng, phượng, lân trở nên vô cùng đẹp mắt, sống động.
          Chiều mùng Một tháng 11, tế lễ xong, cỗ được chấm giải, bánh, rước sắc được đưa về đình Ngự Dội để kết thúc hội.Đây là phong tục độc đáo của một vùng hoa trái trù phú gắn liền với tục thờ vua còn duy trì đến nay.
          Một mâm quả dự thi
          Những năm gần đây, lễ hội chùa Minh Khánh với tục thi làm mâm ngũ quả cùng năm loại bánh đang được làm sống lại. Tiếc là lớp nghệ nhân am hiểu nghệ thuật cổ truyền phần lớn đã qua đời. Mâm bánh trái của những người trẻ không hẳn là không bắt mắt nhưng dường như đã thiếu đi cái tinh tế, cái duyên dáng của người xưa…

          TRƯƠNG VĂN LONG/DNSGCT