Chủ Nhật, 7 tháng 10, 2018

Dế chiên nước mắm ở Long Khánh ăn là ghiền

Một lần đến Long Khánh, nhớ thưởng thức món dế chiên nước mắm này. Biết đâu bạn sẽ bị "nghiện" đấy!

Thời buổi này mà còn bất ngờ với những món ăn từ côn trùng nữa thì có vẻ "lỗi thời" quá rồi nhỉ? Nào ve sầu, kiến, bọ cạp... biết bao nhiêu đặc sản hấp dẫn được chế biến từ các loại động vật "ai nhìn cũng sợ". Bởi thế, nếu một lần đến vùng đất Long Khánh, bạn đừng bỏ lỡ cơ hội thưởng thức món dế cơm chiên nước mắm độc đáo này.
Dế chiên nước mắm ở Long Khánh ăn là ghiền - Ảnh 1.
Khác với những loại dế khác như dế than, dế lửa, dế tiêu... dế cơm được ưa chuộng trong ẩm thực bởi vì chúng rất sạch và mang một hương vị lạ lẫm, khác biệt. Về kích thước, dế cơm to gần gấp đôi những người "họ hàng", béo ú và lớp da ửng màu vàng nhạt. Cách chế biến hấp dẫn nhất là kết hợp hương vị này cùng với độ mặn ngọt đặc sắc khi chiên nước mắm.

Dế chiên nước mắm ở Long Khánh ăn là ghiền - Ảnh 2.
Người ta phải tìm bắt dế cơm từ những hang sâu trong lòng đất. Thông thường, "săn dế" nên đi vào sáng sớm vì lúc này là thời điểm chúng to tròn, béo ú nhất. Bạn cần phải khéo léo ngắt bỏ chân nhỏ, cánh, đuôi và nặn sạch ruột bên trong ra. Rửa thật kĩ dế bằng nước muối loãng, dấm khử mùi và để ráo hẳn rồi mới đem đi chế biến.

Dế chiên nước mắm ở Long Khánh ăn là ghiền - Ảnh 3.
Không phải đơn giản để làm nên một đĩa dế chiên nước mắm thơm ngon. Người ta sẽ trộn hỗn hợp thịt ba chỉ trộn với gia vị, tiêu, tỏi, nước mắm... rồi bọc quanh hạt đậu phộng rang và nhét vào bụng từng con dế. Công đoạn này phải thật cẩn thận để không làm hỏng thân dế. Sau đó, nhúng chúng vào lòng trắng trứng đánh đều với nước mắm và bột mì khô.
Chiên ngập từng con dế trong dầu nóng cho đến khi chúng chuyển hẳn sang màu vàng đậm. Chỉ cần vớt ra và lót kèm cùng rau sống, cà chua là đã hoàn tất một món ăn đặc sắc, hấp dẫn rồi đấy. Tuy nhìn có thể bạn sẽ e ngại nhưng chắc chắn mùi thơm lan tỏa ngào ngạt của dế chiên nước mắm sẽ làm bạn nôn nao muốn thưởng thức.
Dế chiên nước mắm ở Long Khánh ăn là ghiền - Ảnh 4.
Dế chiên nước mắm ở Long Khánh ăn là ghiền - Ảnh 5.
Can đảm cắn vào con dế vàng rụm, bóng bẫy, cổ họng bạn sẽ bừng tỉnh trong cái béo ngậy lan tỏa. Vừa nhai vừa cảm nhận cái giòn tan, bùi bùi đan xen vào từng cung bậc vị giác. Càng khám phá sâu vào trong, cái đậm đà của thịt hòa quyện vào giúp hương vị của món được tôn lên gấp bội.

Dế chiên nước mắm ở Long Khánh ăn là ghiền - Ảnh 6.
Món ăn tưởng như chẳng ai dám thử nhưng thử xong lại khiến người ta cứ nhung nhớ, vương vấn mãi. Dế chiên nước mắm đã góp phần làm cho ẩm thực Long Khánh trở nên hấp dẫn và thú vị trong mắt thực khách.
Theo Bánh Bao (afamily.vn)


Thứ Bảy, 6 tháng 10, 2018

Chớm thu ghé ngôi chùa có kiến trúc độc đáo ở Huế

Mỗi khi nhắc đến Huế, người ta không thể không nghĩ đến các ngôi chùa nổi tiếng như: chùa Thiên Mụ, chùa Từ Đàm, chùa Từ Hiếu… Khác với nhiều ngôi chùa kể trên, chùa Huyền Không 1 không quá rộng lớn nhưng tại đây có kiến trúc vô cùng độc đáo và thanh bình. Trong vài năm trở lại đây, Huyền Không 1 trở thành địa điểm du lịch được đông đảo du khách yêu thích.


Chùa Huyền Không hay còn được gọi là Huyền Không 1 là để phân biệt với ngôi chùa Huyền Không Sơn Thượng. Cùng nằm trên một tuyến đường, những hai ngôi chùa này lại khác khác nhau. Nếu như chùa Huyền Không Sơn Thượng nằm ở trên núi thì chùa Huyền Không 1 lại nằm ở vùng ngoại ô Kim Long, cách chùa Thiên Mụ khoảng 4 km.

Ở Huế có 5 ngôi chùa thuộc Phật giáo Theravāda Việt Nam (còn gọi là Phật giáo Nguyên Thủy - Phật giáo Nam Tông) - chỉ thờ duy nhất tượng Đức Phật Thích Ca là: Chùa Thiền Lâm, chùa Pháp Luân, chùa Huyền Không Sơn Thượng, chùa Tăng Quang và chùa Huyền Không 1.

Theo một số tài liệu, chùa Huyền Không 1 tại thôn Nham Biền (Hương Trà) là hậu thân của chùa Huyền Không ở Lăng Cô và được Thượng tọa Giới Đức dời về đây vào năm 1978. Đến năm 1989, thượng tọa Giới Đức lại tiếp tục tiến vào khai phá núi Hòn Vượn xây dựng nên chùa Huyền Không Sơn Thượng. Vậy nên chùa Huyền Không được giao lại cho Thượng Tọa Pháp Tông trụ trì.

Một trong những nét đặc sắc của chùa chính cảnh quan vô cùng cố kính, hài hòa với những đường nét chung của Cố đô. Nhìn chung, chùa Huyền Không 1 được xây dựng theo mô thức nhà vườn với hàng loạt cây cảnh, hòn giả sơn…Trong đó, chùa có ba khu vườn chính là Thanh tâm viên, Phương thảo địa và Hứa nhất thiên.

Nếu như Thanh Tâm viên mang lại cảm giác thư thái với hồ hoa súng, những cây liễu đung đưa theo gió, thưởng nguyệt thì Yên Hà Các lại là thế giới của phong lan và khu vườn cảnh Hứa Nhất Thiên là nơi trưng bày các chậu bonsai.

Nổi bật nhất trong chùa đó chính là bảo tháp Đại Giác được khánh thành vào ngày 14/6/2015. Bảo tháp này được xây dựng và hoàn thiện trong thời gian 7 năm, mô phỏng theo mẫu ngôi đại tháp Mahā Bodhi Gāya ở Ấn Độ nhưng kích cỡ thu nhỏ. Chiều cao của tháp chính là 37m; bốn tháp phụ xung quanh cao khoảng 24m; chiều dài cạnh đáy ngang là 15,4m; cạnh đáy dọc là 9,4m.

Bảo tháp Đại Giác gồm có 6 tầng. Trong đó, hai tầng cao nhất để tôn trí xá lợi của Đức Phật, xá lợi chư Thánh Tăng và tượng Phật. Hai tầng tiếp theo dùng làm nơi lưu trữ Tam tạng Pālī bằng văn tự các nước, chú giải và sách, tài liệu nghiên cứu Phật học. Hai tầng thấp nhất, một dùng làm Thiền phòng và phòng trưng bày các món quà lưu niệm. Tầng nền sẽ là phòng Khánh tiết và dùng để đón tiếp các vị khách, đoàn khách đặc biệt.

Nhiều du khách đến Huế hẳn sẽ rất bất ngờ khi tại đây nhiều chùa đến thế. Chùa ở Huế được xây dựng khắp nơi từ thành thị về nông thôn, từ trên đồi núi cao tới từng đường làng xóm nhỏ. Nhưng chung qui lại, nét kiến trúc cổ kính, thanh tịnh của những ngôi chùa này đã làm nên một phần kiến trúc Huế.

Bên cạnh đó, nhiều người cho rằng, người Huế vốn thích sống lặng lẽ, khép mình, không tranh giành với đời cũng có phần bắt nguồn từ sự ảnh hưởng của Phật giáo tới đời sống con người. Vào những dịp cuối tuần, lễ tết… người Huế thường có sở thích lên chùa và ăn chay. Chính vì vậy, chùa Huyền Không 1 nói riêng và nhiều ngôi chùa ở Huế nói chung là địa điểm thường xuyên lui tới của các phật tử cũng như khách du lịch mỗi lần tới Huế.

Anh Thư

Đảo Cồn Cỏ anh hùng: Điểm du lịch hấp dẫn khi đến Quảng Trị

Chúng tôi có dịp đến với đảo Cồn Cỏ vào ngày thu mát mẻ, nơi được mệnh danh là viên ngọc xanh của Quảng Trị. Tại đây, du khách không chỉ thưởng ngoạn không khí trong lành, cảm nhận dư vị mặn mòi của biển cả mà còn được nghe và hiểu hơn về lịch sử hào hùng của quân và dân huyện đảo trong suốt 55 năm qua.


Nằm cách cảng cửa Việt (huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị) khoảng 30 km về phía Đông, chỉ mất khoảng hơn 1,5-2 giờ chạy tàu là du khách đã có thể đến với hòn đảo này. Nếu trước đây, việc ra đảo của khách du lịch khá khó khăn vì chủ yếu là đi theo tàu cá, thì nay đã dễ dàng hơn rất nhiều.

Gần đây, tuyến vận tải hành khách Cửa Việt - Cồn Cỏ và ngược lại bằng tàu cao tốc Chín Nghĩa đã được đưa vào hoạt động với giá khoảng 170 nghìn đồng/ lượt vào các ngày thứ 3,5,7. Bên cạnh đó, tỉnh Quảng Trị cũng đã mở tuyến du lịch ra đảo Cồn Cỏ với tàu cao tốc Greenlines DP C5 vào tháng 4/2018.

Theo một số người dân ở đây, xưa kia đảo được xem như tiền đồn nằm giữa vĩ tuyến 17, trấn giữ phía Đông Tổ quốc và vô cùng nổi tiếng trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Tại Phòng tuyền thống, du khách sẽ được tìm hiểu rõ hơn về tổng quan đảo cũng như những mốc son chói lọi của người dân ở đây trong cuộc chiến giữ nước thần thánh của dân tộc. Cũng tại hòn đảo này, du khách sẽ được viếng Đài tưởng niệm: Đồi 37. Đây là nơi tưởng nhớ những chiến sĩ đã hy sinh để bảo vệ đảo.

Dù đảo Cồn Cỏ chỉ có diện tích khoảng 2,3 km2 nằm giữa biển khơi, nhưng hẳn nhiều người sẽ ngạc nhiên bởi hệ thống cảnh quang và rừng nguyên sinh tại đây!

Một trong những địa điểm được đông đảo du khách “check-in” chính là bãi Bền Nghè - Móm đá. Bên cạnh đó, từ Ngọn hải đăng, du khách có thể phóng tầm mắt ngắm nhìn bao quát hòn đảo.

Đảo Cồn Cỏ có độ phủ rừng gần 70%, nên không khí rất trong lành kèm theo những bãi biển hoang sơ. Sáng sớm hay chiều tà, du khách có thể thong dong ngắm nhìn biển đảo, thiên nhiên.

Tạm quên những xô bồ cuộc sống cùng những sự căng thẳng của cuộc sống thường nhật, còn ngại ngùng gì mà không hòa mình vào thiên nhiên, vào cuộc sống người dân nơi đây để thấy đảo cũng là nhà.

Đi đảo mà không thưởng thức những món quà từ biển thì cũng mất đi phần nào sự thú vị. Đảo Cồn Cỏ có hệ sinh thái dưới biển khá độc đáo. Với dịch vụ lặn ngắm san hô theo hình thức Snocking, lặn sâu bằng bình khí nén, du khách có thể quan sát hệ sinh thái dưới nước vô cùng đẹp mắt mà thiên nhiên ban tặng.

Bên cạnh đó, đừng quên cùng người dân trải nghiệm việc câu cá, đánh lưới đêm. Những con tôm, con cá, mực nhảy tanh tách, tươi rói vừa được câu từ dưới biển lên chỉ sơ chế đơn giản thôi cũng “hao bia” lắm đấy! Một ngày làm ngư dân thực thục, hẳn sẽ mang đến du khách kỷ niệm khó quên.

Cũng là những sản phẩm từ biển như ghẹ bạc, ốc, hải sâm, rong nho, các loại tôm cá cua, nhưng cách chế biến mỗi nơi mỗi khác sẽ cho ra các hương vị khác nhau. Tại đảo Cồn Cỏ, hiện có 4 nhà hàng cung cấp dịch vụ ăn uống.

Với mức giá phải chăng, cách chế biến độc đáo cùng một số loại gia vị đặc trưng hứa hẹn mang đến du khách những trải nghiệm ẩm thực tuyệt vời. Theo chị Trần Thị Na kinh doanh ăn uống tại đảo cho biết: Khách thường đông nhất vào những ngày cuối tuần. Thời tiết ra đảo đẹp nhất chính là mùa hè hoặc chớm thu. Những mùa khác phải xem tình hình thời tiết.

Theo UBND huyện đảo Cồn Cỏ, từ đầu tháng 5/2018 đến nay, khoảng 2.500 lượt khách đã đến đảo. Ông Lê Minh Tuấn - Bí thư, Chủ tịch UBND huyện đảo Cồn Cỏ - cho biết: “Trong thời gian tới, chúng tôi tiếp tục tập trung chỉ đạo nâng cao chất lượng quản lý nhà nước về du lịch để du lịch Cồn Cỏ đi vào hoạt động một cách quy củ, bài bản, đảm bảo chất lượng và an toàn; tiếp tục kêu gọi đầu tư thêm các dịch vụ còn thiếu trên đảo để đáp ứng các nhu cầu của du khách”.

Anh Thư - ảnh: Mr Liu

Thua ở đất Việt, Quách Quỳ bị người Trung Quốc chế giễu mang lợn đi đấu voi


Tượng binh Việt là nỗi khiếp đảm của quân Tống
Đau buồn nhất cho Quách Quỳ là sau khi thua trận trước quân dân Đại Việt thì bị người dân Trung Quốc giễu cợt về tài cầm quân. Điển hình là truyện "mưu lược của tướng quân Quách Quỳ" trong Cổ kim tiếu sử được nhà văn Phùng Mộng Long cuối thời nhà Minh chép lại.
Năm 1077, đại quân của Lý Thường Kiệt đại phá quân của Triệu Tiết, bao vây quân của Quách Quỳ. Tình cảnh của quân Tống đúng là cá nằm trên thớt vì đánh không được, thoái không xong. Thực vậy, trong cuốn "Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử Việt Nam" có mô tả về tình cảnh quân Tống sau 2 lần tấn công vào phòng tuyến Như Nguyệt thất bại:
Trước mặt quân Tống, chiến tuyến của quân ta càng ngày càng trở nên vững vàng và bất khả xâm phạm. Hàng ngày, Lý Thường Kiệt cho quân sĩ khiêu khích, nhưng quân địch không dám liều lĩnh tiến công. Chúng chỉ dùng máy bắn đá từ bờ bắc bắn sang bờ nam.
Sau lưng địch, quân dân ta lại luôn luôn mở những trận quấy rối, tiêu hao quân địch. Trong cuộc kháng chiến chống Tống, các dân tộc thiểu số ở vùng núi rừng phía bắc và đông - bắc giữ một vai trò quan trọng và có nhiều cống hiến xuất sắc.. Những đội quân vùng thượng du thực chất là lực lượng vũ trang của các dân tộc thiểu số do các tù trưởng của họ chỉ huy. Trong cuộc tập kích thành Ung Châu, có những tù trưởng đã huy động gần như toàn bộ nhân dân trong vùng đi chiến đấu.
Hai tháng trôi qua. Quân Tống càng ngày càng bị tiêu hao về số lượng, và đặc biệt nghiêm trọng là càng ngày càng bị mệt mỏi, hoang mang. Tin tức thủy quân, niềm hy vọng và chờ đợi của chúng vẫn mờ mịt. Lương thực thiếu thốn, ăn uống không đủ. Thời tiết lại bắt đầu chuyển từ xuân sang hè, không thích hợp với người phương bắc. Nhà Tống đã sai chọn một số bài thuốc chữa lam chướng chế thành tễ và phái một số lương y chuyên trị bệnh lam chướng đi theo quân viễn chinh. Nhưng khí hậu ẩm thấp và các thứ bệnh nhiệt đới vẫn hoành hành quân Tống, làm cho nhiều người ốm đau và một số chết. Vua Tống lo lắng sai lập đàn cầu cúng, nhưng làm sao ngăn nổi bệnh tật?
Mệt mỏi và căng thẳng. Thế suy, lực giảm. Quân Tống bị dồn vào một tình thế khốn quẫn, tiến thoái đều khó. Tiến công thì từ hai tháng trước đây đã là cố gắng tuyệt vọng cua quân địch. Rút lui thì nhục nhã và mang tội với triều đình. Đóng quân lại chờ đợi thì thủy binh không thấy tăm hơi mà bộ binh và kỵ binh thì có nguy cơ mòn mỏi, tan rã.
Trước tình thế đó, Lý Thường Kiệt đã tung quân đánh một trận làm kiệt quệ ý chí kẻ thù. Đại việt sử lược một tác phẩm đời Trần, ghi chép trận tập kích của quân ta như sau: “Lý Thường Kiệt biết quân Tống sức lực đã khốn, đang đêm vượt sông tập kích, đại phá được quân Tống mười phần chết đến năm, sáu”
Sau đòn phản công quyết định này, quân địch thực sự bị dồn vào cảnh thế cùng lực kiệt. Nguy cơ bị tiêu diệt hoàn toàn đang chờ đợi nếu chúng vẫn ngoan cố đóng quân. Nhưng rút lui thì mết thể diện của “thiên triều”. Biết rõ ý chí xâm lược của quân thù đã bị đè bẹp, Lý Thường Kiệt liền chủ động đưa ra để nghị “giảng hòa”, thực nhất là mở ra lối thoát cho quân Tống.
Quách Quỳ ngoài miệng còn nói vớt vát: “Ta không thể đạp đổ được sào huyệt giặc (quân ta), bắt được Càn Đức (vua Lý Nhân Tông) để báo mệnh triều đình. Tại trời vậy! Thôi đành liều một thân ta để cứu hơn 10 vạn nhân mạng”.
Tháng 3 năm 1077, quân Tống rút lui trong cảnh hỗn loạn. Quách Quỳ sợ quân ta tập kích nên bí mật cho quân lính rút vào ban đêm. Nhưng được lệnh lui quân, kẻ nào cũng chỉ mong thoát chết, nhanh chóng được trở về nước. Chúng giẫm đạp lên nhau để tranh đường đi trước.
Trên đây là những điều mà chúng ta khá quen thuộc và nhiều người biết. Nhưng điều mà chúng ta ít biết hơn là sử sách Trung Quốc bình luận gì về những thất bại này.
Tống sử chép về cuộc rút quân như sau: “Quỳ muốn rút quân về, sợ giặc tập kích bèn bắt quân khởi hành ban đêm, hàng ngũ không được chỉnh tề, tình hình hỗn loạn, giày xéo lên nhau” (Tống sử, truyện Đào Bật).
Các học giả nhà Tống cũng bình luận việc Quách Quỳ thua đến nơi rồi mà còn ra vẻ nói cứng như sau: “May được lời giặc nói nhũn, liền nhân đó giảng hòa. Nếu không có lời quy thuận của giặc thì lành thế nào” (Trình Di, Trình Hạo, Nhị Trình di thư, xem Tống-Lý bang giao tập lục).
Nhưng có lẽ đau buồn nhất cho Quách Quỳ là sau khi thua trận thì bị người dân Trung Quốc giễu cợt về tài cầm quân. Điển hình là truyện "mưu lược của tướng quân Quách Quỳ" trong Cổ kim tiếu sử được nhà văn Phùng Mộng Long thời cuối nhà Minh chép lại. Bộ truyện Cố kim tiếu sử được dịch ra tiếng Việt và nay xin ghi lại hầu quý độc giả:
"Quách Quỳ được lệnh xâm phạm Giao Châu. Quân đội kéo đi không có kỷ luật gì cả. Từ cách xếp đặt cho tới việc làm có nhiều điều thật buồn cười.
Đến ngày quân đội lên đường, mới thấy giao cho tướng dưới quyền một bản văn lớn như bức tranh gồm tất cả những hướng dẫn, mệnh lệnh của chủ tướng. Từ hình vẽ cho tới chữ viết đều nhỏ li ti, các đề mục thì rắc rối, khó hiểu. Lại không quên cảnh cáo các tướng không được để lộ ra ngoài. Các tướng phải ghé sát vào đèn xem cho rõ...
Ghi chép nhiều, đọc 3 ngày 3 đêm mới hết nhưng trong đó có một đoạn như thế này: "Điều thứ nhất, người Giao châu rất hay cưỡi voi. Voi sợ tiếng kêu của lợn. Theo đó, các đơn vị phải nuôi thật nhiều lợn. Mỗi khi thấy voi đi tới, lấy dùi nhọn mà đâm vào lợn. Lợn kêu to, voi tự nhiên sẽ tháo lui"...
Dĩ nhiên thì làm gì có chuyện voi sợ lợn kêu và cũng chưa thấy đâu khác chép cách đuổi voi bằng lợn cả. Có chăng câu chuyện tiếu lâm này mỉa mai về tài cầm quân, về mưu lược của Quách Quỳ sau khi thất bại trước Lý Thường Kiệt. Nhưng một mặt nào đó, qua câu chuyện này chúng ta thấy được người phương Bắc rất kiêng dè với tượng binh của Đại Việt và không nghĩ ra cách đối phó hữu hiệu.
Một điểm nữa có thể nhận ra từ câu chuyện tiếu lâm trên là cách chễ giễu quân Tống không có kỷ cương khi hành quân xuống phương Nam nên có thể xảy ra chuyện bắt lợn của dân. Có lẽ vì thế nên dân gian mới nói mỉa việc quân Tống đi gom lợn là theo lệnh của Quách Quỳ để đối phó với tượng binh của người Việt.
Bản thân Quách Quỳ cũng chẳng có hậu vận tốt sau khi cầm quân sang gây chiến với quân ta. Sau khi dẫn bại binh về nước. Quỳ bị quy tội vì đã trì hoãn không chịu tiến binh. Kể cũng oan cho Quỳ vì lúc đó Quỳ đã vài lần tiến binh nhưng bị đánh bật lại nên mới phải đóng quân phía Bắc sông Như Nguyệt để chờ viện binh. Chứ nếu Quỳ mà cứ tiến binh thì e rằng quân Tống chẳng còn ai quay về.
Tiếp đó, Quỳ bị đổi đi Ngạc Châu, rồi giáng làm tả vệ tướng quân và an trí ở Tây Kinh. Gọi là an trí nhưng thật ra là bị quản thúc, cư tại gia khoảng 10 năm, đó là cách vua thời xưa xử phạt những quan tướng bất tài. Đến khi Tống Triết Tông lên ngôi (năm 1086) Quỳ lại được phục chức làm tri Lộ Châu, Quảng Châu quan sát sử, tri Hà Trung. Năm Nguyên Hựu thứ ba (1088) ốm chết, thọ 68 tuổi. Vậy mà trải qua cả nghìn năm, câu chuyện "mưu lược của tướng quân Quách Quỳ" đầy tính chế giễu vẫn được nhớ tới.
Anh Tú (theo "Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử Việt Nam" và "Cổ kim tiếu sử)

Bất hòa giữa Quách Quỳ và Triệu Tiết khiến quân Tống bại trận trên đất Việt

Quân Tống không vượt được phòng tuyến Như Nguyệt
Cái dở trong dùng người của Tống Thần Tông chính là cái may cho nước ta. Tổng sử chép: "Quỳ chí, triếp dữ Tiết dị", có nghĩa là Quỳ đến thì lại bất hòa tiếp với Tiết.
Trong chiến thắng của quân ta thời Lý trước quân Tống xâm lược thì phải kể đến cả 3 yếu tố ta có mà Tống thiếu. Thứ nhất là thiên thời khi vận khí nước ta đang lên, nhà Tống đang xuống. Về địa lợi là ta có phòng tuyến Như Nguyệt vững chắc trong khi quân Tống lại từ xa đến, thiếu thốn trăm bề. Còn nhân hòa là ta có tài dùng binh của Lý Thường Kiệt và quân dân cả nước đồng lòng còn ngược lại thì quân Tống không có sự thống nhất.
Chính việc quân Tống không có tiếng nói chung khi sang xâm lược nước ta khiến các chiến dịch của họ không đạt được hiệu quả cao nhất và cuối cùng rơi vào thất bại nhanh hơn, ta cũng đỡ tốn xương máu hơn trong việc bảo vệ nền độc lập dân tộc.
Như đã biết, khi biết dã tâm nhà Tống sớm muộn sẽ xâm lược nước ta, thái úy Lý Thường Kiệt chủ trương “Ngồi đợi giặc không bằng đem quân ra trước để chặn mũi nhọn của giặc”. Bởi vậy, cuối năm 1075, 10 vạn quân thủy bộ của ta do Lý Thường Kiệt trực tiếp chỉ huy, bất ngờ tập kích vào các căn cứ xâm lược của quân Tống mà trung tâm là thành Ung Châu.
Nhà Tống rất bất ngờ trước cuộc tập kích của quân đội nhà Lý. Lúc đầu Tống triều hoang mang, lúng túng rồi sau mới đề ra được chủ trương: lợi dụng khi quân Lý Thường Kiệt đang bị giam chân Ở Ung Châu, điều đại quân đánh thẳng sang chiếm lấy nước ta. Nhưng chủ trương đó chưa kịp thực hiện thì quân ta đã hạ xong thành Ung Châu và ung dung rút về nước đầu năm 1076.
Theo cuốn "Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử Việt Nam", vua Tống cử Quách Quỳ là một võ tướng cao cấp đã từng giúp Phạm Trọng Yêm giữ biên thùy phía bắc chống lại nước Hạ, làm chánh tướng. Triệu Tiết giữ chức viên ngoại lang bộ lại đang coi Diên Châu (Thiểm Tây) được điều về làm phó tướng.
Nhưng thực ra ban đầu thì ý định của Tống Thần Tông không phải sử dụng cặp Quách Quỳ - Triệu Tiết mà là muốn để Triệu Tiết làm chủ tướng. Tống sử quyển 312 phần Triệu Tiết chép: "Giao chỉ bạn, chiếu vi An nam hành doanh kinh lược, chiêu thảo sử, tổng cửu tướng quân thảo chi, dĩ trung quan Lý Hiến vi nhị" cho thấy Tiết được bái làm An nam hành doanh kinh lược còn Lý Hiến (Gia Châu phòng ngự sử) làm phó. Thế nhưng, "Tiết dữ nghị bất hợp, thỉnh bãi Hiến" cho biết Tiết và Hiến bất hòa với nhau nên Tiết dâng sớ đòi bãi Hiến.
Tống Thần Tông không muốn mang quân đi đánh xa mà 2 tướng thống soái lại bất hòa nên đã thuận theo lời của Tiết mà bãi Hiến. Tiếp đến, Thần Tông lại hỏi Tiết nên cử ai là tướng đi cùng trong chiến dịch xâm lược Đại Việt. Tống sử chép: "Thần tông vấn khả đại giả, Tiết dĩ Quách Quỳ lão biên sự, nguyện vi bì tán, ô thị dĩ Quỳ vi tuyên phủ sử, Tiết phó chi". Theo Tống sử thì sau khi Thần Tông hỏi ý Tiết thì Tiết tiến cứ Quách Quỳ, tự nguyện làm phó. Sở dĩ Tiết tiến cử Quỳ vì trước đó Tiết và Quỳ đã từng làm việc khá ăn ý trong việc phòng thủ ở biên giới với Tây Hạ. Còn việc tự nguyện làm phó thì có lẽ chỉ là khiêm tốn để tỏ ra mình không muốn tranh công, đoạt chức để vua Tống khỏi hoài nghi. Việc Tiết được trao quyền thống lĩnh một lượng quân lớn mà lại tìm cách đẩy quan thân cận với nhà vua là Lý Hiến ra khỏi ekip lãnh đạo thì Tiết cũng sợ bị Thần Tông nghi ngờ có bụng khác lắm chứ.
Sau khi nhận tấu của Tiết, vua Thần Tông thuận nước đẩy thuyền nên đảo lại luôn chánh phó. Thay vì để Quỳ thay vị trí của Hiến làm phó cho Tiết thì Thần Tông lại để Quỳ làm chánh, còn Tiết là phó. Thực ra việc hoán đổi chánh phó này cũng có cái lý của Thần Tông. Triệu Tiết xuất thân tiến sĩ, giữ viên ngoại lang bộ lại, coi Diên Châu (Diên An, Thiểm Tây) rất được thừa tướng Vương An Thạch tin dùng. Khi Thần Tông muốn cử Tiết làm chánh tướng thì là lúc Vương An Thạch đang được tín nhiệm. Nhưng chỉ thời gian ngắn sau đó, Vương An Thạch không còn được tín nhiệm thì Triệu Tiết cũng không còn được trọng dụng làm chánh tướng. Quách Quỳ lớn hơn Triệu Tiết 4 tuổi và từng là chỉ huy của Triệu Tiết tại biên giới với Tây Hạ nên được Thần Tông đôn lên làm chánh tướng.
Động thái mang màu sắc chính trị này của Thần Tông có vẻ không làm Triệu Tiết hài lòng. Cái dở trong dùng người của Tống Thần Tông chính là cái may cho nước ta. Tổng sử chép: "Quỳ chí, triếp dữ Tiết dị", có nghĩa là Quỳ đến thì lại bất hòa tiếp với Tiết. Quỳ vốn hơn tuổi Tiết, từng là chỉ huy của Tiết lại tự phụ con nhà danh tướng, có nhiều kinh nghiệm thực tế chiến trường hơn Tiết vốn xuất thân thư sinh. Còn Tiết thì vốn hậm hực vì việc từ chánh thành phó nên cũng muốn "thể hiện" và không hợp tác toàn diện với Quỳ.
Bất đồng giữa hai người được Tống sử chép: "Tiết dục thừa binh hình vị động, tiên phủ tập lưỡng giang động đinh, trạch tráng dũng đạm dĩ lợi, sử chiêu lai huề nhị, huy kỳ phúc tâm, nhiên hậu dĩ đại binh kế chi, Quỳ bất thính" tạm hiểu là "Tiết muốn nhân lúc chưa động binh, phủ dụ tập hợp người Động ở Lưỡng Giang, dùng lợi ích dụ dỗ những kẻ tráng dũng, sai sứ giả chiêu nạp những kẻ hai lòng, phá hủy cơ sở của họ, về sau sẽ đưa đại quân đến "đánh dẹp", Quỳ không nghe".
Hay "Tiết hựu dục sử nhân tê sắc bảng nhập tặc trung chiêu nạp, hựu bất thính. Toại lệnh yến đạt tiên bị quảng nguyên, phục hoàn vĩnh bình. Tiết dĩ vi quảng nguyên gian đạo cự giao châu thập nhị dịch, thú lợi yểm kích, xuất kỳ bất ý, xuyên đồ tịnh tiến, tam lộ trí thảo, thế tất phân hối, cố tranh bất năng đắc". tạm hiểu là: "Tiết lại muốn sai người treo sắc bảng chiêu nạp ở Giao châu (tức chỉ Đại Việt), Quỳ lại không nghe. Trước đó Quỳ lệnh cho Yến Đạt phòng bị châu Quảng Nguyên, rồi lại điều ông ta về Vĩnh Bình; Tiết cho rằng Quảng Nguyên chỉ cách đai bản doanh Giao châu khoảng chừng 12 trạm dịch, có thể tập kích, nên chia quân 3 lộ, thủy bộ cùng tiến, ắt đánh cho quân Nam tan vỡ; vì thế Tiết cố gắng tranh luận, nhưng vẫn không được".
Vì những bất đồng đó, mà chẳng ai chịu ai. Trong lúc hành quân hạ trại thì chánh tướng và phó tướng tự chỉ huy khối quân của mình. Sức mạnh tổng hợp của đạo quân viễn chinh này tự bị xé nửa. Tuy rằng trong binh thư của Trung Quốc có nói đến việc chia quân tạo thế "ỷ giốc" để đầu đuôi ứng cứu được với nhau nhưng trên thực tế thì sự phối hợp liên lạc giữa hai khối quân này rất hạn chế. Ngay khi đóng trại tại phía Bắc phòng tuyến sông Như Nguyệt thì hai bên cũng hạ trại cách nhau đến 60 dặm, khoảng 30 cây số.
Sau khi thất bại và phải kéo tàn binh về nước, cả Quách Quỳ và Triệu Tiết đều bị giáng tội nhưng mức độ khác nhau. Tống sử chép: "Quỳ ký tọa biếm, Tiết diệc dĩ bất tức bình tặc, giáng vi Trực long đồ các, tri Quế châu", tạm hiểu là Quỳ bị biếm chức vì tự ý giảng hòa còn Tiết chỉ bị trách tội không chịu đánh trận kịp thời nhưng vẫn được làm Trực Long Đồ các, Tri Quế Châu.
Tại sao Tiết lại bị luận tội "bất tức bình tặc"? Phải chăng vì không xuất quân theo lệnh của chánh tướng? Nhưng vì chính kế hoạch của chánh tướng cũng chẳng mang lại hiệu quả nên thành ra việc không nghe lệnh đó lại không bị kết án nặng nề. Sau đó, Tống sử cũng không còn chép thêm về hoạt động chung nào nữa của Quỳ và Tiết.
Anh Tú

Sai lầm của vua Tống khi để Quách Quỳ làm chánh tướng

Quân Tống mạnh về kỵ binh
Nếu Tiết xuất thân là tiến sĩ thì Quỳ là con trai thứ của Quách Bân, một danh tướng của Bắc Tống. Quỳ làm tướng giỏi và theo Tống sử thì rất giỏi binh thư, trận pháp. Vua Tống từng vời Quỳ vào hỏi cách bày binh bố trận và Quỳ trả lời rành rọt.
Trong phần trước, chúng tôi có để cập về mối bất hòa của 2 viên tướng Tống là chánh tướng Quách Quỳ và phó tướng Triệu Tiết là một trong những nguyên nhân khiến quân Tống bại vong khi sang xâm lược Đại Việt. Việc Tống Thần Tông quyết định dùng Quách Quỳ thay Triệu Tiết làm chánh tướng và đẩy Triệu Tiết xuống làm phó tướng ngoài việc do không còn sủng ái những người Vương An Thạch tín nhiệm còn có một lý do khác. Sự nóng vội của Thần Tông.
Khi Thần Tông dùng Triệu Tiết làm chánh tướng thì có thể tin vua Tống muốn đánh chắc thắng chắc. Triệu Tiết là tướng nhưng xuất thân từ văn nhân, từng đỗ tiến sĩ trước khi vào quan trường và thích đánh bằng nhân tâm, dùng mưu mẹo chính sách hơn là dàn quân bày trận.
Mấy thành tích mưu mẹo của Tiết được Tống sử chép: "Hạ nhân phạm hoàn khánh, hậu phục lai hạ chính. Tiết thỉnh biên lại ly kỳ tâm phúc, nhân dĩ chiêu hoành sơn chi chúng, thử bất chiến nhi khuất nhân binh dã. Thiên đề điểm thiểm tây hình ngục. Hàn thao tuyên phủ thiểm tây, hà đông binh tây thảo, tiết vi thao ngôn: "Đại binh quá sơn giới, giai sa thích, phạp thiện thủy thảo, hựu vong hiểm ải khả dĩ khống ách, kim thiết nguy chi. Nhược thừa binh uy chiêu dụ sơn giới nhân hộ, xử chi sinh địa, đương tiên kinh họa sơn giới khống ách chi địa, nhiên hậu chiêu giáng; Bất nhĩ, lao sư viễn công, vị kiến kỳ lợi".
tạm hiểu là: Người Tây Hạ xâm phạm Hoàn Khánh lộ, sau đó lại đến chúc mừng năm mới. Tiết hiến kế ly gián kẻ địch, nhân đó chiêu dụ dân cư Hoành Sơn, cho rằng đó là không đánh mà khuất phục binh lực của địch. Tiết được thăng làm Đề điểm Thiểm Tây hình ngục; Hàn Giáng làm Tuyên phủ Thiểm Tây, muốn đem quân Hà Đông đi đánh Tây Hạ, ông khuyên rằng Tây Hạ thủy thổ khô cằn, địa hình hiểm trở, rời xa cửa ải rất dễ bị chặn mất đường về, chẳng bằng dựa vào binh uy mà chiêu dụ dân chúng ở biên thùy, hòng lấn dần sang đất địch, còn hơn gây sự chiến tranh vừa khó nhọc lại chưa chắc thắng lợi.
hay: "Sơ, phu diên địa giai hoang tích, chiêm điền giả bất xuất tô phú, ỷ vi phiên tế. Bảo nguyên dụng binh hậu, điêu hao đãi tận, kỳ khoáng thổ vi chư tù sở hữu. Tiết nhân chiêu vấn viết: "Vãng thời nhữ tộc hộ nhược can, kim giai an tại?" Đối: "Đại binh chi hậu, tử vong lưu tản, kỳ sở tồn chỉ thử." Tiết viết: "Kỳ địa tồn hồ?" Tù vô dĩ đối. Tiết viết: "Thính nhữ tự mộ đinh, gia sử chiêm điền sung binh, nhược hà? Ngô sở đắc giả nhân nhĩ, điền tắc ngô bất vấn dã." Chư tù giai cảm phục quy mộ, tất bổ vong tịch. Hựu kiểm quát cảnh nội công tư nhàn điền, đắc thất thiên ngũ bách dư khoảnh, mộ kỵ binh vạn thất thiên. Tiết dĩ dị thời phiền binh đề không bộ, mạn bất khả khảo, nhân nghị niết kỳ thủ. Thuộc tuế cơ, lệnh phiền binh nguyện thứ thủ giả, thải thường bình cốc nhất hộc, ô thị nhân nhân nguyện thứ, nhân huấn luyện dĩ thời, tinh nhuệ quá ô chính binh. Thần tông văn nhi gia chi, trạc thiên chương các đãi chế".
tạm hiểu là: xưa đất đai Phu Duyên lộ bị bỏ hoang, những kẻ chiếm hữu ruộng đất không chịu nộp tô thuế, dựa vào sự bảo hộ của triều đình đối với các dân tộc thiểu số. Sau chiến tranh (Hạ – Tống) năm Bảo Nguyên thời Tống Nhân Tông (1039), vùng này càng thêm điêu tàn, trong khi các tù trưởng chiếm hữu những diện tích rộng lớn. Tiết chiêu dụ các tù trưởng, hứa hẹn không hỏi đến ruộng đất, chỉ yêu cầu bổ sung hộ tịch; bọn họ cảm phục nên vui lòng làm theo. Tiết kiểm kê được ruộng đất bỏ hoang cả công lẫn tư có hơn 7500 khoảnh, mộ được 17000 kỵ binh. Tiết phát hiện binh sĩ người Phiên không có trong sổ bộ, tản mát không thể tra xét; nhân đó kiến nghị xăm ký hiệu trên tay của họ. Gặp năm đói kém, binh sĩ người Phiên tình nguyện xăm tay sẽ được ban thêm một hộc gạo, vì vậy người người tình nguyện xăm tay. Tiết huấn luyện bọn họ, trở nên tinh nhuệ hơn cả quân chánh quy. Tống Thần Tông nghe tin thì khen ngợi, thăng làm Thiên Chương các đãi chế".
Cách làm của Tiết như thế đáng gọi là khôn ngoan nên lọt vào mắt xanh của Vương An Thạch và ban đầu được Tống Thần Tông tin tưởng phong làm chánh tướng việc đi xâm lược Đại Việt. Tuy nhiên, sau khi nhận được tin quân của Lý Thường Kiệt phá tan Ung châu, Khâm châu, tiêu diệt gần như toàn bộ quân Tống ở khu vực giáp biên thì Thần Tông nóng lòng trả thù. Hơn nữa, Tống Thần Tông muốn đánh thắng chớp nhoáng để quay về dồn lực lo cho mặt Bắc. Vua Tống đã nói rõ những khó khăn và ý đồ chiến lược đó: “Tuy ở biên thùy phía bắc, Quách Quỳ đã phân phát kế hoạch đề phòng cho các tướng ở lại, nhưng người bắc thấy triều đình bận việc Nam chinh chắc muốn quấy. Vậy phải lo việc An Nam cho chóng xong”
Lúc này, việc dùng chính sách xâm lược mềm kiểu Triệu Tiết không còn hợp nhãn với vua Tống nữa mà Thần Tông muốn thực hiện một cuộc xâm lược cứng rắn. Do vậy Triệu Tiết không thể làm chánh tướng mà Quách Quỳ lên.
Nếu Tiết xuất thân là tiến sĩ thì Quỳ là con trai thứ của Quách Bân, một danh tướng của Bắc Tống. Quỳ làm tướng giỏi và theo Tống sử thì rất giỏi binh thư, trận pháp. Vua Tống từng vời Quỳ vào hỏi cách bày binh bố trận và Quỳ trả lời rành rọt. Chuyện này cũng được Tống sử chép: "Quỳ khảng khái hỉ binh học, thần tông thưởng phỏng bát trận di pháp, đối viết: "Binh vô thường hình, thị đặc kỳ chính tương sinh chi nhất pháp nhĩ".
Trong quá trình làm việc chung khi xâm lược Đại Việt, quan điểm của Quách Quỳ và Triệu Tiết thể hiện khác nhau. Tiết theo cách cũ đã làm ở biên giới với Tây Hạ là trước khi động binh thì dùng lợi ích dụ dỗ những kẻ tráng dũng, sai sứ giả chiêu nạp những kẻ hai lòng, phá hủy cơ sở của họ, về sau sẽ đưa đại quân đến "đánh dẹp". Quỳ không nghe không phải vì kế của Tiết không hay mà Quỳ muốn đánh nhanh thắng nhanh như chí hướng của vua Tống trong khi cách làm của Tiết mất thời gian.
Rồi Tiết lại bày mưu “chia quân 3 lộ, thủy bộ cùng tiến, ắt đánh cho quân Nam tan vỡ”. Thế nhưng, Quỳ cũng không nghe vì nếu để thủy bộ cùng tiến thì phải chờ nhau mất thời gian. Do vậy, quân bộ của Tống với khoảng 10 vạn quân trong đó có 1 vạn kỵ binh tiến nhanh vào trước. Chỉ có điều 10 vạn quân Tống trong đó chủ yếu là quân từ các châu phía Bắc quen đánh trên địa bàn bằng phẳng đã phải dừng lại khi gặp phòng tuyến Như Nguyệt. Gặp sông lớn thì kinh nghiệm trận đồ, binh pháp và sức mạnh kỵ binh của Tống coi như đồ bỏ. Lúc này, Tống cần có thủy binh đưa qua sông.
Nhưng vì thủy binh thiếu sự bọc lót của bộ binh nên không hoàn thành nhiệm vụ “người chở đò”.Tướng chỉ huy thủy quân địch là Dương Tùng Tiên sau nhiều lần thua Lý Kế Nguyên thì không dám tiến, không dám thoái. Vì không có thủy quân chở đò nên khối quân của Quách Quỳ và Triệu Tiết cũng không vượt nổi phòng tuyến Như Nguyệt và cuối cùng thất bại.
Nếu giả như Tống Thần Tông không nóng vội trong việc xâm lược Đại Việt mà để Triệu Tiết làm chánh tướng đánh theo kiểu chuẩn bị kỹ càng, tiến quân chậm chắc thì quân ta sẽ gặp nhiều khó khăn hơn. Hay nếu như Triệu Tiết nắm quyền điều khiển chiến lược để thủy bộ cùng tiến vào nước ta thì quân ta có lẽ phải trả một cái giá đắt hơn để giành chiến thắng. Nhưng sự nóng vội của Tống Thần Tông trong dùng người, sự tự tin vào sức mạnh của bộ binh – kị binh của Quách Quỳ đã đẩy quân Tống vào chỗ bất lợi. Điều đó giúp ông cha ta đỡ tốn xương máu để có chiến thắng trước quân xâm lược nhà Tống.
Anh Tú

Quách Quỳ đã nướng quân chỉ vì thủy binh câu giờ

Chiến thắng của Lý Kế Nguyên tạo bước ngoặt
Vấn đề đặt ra là tại sao nhà Tống lại phải đem lực lượng ô hợp như vậy để nướng quân trên biển? Đơn giản vì Tống Thần Tông muốn nóng lòng đánh gấp để sau khi thắng là phải rút lại chủ lực về biên giới phía Bắc. Tống Thần Tông đặt quá nhiều kỳ vọng vào kỵ binh và bộ binh của Quách Quỳ - Triệu Tiết trong khi xem nhẹ năng lực thủy quân nhà Lý.

Trong chiến thắng trước quân Nguyên Mông thì trận thủy chiến then chốt tại Vân Đồn đã tạo ra bước ngoặt. Danh tướng Trần Khánh Dư đánh bại đoàn thuyền lương của Trương Văn Hổ đã khiến cho quân Nguyên không còn giữ được thế chủ động và liên tiếp mắc sai lầm. Còn trong chiến thắng của quân dân ta thời nhà Lý trước cuộc xâm lược của nhà Tống thì chiến thắng trong trận thủy chiến cũng gần Vân Đồn đã tạo ra bước ngoặt.
Sau khi Lý Thường Kiệt đại phá Ung Châu, Tống Thần Tông đã tập hợp một lực lượng lớn trao quyền cho Quách Quỳ và Triệu Tiết để vừa trả đũa, vừa tìm cách xâm lược nước ta. Vì nóng lòng đánh nhanh, thắng nhanh nên vua Tống đặt trọn niềm tin vào lực lượng đánh trên bộ gồm bộ binh và kỵ binh. Khoảng 10 vạn quân, 1 vạn ngựa với sự phục vụ của 20 vạn dân phu được huy động trong cuộc chiến xâm lược của nhà Tống. Trong số này có 1 nửa là quân tinh nhuệ được huy động từ biên giới với Liêu, Tây Hạ vốn dạn dày chiến đấu.
Thậm chí, nhà Tống đã tính đến việc phá thành khi kéo quân đến sát thành Thăng Long khi mang rất nhiều khí cụ hiện đại khi ấy như máy bắn đá, xe công thành... Thế nhưng, có một cái mà nhà Tống tính dở là đầu tư không tốt cho thủy quân. Thực ra, lực lượng thủy quân nhà Tống không hề ít nhưng mà thiếu chất lượng hay nói theo kiểu người phương Bắc là tuy đông nhưng lại ô hợp. Theo sách Nghệ thuật đánh giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam thì thủy quân Tống có đến hơn 5 vạn quân, do tướng Dương Tùng Tiên chỉ huy. Dương Tùng Tiên được vua Tống phong làm An Nam đạo hành doanh Chiến trạo đô giám, phối hợp với một số quan chức khác phụ trách từ tuyển mộ quân, trưng thu thuyền đến vạch kế hoạch tác chiến.
Như vậy có thể thấy thủy quân của Tống về số lượng thì rất đông đảo. Trong khi đó, thủy quân Việt lại phải chia làm 2. Phần lớn lực lượng tập trung cho việc bảo vệ phòng tuyến Như Nguyệt dưới sự chỉ huy của 2 hoàng tử là Hoằng Chân và Chiêu Văn với khoảng 400 thuyền và 2 vạn quân. Phần còn lại do danh tướng Lý Kế Nguyên đóng gần Vân Đồn với số lượng có lẽ dưới 2 vạn. Tuy nhiên, thủy quân ta lại có lợi thế là thạo địa hình sông nước và tinh thần chiến đấu cao.
Kết quả thủy binh Tống đã bị đội binh thuyền ta, do Lý Kế Nguyên chỉ huy, chặn lại ở Vĩnh An. Chúng cố gắng đánh mở đường để theo sông Đông Kênh tiến vào cửa sông Bạch Đằng, nhưng 10 trận liền bị quân ta đánh bại, không sao nhích lên được một bước. Đánh không thắng, quay về thì sợ tội, tiến không được, thoái không xong, Dương Tùng Tiên dùng chiêu câu giờ cho thuyền lượn lờ chiếu lệ trên biển đến hàng mấy tháng trời và gởi thư về đất liền Tống nói rõ ý của mình là lo giũ lực lượng để phòng vệ duyên hải:“Vừa rồi, tôi gặp quân liên lạc của giặc mang lệnh của viên hành quân chiêu thảo sứ bên giặc là Lý Kế Nguyên. Sau đó nhiều lần tôi đánh chúng, nhưng chúng không có ý khuất phục. Vậy xin hãy ra lệnh phòng bị nghiêm ngặt ở biên giới để tránh sự bất ngờ”.
Cuốn 'Một số trận chiến chiến lược trong lịch sử Việt Nam' phân tích: "Binh lực chủ yếu và tinh nhuệ của quân Tống vẫn là bộ binh và kỵ binh. Trong cuộc chiến tranh xâm lược nước ta, các đạo bộ binh trong đó có kỵ binh cũng giữ vai trò những mũi tiến công quyết định. Còn thủy binh chỉ là lực lượng phối hợp nhằm hiệp đồng với bộ binh, tổ chức vượt sông để tiến sâu vào nước ta. Nhà Tống đề ra nhiệm vụ của thủy binh là vượt biển tiến vào nước ta để ”ghé thuyền vào bờ bắc chờ đại quân qua sông, vì trên đường bộ tiến binh đến kinh thành giặc còn cách sông lớn, người Giao lại giỏi thuỷ chiến, sợ thuyền giặc giữ các chỗ hiểm, đại binh khó lòng qua được” (Lý Đào, Tục tư trị thông giám trường biên, sách đã dẫn). Lực lượng thúy binh này mới được tổ chức gồm những người dân chài ven biển Quảng Đông bị nhà Tống bắt vào lính. Họ chưa quen chiến trận, lại không có tinh thần chiến đấu".
Rốt cuộc 5 vạn thủy quân Tống, nhiều gấp đôi, thậm chí gấp ba so với thủy quân nhà Lý nhưng cũng không thể đạt được mục đích vượt cửa Bạch Đằng vào tiếp viện cho Quách Quỳ. Lý do như đã phân tích là lượng tuy đông nhưng chất lại thấp. Quân thủy nhà Tống mà được tổ chức gấp gáp chưa được tập luyện thực chiến nhiều nên ra biển là thua. Cũng phải nói rằng thời đó, quân phương Bắc gồm cả Tống, Hạ, Liêu hay các triều trước thời Ngũ đại cũng toàn đánh nhau trên bộ, hay cùng lắm là vài trận nhỏ trên sông chứ không mấy khi đánh nhau ở ngoài biển nên thua trước cửa Bạch Đằng cũng là điều dễ hiểu.
Vấn đề đặt ra là tại sao nhà Tống lại phải đem lực lượng ô hợp như vậy để nướng quân trên biển? Đơn giản vì Tống Thần Tông muốn nóng lòng đánh gấp để sau khi thắng là phải rút lại chủ lực về biên giới phía Bắc nên không có thời gian chuẩn bị chu đáo cho lực lượng trên biển. Tống Thần Tông đặt quá nhiều kỳ vọng vào kỵ binh và bộ binh của Quách Quỳ - Triệu Tiết trong khi xem nhẹ năng lực thủy quân nhà Lý.
Vì không có lực lượng thủy binh xuống phối hợp, Quách Quỳ đã mắc sai lầm khi ép bộ binh phải đóng vai thủy binh. Có 2 lần Quách Quỳ dùng bộ binh vượt sông. Lần thứ nhất là dùng cầu phao sau khi nghe tin đồn là quân Lý ở bờ nam Như Nguyệt trốn đi hết. Quách Quỳ cho phép tướng Vương Tiến bắc cầu phao cho đội xung kích của Miêu Lý khoảng 2.000 người vượt sông. Lợi dụng được yếu tố bất ngờ, Miêu Lý vượt sông đã thành công, chọc thủng được phòng tuyến của quân Lý, tiến khá sâu hướng vào Thăng Long. Nhưng đến vùng Yên Phụ, Thụy Lôi thì bị phục kích, bao vây. Miêu Lý cùng những binh sĩ còn sống chạy về phía Như Nguyệt nhưng đến nơi thì cầu phao đã bị hủy và gặp quân nhà Lý đón đánh và bị diệt gần hết, dù quân Tống đóng bên bờ bên kia có cố gắng cho bè sang hỗ trợ.
Sau lần đó, Quách Quỳ lại kiên trì chờ thủy binh nhưng mãi không thấy bóng dáng Dương Tùng Tiên đâu. Ngồi một chỗ thì miệng ăn núi lở nên Quách Quỳ phải mạo hiểm. Lần thứ hai, quân Tống dùng một lực lượng mạnh hơn nhiều so với lần trước và đóng bè lớn với sức chứa khoảng 500 quân để vượt sông. Bè chở quân Tống đổ sang bờ nam kiểu "trả góp" cứ 500 người một lượt là bè lại phải chèo về đón lượt sau qua sông. Khổ thay đám quân đổ bộ vừa đặt chân xuống bờ nam đã phải phải chống lại các đợt phản công mãnh liệt của quân nhà Lý trong khi việc vượt qua lũy hào rất khó khăn. Bè chở binh tiếp viện lại không qua kịp nên thật sự là Quách Quỳ đã nướng quân.
Người Tống thời đó mô tả trận đánh như sau: “Dùng bè chở 500 quân vượt sông, vừa chặt vừa đốt mấy lớp trại rào tre không được, đem bè không về để chở cứu binh nhưng lại bị giặc (chỉ quân Lý) bắt giết. Thế là quân ta (Tống) không được cứu, kẻ trốn, kẻ chết, không thành công được” (Trình Di, Trình Hạo, Nhị Trình di thư). Đợt tấn công lần hai lại kết thúc với thất bại nặng nề khiến Quách Quỳ thấy rằng, nếu không có thủy binh hỗ trợ sẽ không thể vượt sông được, buộc phải ra lệnh đưa quân về thế phòng thủ và tuyên bố rằng: "Ai bàn đánh sẽ chém!". Tất nhiên là chẳng có thủy quân nào đến nữa.
Chính chuyện không có thủy quân cộng với việc thiệt hại nặng sau khi bị quân nhà Lý phản công nên Quách Quỳ sau đó chấp nhận việc hòa để tiện đường rút quân. Một thời gian sau, Dương Tùng Tiên mới biết Quách Quỳ phải rút quân nên cũng thoái lui luôn. Trong số 10 vạn lính Tống dưới trướng Quách Quỳ - Triệu Tiết ban đầu chỉ còn 23.400 lính trở về, 1 vạn ngựa chiến thì còn lại 3.174 con. Số dân phu 20 vạn trở về không được một nửa. Bao nhiêu số đó đã thiệt mạng chỉ vì thủy quân còn câu giờ ngoài biển? Nhưng cũng chẳng trách được thủy quân Tống khi chính họ cũng nướng không ít nhân mạng trong 10 lần đối đầu với thủy quân của Lý Kế Nguyên.
Anh Tú

Nhà Lê buộc họ Trần phải đổi sang họ Trình, khôi phục họ Lý

Vua Lê Thái Tổ với giai thoại trả gươm cho rùa thần
Nếu 1226, Trần Thái Tông ban lệnh kiêng húy chữ Lý để nhân tâm quên họ Lý thì 2 thế kỷ sau, nhà Lê lại làm theo y chang cách của nhà Trần để nhân tâm khỏi nhớ họ Trần. Vua Lê Thánh Tông lấy cớ rằng: Cung từ hoàng thái hậu họ Phạm, tên húy là Ngọc Trần, nên yết thị cho trong kinh thành, ngoài các đạo, phàm nơi nào có họ "Trần" đổi chép làm chữ "Trình".
Trong phần trước, chúng tôi có phân tích việc nhà Trần sau khi lên ngôi đã ép người họ Lý phải đổi sang họ Nguyễn với lý do kiêng húy vì ông nội của Thái Tông Trần Cảnh là Trần Lý. Theo Đại Việt sử ký toàn thư chép: "Vì nguyên tổ húy Lý, cho nên đổi họ Lý làm họ Nguyễn, vả lại để tuyệt lòng mong mỏi của người dân đối với nhà Lý".
Chữ Lý phải mãi đến khi nhà Trần mất, nhà Lê lên thì mới được khôi phục lại cho dùng. Cụ thể là "Mùa đông (1428), tháng 10, ngày 11, có lệnh thôi kiêng húy chữ "Nguyễn". Theo giải thích là quy định dùng chữ Nguyễn dùng thay thế chữ Lý theo lệnh kiêng húy của Trần Thái Tông năm 1226 đến 1428 thì chính thức bị bãi bỏ. Chỉ có điều sau 200 năm là quá dài, nhiều người họ Lý chuyển sang họ Nguyễn cũng không cải về họ cũ.
Chữ Lý được khôi phục, không phải kiêng kỵ nữa nhưng đến lượt chữ Trần phải chịu trả giá. Nếu 1226, Trần Thái Tông ban lệnh kiêng húy chữ Lý để nhân tâm quên họ Lý thì 2 thế kỷ sau, nhà Lê lại làm theo y chang cách của nhà Trần để nhân tâm khỏi nhớ họ Trần.
Sau khi giải quyết xong Trần Cảo hồi đầu năm 1428, Lê Lợi lên ngôi ở Đông Kinh vào ngày 15.4, đại xá thiên hạ, đổi niên hiệu là Thuận Thiên (tức là theo ý trời) và đến ngày 20 thì đã công bố chữ húy. Đại Việt sử ký toàn thư chép: Ngày 20, ban các chữ húy tông miếu và chữ húy tên vua. Tất cả các chữ húy chính khi viết đều không được dùng, nếu đồng âm mà khác chữ thì không phải húy. Húy Tông miếu có 5 chữ: Hiển Tổ Chiêu Đức Hoàng Đế húy là Đinh, Hiển Tổ Tỷ Gia Thục Hoàng Thái Hậu húy là Quách, Tuyên Tổ Hiến Văn Hoàng Đế húy là Khoáng, Trinh Từ Ý Văn Hoàng Thái Hậu húy là Thương, huý của vua là Lợi, của hoàng hậu là Trần, của anh vua là Học.
Trong số 5 chữ húy này thì thật "trùng hợp" là có chữ Trần vì cớ là húy của hoàng hậu. Nhưng nếu xét kỹ lại thì Lê Lợi vốn không lập chính thất mà chỉ lập mấy người làm phi như Trịnh thần phi, Phạm huệ phi và Phạm hiền phi (tức Phạm thị Ngọc Trần). Bà Ngọc Trần vốn qua đời khi Lê Lợi còn chưa lên ngôi và trong bố cáo thiên hạ truy tôn tổ tiên trước khi lên ngôi cũng không thấy truy tôn bà Ngọc Trần. Cụ thể: cuối tháng 3 (1428), Truy tôn thuỵ hiệu từ khảo tỷ trở lên. Tổ khảo Đinh làm Chiêu Đức Hoàng Đế, bà là Nguyễn Thị Quách làm Gia Thục hoàng hậu, cha là Khoáng làm Tuyên Tổ Hoàng Đế, mẹ là Trịnh Thị Thương làm Ý Văn hoàng hậu.
Phải mãi sau này khi con của bà Ngọc Trần là Lê Nguyên Long (tức Lê Thái Tông) lên ngôi thì bà mới được truy phong là Cung Từ hoàng thái hậu. Vấn đề tại sao khi Lê Lợi vừa lên ngôi đã vội cho một người vợ qua đời là Phạm hiền phi được kiêng húy trong khi không làm vậy với Trịnh thần phi, Phạm huệ phi khiến chúng ta phải đặt câu hỏi: Phải chăng Lê Lợi học lại chiêu của nhà Trần 200 năm trước khi kiêng húy chữ Lý?
Đến thời Lê Thánh Tông, tức là vua thứ 4 nhà Lê (sau Thái Tổ, Thái Tông, Nhân Tông) thì tiếp tục ban thêm một chiếu chỉ cụ thể hơn có ý buộc người nhà Trần phải đổi họ. Năm 1465, Thánh Tông Lê Tư Thành lên ngôi và tháng 8 năm đó, vua hạ chiếu: Đổi tên những họ nào đã phạm vào chữ húy của Cung từ hoàng thái hậu. Sử quan nhà Nguyễn giải thích trong Khâm định việt sử thông giám cương mục: "Nhà vua lấy cớ rằng: Cung từ hoàng thái hậu họ Phạm, tên húy là Ngọc Trần, nên yết thị cho trong kinh thành, ngoài các đạo, phàm nơi nào có họ "Trần" đổi chép làm chữ "Trình".
Tuy nhiên, việc đổi họ này có vẻ không làm mạnh tay. Chính vì vậy, trong năm đó có một người họ Trần ra đời là Trần Sùng Dĩnh. 22 năm sau, Trần Sùng Dĩnh là người đỗ trạng nguyên cũng dưới thời Lê Thánh Tông. Nếu bảo người họ Trần đều phải đổi sang họ Trình dưới thời Lê Thánh Tông thì sao lại còn Trần Sùng Dĩnh đỗ Trạng nguyên. Rồi sau đó, năm 1526, dưới thời Lê Cung Hoàng lại có thêm Trạng nguyên Trần Tất Văn.
Chưa hết, cuối thời Hậu Lê còn có Trần Chân là trụ cột triều đình. Năm 1516, sau khi dẹp yên Trần Cảo thì binh quyền trong tay Trần Chân rất lớn đến mức dân gian còn lưu truyền câu sấm rằng: "Trần hữu nhất nhân, vì thiên hạ quân, thỏ đầu hổ vĩ, tế thế an dân", nghĩa là: "Họ Trần có một người, làm vua thiên hạ, đầu thỏ đuôi hùm, giúp 

Nhà Trần ép người họ Lý đổi sang họ Nguyễn có thỏa đáng không?

Lý Thường Kiệt bị đổi thành Nguyễn Thường Kiệt vào đời Trần
Nhà Trần là triều đại đầu tiên bắt đầu tham gia cuộc chơi 'kỵ húy' nhưng có lẽ không phải vì muốn học theo nhà Tống mà coi đó như thủ thuật chính trị để cho họ Lý rơi vào quên lãng. Điểm trùng hợp then chốt là việc ông nội của Trần Thái Tông lại có tên là Lý nên có cớ quá tiện để ép người họ Lý chuyển sang họ Nguyễn. Không chỉ người họ Lý khi đó phải đổi họ mà truy ngược lên cả các vua Lý trước đây hay thậm chí danh tướng Thường Kiệt cũng phải đổi họ.
Nhà Lý là triều đại có 200 năm trong lịch sử dân tộc với nhiều danh nhân kiệt xuất mà nay còn lưu trên tên đường phố. Thế nhưng, hậu nhân nhà Lý hiện nay khá ít. Nguyên nhân là khi nhà Trần mới lên thay đã dùng luật để ép người họ Lý phải đổi sang họ khác. Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép: "Tháng 4, mùa hạ (1232). Ban chữ huý về tiên tổ nhà vua thờ ở các miếu cho trong kinh đô và ngoài các lộ đều biết", đồng thời bình luận: "Ông tổ nhà vua tên huý là Lý, vì thế đổi họ Lý làm họ Nguyễn, lại có ý dập tắt hẳn lòng dân còn tưởng nhớ đến họ Lý".
Vậy nhà Trần ép người họ Lý đổi sang họ Nguyễn thì có thỏa đáng hay không?
Trước hết nói về cái lý của việc cải họ do kỵ húy. Đây không phải phát minh của nhà Trần mà do ảnh hưởng từ văn hóa thời phong kiến bên Trung Quốc. Kỵ húy tên người thân vốn bắt đầu hình thành từ nhà Chu (Tả truyện thời Tề Hoàn công chép: Người đời Chu thờ người quá cố bằng tên húy, còn gọi lúc sinh thời, lúc chết giấu đi). Sau được Khổng Tử nâng cao quan điểm trong kinh Xuân Thu khi "không chép tên bậc tôn trưởng, không chép tên cha mẹ, không chép tên người thường".
Đến thời Tần (306-255TCN) thì Tần Thủy Hoàng bắt đầu quan tâm việc kiêng húy tên vua. Tần Thủy Hoàng vốn họ Doanh tên húy là Chính nên cấm dùng chữ Chính mà đổi mọi chữ Chính thành từ đồng nghĩa là Đoan. Và sợ người đời đề cập đến người cha Tử Sở của mình nên Tần Thủy Hoàng cũng cấm luôn từ Sở mà đổi thành từ Kinh. Các đời sau tiếp nối nhà Tần nên theo sẵn truyền thống quản chặt việc cấm tên húy của vua rồi nâng tầm phát triển mở rộng. Sau khi Lưu Bang lập nhà Hán (206TCN - 220) thì kiêng dùng chữ Bang mà đổi thành Quốc, Lữ hậu kiêng chữ Trĩ, Hán Văn Đế Lưu Hằng kiêng dùng chữ Hằng nên đổi thành chữ Thường... Tuy nhiên, thời Tần hay Hán thì việc kiêng húy cũng chỉ dùng cho các vua đương triều hay cùng lắm là truy về một đời như Tần Thủy Hoàng. Đến thời Tấn (265-420) thì lệ kỵ húy nghiêm ngặt hơn với các định lệ phức tạp hơn khi kỵ húy đến 7 đời. Các triều đại sau có quy định khác nhau về kỵ húy nhưng theo xu hướng thêm nhiều hơn bớt.
Khoảng thời gian nhà Trần thay ngôi nhà Lý thì bên Trung Quốc khi đó đang là nhà Tống vốn rất nghiêm ngặt việc kị húy. Sách Dung trai tam bút viết: "Phong tục bản triều sùng chuộng văn học, cho nên lễ quan mỗi khi bàn luận về chữ húy lại muốn tăng thêm, các miếu húy bèn lên đến hơn 50 chữ. Sĩ tử làm bài thi gặp chữ còn ngờ thì không dám dùng. Quyển thi nào phạm húy thì đều bị ngầm đánh hỏng".
Việc nhà Trần áp dụng việc kỵ húy có vẻ bị ảnh hưởng từ nhà Tống? Thực tế thì không chỉ nhà Trần mà cả các triều Liêu, Kim rồi Mông Cổ sau khi thôn tính nhà Tống cũng lại đi theo trào lưu kỵ húy cho dù người Liêu, Kim hay Mông trước đó đều chưa có chữ viết trong khi ngôn ngữ là đa âm tiết chứ không phải đơn tiết như người Hán.
Tại sao họ lại chạy theo phong trào kỵ húy thế? Các nhà Liêu, Kim, Mông đều thích lễ nghi, tiết chế mà người Hán tạo sẵn vốn đặc biệt coi trọng người lãnh đạo, tức là vua. Họ rập khuôn theo nhiều điều trong tiết chế của người Hán khi đặt nền cai trị lên người Hán và áp dụng luôn kỵ húy với tên nhà vua. Đặt trong bối cảnh lịch sử của nhà Trần khi đó thì việc học theo các triều đại phương Bắc các nghi lễ đã được nhào nặn nhiều đời, trong đó có việc kị húy tên vua nhà Trần có vẻ rất hợp lý.
Tuy nhiên, điều không thỏa đáng ở đây nằm ở chỗ trước nhà Trần, các triều đại trước ở nước ta không nhắc gì đến việc kỵ húy cả. Trong cuốn "Nghiên cứu chữ húy Việt Nam qua các triều đại" của nhà nghiên cứu Ngô Đức Thọ có ghi lại việc khảo cứu về kị húy nước ta thời xưa. Theo đó, đời Đinh - Tiền Lê thì trên các cột kinh đã được phát hiện tại vùng cố đô Hoa Lư, không thấy các chữ viết kiêng húy. Còn đời Lý, trong số 9 đơn vị kim thạch văn (8 văn bia hiện có bản dập lưu ở viện Hán Nôm và 1 chuông ở Bảo tàng lịch sử VN) có 5 đơn vị ghi tên 3 chữ húy của 3 vua đời Lý là: 1 chữ Uẩn (Thái Tổ Lý Công Uẩn), 2 chữ Tôn (Thánh Tông Lý Nhật Tôn), 5 chữ Đức (Nhân Tông Lý Càn Đức). Các chữ đó đều được viết bình thường tức là đủ nét, không cần viết nhô lên cao hay theo kiểu đặc biệt gì cả. Từ kết quả đó, nhóm khảo sát khẳng định: từ đời Lý trở về trước, nước ta chưa có định lệ kiêng húy về chữ viết.
Nhà Trần là triều đại đầu tiên bắt đầu tham gia cuộc chơi 'kỵ húy' nhưng có lẽ không phải vì muốn học theo nhà Tống mà coi đó như thủ thuật chính trị để cho họ Lý rơi vào quên lãng. Điểm trùng hợp then chốt là việc ông nội của Trần Thái Tông lại có tên là Lý nên có cớ quá tiện để ép người họ Lý chuyển sang họ Nguyễn. Không chỉ người họ Lý khi đó phải đổi họ mà truy ngược lên cả các vua Lý trước đây hay thậm chí danh tướng Thường Kiệt cũng phải đổi họ. Trong Đại Việt sử lược viết vào thời Trần thì triều Lý viết là triều Nguyễn, vua Lý là vua Nguyễn. Ví dụ: "Vua Thái Tổ tên húy là Uẩn, họ Nguyễn người ở Cổ Pháp thuộc Bắc Giang" hay "Mùa hạ, tháng 4, Nguyên soái Nguyễn Thường Kiệt bắt được Đệ Củ ở biên giới Chân Lạp" (Lý Thường Kiệt vốn họ Ngô được vua Lý ban cho quốc tính rồi sang thời Trần thì "được" đổi thành họ Nguyễn).
Vậy tại sao nhà Trần đã kị húy họ Lý chặt như vậy mà về sau vẫn có tướng mang họ Lý phục vụ cho nhà Trần (theo lời của sử gia Ngô Sĩ Liên) hay việc có trạng nguyên Lý Đạo Tái thời Trần Thánh Tông? Có thể tin rằng việc kỵ húy chữ Lý chỉ được làm chặt trong thời gian đầu khi nhà Trần chưa có chỗ đứng vững chắc trong lúc vẫn sợ nhân tâm hướng về họ Lý, sợ rằng trong dân có ai mang họ Lý nổi lên thì nhiều phiền toái.
Nhưng về sau thì nhà Trần đã có chỗ đứng vững chắc trong lòng người dân, nhất là sau 3 đời Thái Tông, Thánh Tông, Nhân Tông lãnh đạo quân dân cả nước 3 lần đánh tan quân xâm lược nhà Nguyên. Khi đó thì việc kỵ húy chữ Lý không còn bị quản chặt nữa. Thậm chí, Trần Anh Tông còn dùng việc kỵ húy để tôn vinh họ Lý cũng là họ ngoại của vua Trần vì Trần Thánh Tông là con của Thuận Thiên công chúa hay chính xác thì Trần Thánh Tông chính là cháu ngoại của Lý Huệ Tông. Tháng 9.1304, Trần Anh Tông ra chiếu cấm viết 8 chữ miếu húy nhà Lý: Uẩn (Lý Công Uẩn), Mã (Lý Phật Mã), Tôn (Lý Nhật Tôn), Đức (Lý Càn Đức), Hoán (Thần Tông Lý Dương Hoán), Tộ (Anh Tông Lý Thiên Tộ), Cán (Cao Tông Lý Long Cán), Sảm (Huệ Tông Lý Hạo Sảm).

Trong các đời vua Trần thì Trần Anh Tông là người tích cực nhất trong việc ban chữ kỵ húy. Trong 8 điều lệnh kiêng húy nhà Trần còn được chép lại thì có đến 5 lệnh kiêng húy do Trần Anh Tông ban. Vua Trần Anh Tông cũng là người dùng việc kị húy để tôn vinh một nhân vật gây tranh cãi trong họ Trần là Trần Liễu. Tuy Trần Liễu từng bị thất thế sau vụ nổi loạn ở sông Cái nhưng Trần Anh Tông cũng là hậu duệ trực tiếp của ông (bà nội của Trần Anh Tông hay mẹ của Trần Nhân Tông chính là con gái của Trần Liễu). Vua Trần Anh Tông còn ban lệnh cấm tên húy của cả các thái hậu đời trước rồi cha vợ (Trần Quốc Tảng).
Sử chép: Giáp Ngọ, Hưng Long năm thứ 2 [1294], (Nguyên Chí Nguyên năm thứ 31). Mùa xuân tháng 2, ngày mồng 7 ban bố các chữ quốc húy: chữ húy của vua là Thuyên, của Nhân Tông là Khâm, của Thánh Tông là Hoảng; của Thái Tông là Cảnh, của Thái Tổ là Thừa, của Nguyên Tổ là Lý; các chữ nội húy: Thánh Từ hoàng hậu là Phong, Thuận Từ hoàng hậu là Diệu, Hiển Từ hoàng hậu là Oanh, Nguyên Thánh hoàng hậu là Hâm.
Kỷ Hợi, [Hưng Long] năm thứ 7 [1299], (Nguyên Đại Đức năm thứ 3). Mùa xuân, tháng 4, ngày 12, xuống chiếu cấm chữ húy của Khâm Minh Đại Vương và Thiện Đạo quốc mẫu (Khâm Minh tên húy là Liễu, Thiện Đạo tên húy là Nguyệt; Thiện Đạo là phu nhân của Liễu) khi làm văn không được dùng. Các các chữ Ngụy, Thấp, Nam, Càn, Tô, Tuấn, Anh, Tảng khi làm văn phải viết bớt nét.
Anh Tú

Tận mục ngôi chùa làng cổ xưa, tuyệt đẹp của xứ Huế

(Kiến Thức) - Chùa Giác Lương có lịch sử hình thành từ thế kỷ 16. Chùa mang những nét kiến trúc đặc sắc, tiêu biểu cho một ngôi chùa làng ở xứ Huế xưa
Nằm tại làng Hiền Lương, xã Phong Hiền, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế, chùa Giác Lương được coi là một trong những ngôi chùa làng tiêu biểu nhất của xứ Huế.
Chùa được xây dựng vào thời Lê trung hưng (thế kỷ 16), do bà Hoàng Thị Phiếu - người Bắc di cư vào – cùng tộc trưởng các dòng họ trong làng Hiền Lương lập ra.
Ban đầu, chùa thuộc xóm Cồn Bệ - trung tâm của làng Hiền Lương. Nhưng về sau dân làng với lý do tránh sự tranh chấp đất đai đã dời chùa sang khu đất tiếp giáp với làng Phú Lễ.
Chùa nằm trong khuôn viên rộng 4.360m², đã được trùng tu vào các năm 1806, 1924, 1969, 1987. Tam quan chùa có kiến trúc đồ sộ, gồm hai tầng.
Chính điện của chùa có hai gian bốn chái. Hai chái sau khá rộng, là nơi lưu giữ nhiều sắc phong và các tài liệu thư tịch cổ, hai chái trước đặt giá treo chuông đồng và trống theo nguyên tắc "tả chung hữu cổ
".
Chùa thờ Phật, các thánh Quan Công, Quan Bình, Châu Xương và 12 vị thủy tổ các dòng họ có công lập làng.
Nội thất chùa, từ bộ khung đến hệ thống liên ba, cửa bảng khoa đều trang trí, chạm nổi hình bát bửu, tứ linh, tứ thời, và các kiểu hoa văn tinh xảo.
Một nét nghệ thuật đặc sắc của chùa Giác Lương là các mảng trang trí bằng mảnh sành sứ rất sinh động.
Họa tiết trang trí trên mái chùa.
Bộ cửa gỗ của chính điện được chạm khắc tinh xảo.

Chùa hiện lưu giữ một quả chuông lớn đúc năm 1819, 7 pho tượng cổ mà bà Hoàng Thị Phiếu cung tiến và có 17 bản sắc phong của các vua nhà Nguyễn cho những người có công  canh, khai khẩn làng. Sân trước chính điện có cây sứ cổ trên dưới 200 năm tuổi..
Trong khuôn viên chùa còn có các Miếu: Cao các thành hoàng, Đặc tấn phụ quốc thượng tướng quân Trần Quý Công và hai vị Dương Đại Lang.
Các nhà nghiên cứu văn hóa đánh giá, chùa Giác Lương góp phần vào việc nghiên cứu lịch sử hình thành phong cách kiến trúc chùa xứ Huế trong tổng thể bức tranh kiến trúc Phật giáo Việt Nam.
Ngôi chùa cổ này đã được xếp hạng di tích kiến trúc, nghệ thuật cấp quốc gia vào năm 1992.
Quốc Lê