Thứ Bảy, 29 tháng 6, 2013

Nuốt nước miếng với món chè tàu cột điện

Không giản dị như chè Bắc cũng không kiểu cách giồng chè Huế, chè người Hoa cho người ăn cảm giác lạ miệng và ngon mắt.

 

Chè tàu cột điện là tên gọi thân thiết của những khách hàng ăn quen món ngon Sài Gòn. Quán chẳng có biển hiệu hay bàn ghế sang trọng nhưng hàng ngày vẫn thu hút hàng trăm lượt khách ghé ăn. Đơn giản vì chè ngon và mùi vị đặc biệt.

Chiều tà, khi những cơn nắng Sài Gòn không còn gay gắt, chị em văn phòng chúng tôi lại rủ nhau xuôi về Quận 5 ăn chén chè lạ vị của người Hoa. 

Quán chè nằm trên đường Trần Hưng Đạo B, ngay bên hông cột điện và do gia đình người Hoa bán gần chục năm nên mọi người quen miệng gọi là chè tàu cột điện cho dễ nhớ. 

Không giống chè miền Bắc đơn sơ, giản dị hay chè Huế cầu kỳ bắt mắt, chè của người Hoa là sự kết hợp của vịt ngọt và mặn quyện hòa lẫn nhau.  Cụ thể, quán có chè hột gà trà, chè quy linh cao, mè đen nhuyễn hay vị củ năng thơm, mát...

Nuốt nước miếng với món chè tàu cột điện 1
Chè hột gà trà Tàu 

Trong đó đặc biệt nhất là chè hột gà trà. Trứng gà luộc chín, gõ nhẹ vào đầu trứng cho vỏ hơi nứt, sau đó cho vào nồi nước trà tàu luộc khoảng 2 tiếng trong lửa nhỏ. Rồi lột sạch vỏ trứng và tiếp tục nấu chừng 10 phút, thêm đường ngọt cho dễ ăn. Trứng luộc phải đảm bảo vỏ cứng trong mềm và không dai, cắn 1 miếng sẽ thấy thấm vị thơm đậm của chén chè. 


Nuốt nước miếng với món chè tàu cột điện 2
Bên trong hột gà
Nuốt nước miếng với món chè tàu cột điện 3
Chè hột gà trà ăn lạnh bỏ thêm đá

Thông thường hột gà trong chè có màu vàng sẫm, xung quanh sóng sánh thứ nước trà có vị ngọt đậm, một chút đắng và thơm nhẹ bắt mắt. Một chén chè hột gà trà như vậy có giá là 14.000 đồng/chén. Hột gà trà có thể ăn nóng hoặc lạnh, tùy vị, tùy người, nhưng trời Sài Gòn nắng nhiều nên hầu hết mọi người đều gọi chè lạnh. 

Nuốt nước miếng với món chè tàu cột điện 4
Chè quy linh cao 
Chưa hết, quán còn có chè quy linh cao màu đen, gần giống như thạch được thái hình quân cờ mềm, dai, nước chè hơi đắng và có mùi thơm nhẹ. Giá của chén chè quy linh cao này là 13.000 đồng. 

Nuốt nước miếng với món chè tàu cột điện 5
Chè mè đen 
Tuy nhiên, với nhiều người thì "chè là phải ngọt" nên quy linh cao và hột gà trà tuy lạ, ngon nhưng vẫn chưa phải đã miệng thưởng thức. Biết vậy nên chủ quán chuẩn bị thêm món chè mè đen nhuyễn, ngọt lừ và ấm bụng. Mè đen có giá 13.000 đồng/ly và thường được ăn nóng. 

Nuốt nước miếng với món chè tàu cột điện 6
Nhiều loại chè khác ở quán chè tàu cột điện

Ngoài các loại chè đặt trưng của người Hoa trên, quán còn phục vụ thêm chè đậu xanh, đậu đỏ, củ năng...cũng khá ngon với giá dao động từ 13.000 - 15.000 đồng/chén. 

Tuy nhiên, quán phục vụ hơi lâu và các món chè tuy ngon nhưng ăn nhiều sẽ ngán. Thêm nữa, quán không có chỗ trông xe, người ăn phải gửi qua bên chợ đối diện với giá 5.000 đồng/xe. Quán mở cửa từ 3h chiều đến khuya, nên muốn đổi vị chè thì bạn nên nếm thử. Không gian quán nhỏ, hẹp nên không thích hợp đi đông người. 

.

Tác dụng thần kỳ của cây sả

Sả là một gia vị được nhân dân ta dùng phổ biến để chữa bệnh và trừ côn trùng, nhưng ít ai biết được loài cây này còn có những tác dụng thần kỳ hơn thế.
Sả là loại cây thảo sống dai, cao khoảng 1m, mọc thành bụi (tên khoa học là Cymbopogon Citratus (L.) Pers), thuộc họ lúa (Poaceae).
Theo Đông y, sả vị the, mùi thơm, tính ấm, có tác dụng làm ra mồ hôi, thông tiểu tiện và tiêu thực. Sả được dùng chủ yếu làm thuốc chữa cảm sốt, đầy bụng, tiêu chảy... Liều lượng mỗi ngày 8 - 12g lá và củ sả dưới dạng thuốc xông, xông cho ra mồ hôi để chữa cảm sốt, nhức đầu.
Các công dụng khác của sả:
Ngăn ung thư: Vào năm 2006, một nhóm nghiên cứu ở Trường Đại học Ben Gurion, Israel phát hiện thấy hợp chất citral có trong sả giúp tiêu diệt các tế bào ung thư và không làm tổn hại đến các tế bào mạnh. Các chuyên gia khuyến cáo nên cho sả vào thức ăn hoặc giã sả vắt làm nước uống thay trà.
Hỗ trợ tiêu hóa: Là gia vị có khả năng giúp tiêu hóa, hạn chế đau dạ dày, ợ khí chua, đầy bụng và tiêu chảy, nó cũng giúp làm giảm các vấn đề về đầy hơi vì nó có khả năng làm dịu các cơ dạ dày.
Tác dụng thần kỳ của cây sả
Giải độc hiệu quả: Từ lâu sả được sử dụng như thuốc giải độc trong cơ thể. Lý do là sả giúp tăng cường số lượng và tần suất việc đi tiểu, giúp gan, đường tiêu hóa, thận, tuyến tụy và bàng quang luôn sạch sẽ và khỏe mạnh bằng cách loại bỏ những những độc tố không mong muốn và axit uric.
Tăng cường sức khỏe hệ thần kinh: Tinh dầu trong cây sả có thể tăng cường và cải thiện hoạt động của hệ thần kinh, ăn sả có thể hỗ trợ nhiều bệnh rối loạn về thần kinh như Alzheimer (bệnh mất trí nhớ), bệnh parkinson, co giật thần kinh, lo lắng, chóng mặt...
Giảm huyết áp: Nó giúp tăng cường máu lưu thông và làm dịu các vấn đề về huyết áp. Các chuyên gia khuyên rằng, khi tăng huyết áp, bạn uống một cốc nước sả sẽ giúp huyết áp tụt xuống đáng kể.
Giúp giảm đau: Ăn sả có thể giúp bạn giảm được chứng sưng tấy liên quan đến các cơn đau nhức. Khi đau răng, đau cơ, đau khớp hay đau ở bất kì chỗ nào trên cơ thể, uống trà sả sẽ giúp bạn giảm đau đi nhanh chóng. Ngoài ra, sả cũng có tác dụng chống viêm rất tốt ở dạ dày, gan và thành ruột.
Tốt cho da: Các nhà khoa học ở Đại học Wisconsin - Eau Claire cho biết, sả giúp làm giảm vết thâm tím trên da, đồng thời làm cho làn da sáng đẹp. Nó làm giảm sự thâm tím và thúc đẩy quá trình làm lành da giống nghệ. Ngoài ra, sả có thể làm giảm các mụn nhọt và trứng cá.
Tốt cho sức khỏe phụ nữ: Sả giúp điều trị những rắc rối về kinh nguyệt cũng như sự buồn nôn. Bằng cách ăn sả với ớt, nó có thể giúp loại bỏ nhiều phiền toái liên quan đến chu kì kinh nguyệt ở phái đẹp.
Chống sốt: Ở khu vực Caribbean (Bắc Mỹ), người dân thường sử dụng sả để điều trị các cơn sốt rét, cúm và cảm lạnh. Cách làm là ăn sống sả hoặc giã sả lấy nước để uống.
Giúp giảm cân: Đối với người Thái Lan, sả không chỉ là gia vị tăng sự ngon miệng và mùi hương quyến rũ cho món ăn mà nó còn có thể giúp giảm cân vì sả cắt giảm các calo trong món ăn. Họ cho rằng, cũng như ớt vị cay trong sả giúp đốt cháy các chất béo, và không cho chúng tích lũy trong cơ thể.
Giúp diệt nấm: Tinh dầu được chiết xuất từ sả có thể tiêu diệt được nấm và ngăn chặn sự phát triển của chúng. Điều này rất có ích trong việc chống lại các bệnh nhiễm nấm ở tai, mũi và khu vực họng.
Chống khuẩn: Các thành phần như methylisoeugenol và một số chất khác có trong sả có khả năng tiêu diệt vi khuẩn và ngăn chặn sự phát triển. Điều này đặc biệt quan trọng trong việc ngăn chặn sự nhiễm trùng ở vết thương, ruột kết, niệu đạo, bàng quang, dạ dày, thành ruột, tuyến tiền liệt và thận.
Theo Eva

Bún riêu cua nổi tiếng 20 năm ở Sài Gòn

Bình dân như bao quán bún riêu cua khác nhưng từ khi bắt đầu bán cho đến lúc hết hàng, quán lúc nào cũng đông nghẹt khách.

Tọa lạc ngay trước cổng công viên Văn Lang (quận 5), chỉ bán duy nhất món bún riêu cua nhưng quán đã trở thành địa chỉ quen thuộc của những tín đồ mê món ăn bình dân này suốt gần 20 năm qua. Quán đơn giản với một nồi bún riêu cua, một tủ kính đầy ắp thức ăn, ba dãy bàn dài với vài chục chiếc ghế con được bày trên khoảng sân trước công viên.
Quán luôn đông khách và trong tình trạng quá tải.
Quán luôn đông khách và trong tình trạng quá tải.
Bàn nhiều, ghế nhiều nhưng quán luôn trong tình trạng quá tải, đến đây vào giờ cao điểm thì việc bạn phải đứng chờ là điều hiển nhiên. Thành phần món bún riêu cua của quán không có gì đặc biệt, nếu không muốn nói là kém hấp dẫn hơn những quán bún riêu cua khác ở Sài Gòn. Bát bún nhỏ, bên trong là một lát tiết lợn, miếng riêu cua nhỏ bằng hai ngón tay, vài con tôm khô, một cây chả nhỏ.
Bát bún có thành phần đơn giản với riêu cua, tiết, chả cây, tôm khô.
Bát bún có thành phần đơn giản với riêu cua, tiết, chả cây, tôm khô.

Điểm thu hút và kéo thực khách đến quán chính là nước dùng và riêu cua. Không sử dụng xương heo hay gia vị để nấu, nước dùng của quán được nấu từ chính nước luộc cua và xác cua giã nhuyễn. Chính nhờ điều đó nên nước dùng của quán trong vắt và có vị ngọt thanh rất vừa miệng.
Riêu cua là món ngon của quán. Thực khách ghế đến đây ăn hầu như ai cũng gọi thêm một chén để thưởng thức.
Riêu cua là món ngon của quán. Thực khách ghế đến đây ăn hầu như ai cũng gọi thêm một chén để thưởng thức.

Bên cạnh đó, riêu cua của quán được thực khách rất ưa thích vì sự thơm ngọt của nó. Được làm từ thịt cua tươi nên riêu cua ở đây luôn có màu vàng hấp dẫn, khi ăn có vị ngọt thanh và rất đậm đà. Chính vì điều đó nên hầu như khách ăn bún riêu cua ở đây hầu như ai cũng gọi thêm một bán riêu cua không để thưởng thức.
Các loại rau của quán rất phong phú và tươi ngon.
Các loại rau của quán rất phong phú và tươi ngon.

Ngoài hai thành phần trên, rau sống ở đây cũng được thực khách đánh giá rất cao, trên mỗi chiếc bàn luôn có sẵn một rổ rau tươi với đầy đủ các loại rau như húng thơm, húng quế, kinh giới... cùng với một đĩa rau muống bào và giá tươi được chần riêng cho từng người ăn. Tất cả các yếu tố đó đã giải thích cho việc đông khách của quán và trở thành địa chỉ ẩm thực quen thuộc của người Sài Gòn.
Địa chỉ: Quán bún riêu cua trước cổng công viên Văng Lang - đường Hùng Vương, phường 9, quận 5, TP HCM. Quán bán từ khoảng 17h30 đến 20h hàng ngày. Mỗi bát bún riêu cua có giá 18.000 đồng.

Theo Ngoi sao 
 

Bí quyết nấu bún riêu cua, riêu tôm tuyệt ngon

Bún riêu có hai loại, riêu cua hay riêu tôm khô. Nấu bằng loại nào thì thịt cua hay tôm cũng sẽ nổi thành tảng phía trên thành. Nếu nấu vụng, thịt cua hay tôm sẽ vỡ hay chìm, không ngon. Tôi chưa nghe ai xào riêu cả, chỉ có xào cà chua để cho vào nồi riêu thôi.
Bạn làm theo cả hai cách nhé :
1. Bún riêu cua
Nguyên liệu:
• 1kg cua đồng hay con cáy (có người gọi là con xuồi xuội, có mầu đỏ, thân nhỏ, càng dài và thanh hơn cua đồng. Giá con cáy rẻ hơn nhưng vị ngọt sau khi nấu như nhau)
• 3 lít nước
• 1kg cà chua, mắm tôm, muối, đường, dầu ăn
Thực hiện:
Cua đồng tách bỏ mai, rửa thật sạch, để ráo, giã hay xay nát. Cho khoảng 500ml nước vào, nhồi thật kỹ cho ra hết thịt cua. Lược vỏ, lại cho thêm nước vào nhồi tiếp, khoảng 3 lần là sạch. Dùng tay khuấy đều, thấy không có vỏ cua lắng đưới đáy thau là được.
Cho vào nồi một ít muối, quấy đều, Đặt lên bếp đun nhỏ lửa, thịt cua sẽ nổi lên từ từ thành từng tảng. Khi nồi nước bắt đầu sôi lăn tăn và thịt cua bắt đầu nổi lên thì cho vào một ít mắm tôm.
Cà chua xào chín tới, đừng chín mềm, mất ngon. Nêm nứơc mắm, muối, đường.
Vớt thịt cua cho vào tô để riêng, cho cà chua vào nồi, nêm lại gia vị vừa ăn.
Khi ăn làm nóng nồi nước dùng, cho bún vào tô, cho thịt cua, múc nước chan vào tô, rắc hành, ngò. Dọn ăn kèm rau kinh giới, húng cây, xà lách cắt nhỏ, rau muống chẻ, giá và dĩ nhiên phải kèm thêm chút mắm tôm sống mới ngon.
2. Bún riêu tôm
Nguyên liệu:
200g tôm khô ngon (không cần lớn nhưng phải nhạt, đừng quá mặn và phải thơm, không bị khai)
1kg cà chua, 3 quả trứng gà hay vịt.
Nước mắm, muối, đường, mắm tôm, dầu ăn
Thực hiện:
Tôm rửa sạch, cho vào nồi luộc xâm xấp nước cho đến khi tôm mềm, vớt ra, giã hay xay nát.
Đánh trứng với tôm, nêm chút nước mắm, muối.
Nấu sôi nước luộc tôm. Khi nước sôi, giảm vừa lửa, múc tôm + trứng thả vào nồi, đun cho đến khi tôm nổi lên mặt nước.
Nêm gia vị giống như bún riêu cua (mắm tôm, muối, đường). Vớt tôm và trứng ra để riêng.
Cà chua cũng xào như trên và cho vào nồi nước dùng.
Cách ăn bún riêu tôm cũng giống như bún riêu cua, ăn kèm các loại rau sống.
 
 
 

Theo Phụ nữ

Cơm lam, gà sa lửa đặc sản Tây Nguyên

Đây là hai món ăn đặc trưng của núi rừng Tây Nguyên mà du khách sẽ được thưởng thức khi đến với buôn làng.

Cơm lam

Nói đến ẩm thực Tây Nguyên không thể bỏ qua món cơm lam dẻo mềm quyện trong cái mùi ngai ngái của ống nứa non truyền thống của người dân ở đây. Tiền thân của món ăn này xuất phát từ những chuyến đi rừng dài ngày của người đồng bào, không có xoong nồi, người ta đã sáng tạo bằng cách cho gạo vào trong những ống nứa và làm chín bằng cách nướng.

Tuy mộc mạc và đơn giản, nhưng với hương vị thơm ngon, lạ miệng, cơm lam đã dần trở thành món đặc sản để níu chân du khách mỗi khi đến Tây Nguyên.
com-lam-1-1371782829_500x0.jpg
Cơm lam, gà sa lửa là hai món ăn đặc trưng của núi rừng Tây Nguyên. Ảnh: Khánh Hòa

Nghe qua món ăn có vẻ đơn giản nhưng để có được những ống cơm lam chín đều, dẻo mềm đòi hỏi không ít công phu. Gạo dùng để nấu cơm lam phải là loại gạo nếp nương còn thơm hương lúa mới. Theo người dân Tây Nguyên, ngon nhất là chọn loại 'khẩu tan'(nếp tan), loại nếp này khi nấu chín cho hạt cơm dẻo, mềm cùng hương thơm thoang thoảng rất hấp dẫn.
com-lam-2-1371782829_500x0.jpg
Chỉ đơn giản là cơm lam với muối vừng nhưng nếu đã được thưởng thức một lần thì bạn không thể quên được. Ảnh: Khánh Hòa

Gạo vo sạch, rắc ít muối và trộn đều. Ống nứa dùng để nấu cơm phải là loại nứa ngô, còn non, chặt lấy ngang mắt nứa. Rửa sạch, cho gạo và nước vào, dùng lá chuối làm nùi lèn chặt đầu ống nứa. Những chiếc ống nứa sau khi đã nạp đủ gạo và nước được vùi vào trong bếp than hồng. Khi những ống nứa chuyển sang màu vàng cháy xém, cùng hương thơm thoang thoảng là cơm đã chín. Trong những buổi tối giữa núi rừng Tây Nguyên, một ống cơm lam, một chén muối vừng cũng đủ để du khách nếm trọn được hương vị núi rừng thấm đẫm trong từng hạt cơm chín mềm.

Gà sa lửa

Ngoài cơm lam thì gà sa lửa cũng là món ngon mà du khách nên ăn thử. Những con gà được nướng chín vàng quyện hương thơm của lá chanh, chỉ mới ngửi thôi đã thấy thèm. Ở Tây Nguyên hầu như địa bàn nào cũng có món ăn này, nhưng ngon nhất thì phải thưởng thức món ăn này ở bản Đôn (Đắk Lắk). Tiền thân của món ăn này là gà rừng, nhưng khi số lượng gà rừng không còn nhiều, người dân ở đây đã thây thế bằng những con gà thả vườn.

Gà chọn nướng là những con gà trên dưới 1kg, là gà tơ, thịt mềm nhưng không bở lại có vị ngọt ngon. gà được làm sạch, chặt dọc theo phần ức để bẻ đôi con gà nằm dẹp xuống. Ướp gà đều hai mặt với muối ớt chanh giã nhuyễn (loại muối hột to), một bí quyết nữa để món gà dậy mùi thơm đó là ướp thêm nước sả (sả giã lấy nước) vào gà.
com-lam-3-1371782829_500x0.jpg
Món gà sa lửa. Ảnh: Khánh Hòa

Gà sau khi ướp để trong khoảng 30 phút cho thấm gia vị rồi đem nướng. Những thanh tre được gập đôi lại, kẹp gà vào giữa cùng ít lá chanh và nướng chín trên bếp than hồng.Trong quá trình nướng, gà được trở đều tay để lớp thịt bên trong chín đều, lớp da bên ngoài vàng ươm đẹp mắt. Gà sa lửa được ăn kèm với muối hột giã nhuyễn, ớt xanh, chanh để hương vị thêm đậm đà.

Ngoài hai món ăn kể trên, gỏi cà đắng, gỏi rau rừng, rượu cần, canh chua cá lăng... cũng là những món ăn ngon của núi rừng Tây Nguyên mà bạn nên thử khi có dịp đến đây.
Theo VNE

Thịt chim bồ câu - Viagra 'có cánh'

Theo y học cổ truyền, thịt chim bồ câu có thể chữa bế kinh, lãnh cảm ở nữ; chữa liệt dương, xuất tinh sớm, mộng tinh, di tinh ở nam...

Theo y học cổ truyền, thịt chim bồ câu có vị ngọt, tính bình, có tác dụng bổ gan, thận, ích tinh huyết; chữa bế kinh, lãnh cảm ở nữ; chữa liệt dương, xuất tinh sớm, mộng tinh, di tinh ở nam...

Thịt chim bồ câu có chứa các protein, lipid, các chất khoáng, kali, natri, calci, photpho, vitamin A, B1, B2, E và nhiều nguyên tố vi lượng là thành phần tạo máu, do vậy giá trị dinh dưỡng cao hơn thịt gà, thịt bò...
Thường xuyên ăn thịt chim bồ câu có thể kích thích ăn uống, tăng khả năng tuần hoàn máu, da mịn, phòng chống lão hóa và bạc tóc sớm, có thể làm vết thương mau kín miệng.

Ảnh minh họa


Chị em có tình trạng lãnh cảm nên thường xuyên ăn canh chim bồ câu (con mái) nấu với đông trùng hạ thảo: một con chim bồ câu mái màu trắng, 3g đông trùng hạ thảo, muối tinh, rượu, bột gừng, bột ngọt, mỗi thứ lượng vừa đủ. Cả hai thứ cùng nấu chín với lửa nhỏ, dùng lúc còn nóng.

Phái nam có bệnh liệt dương, xuất tinh sớm, mộng tinh, di tinh có thể dùng một con chim bồ câu đực cắt tiết (tiết giữ lại), hầm lửa nhỏ cùng 30g hoàng tinh, 15g ích trí nhân, 30g ngũ bội tử, 30g khởi tử, 200ml rượu cái nếp, rồi ăn nóng.
Theo Doanh nhân SG

Thứ Sáu, 28 tháng 6, 2013

Ngọt vị xôi đường

Kim Loan








(TBKTSG Online) - Mang ý nghĩa tượng trưng cho sự gắn kết và ngọt ngào, xôi đường là một trong những thứ không thể thiếu trong mâm cỗ cúng gia tiên của người miền Trung trong các ngày mồng một, rằm, giỗ chạp, tết và cả ở những đám cưới.
Như chính tên gọi, xôi đường là xôi đậu nấu với đường. Muốn có được những khay xôi đường vuông vức, thơm ngon và ngọt vị quê, đòi hỏi người nấu xôi phải có kinh nghiệm, thật tỉ mỉ và khéo léo nếu không muốn cho ra lò những khay xôi đường có vẻ ngoài vụng về. Vì vậy trong các gia đình chỉ có những bà, những mẹ thật kinh nghiệm mới được giao nhiệm vụ nấu xôi đường.
Trước hết cần chọn loại nếp mới, thơm hương. Người ta dùng sàng để loại bỏ những hạt nếp bị vỡ, gãy, chỉ lấy những hạt nếp trên sàng. Vo nếp thật sạch, nấu thành xôi. Chất lượng của món xôi phụ thuộc rất nhiều vào khâu nấu xôi này. Xôi phải không quá khô, sẽ làm nếp bị quánh cứng lại sau khi đổ đường vào. Nhưng nếu xôi nhão thì thêm đường vào lại càng nhão hơn. Cả hai trường hợp trên đều không thể cho ra lò những khay xôi đường vừa ý được.
Một nguyên liệu nữa của xôi đường là đậu đen. Ngon nhất là loại đậu đen xanh lòng, loại đậu này có vị bùi và bở hơn loại đậu đen trắng lòng.  Loại bỏ những hạt đậu bị sâu mọt, ngâm và luộc chín đậu, đổ ra rổ, để ráo nước.
Xôi đường truyền thống được nấu với đường đen, một loại đường được cô đặc từ mật mía. Nấu đường tan chảy, lọc bỏ tạp chất, cho gừng già giã nhỏ vào nấu cùng cho đến khi nước đường cô đặc lại, dùng chiếc đũa khuấy vào nước đường, nhấc đũa lên thấy sợi đường chảy xuống, dẻo và kéo dài là được.
Lúc này cần cho xôi, đậu đen và nước đường vào một nồi rộng, dùng đũa xới cho các nguyên liệu trộn đều vào nhau rồi hông trên than hồng khoảng nửa giờ cho nước đường tan chảy, xôi và đậu ngấm vị ngọt của đường.
Múc hỗn hợp vào những cái khuôn hình vuông (tượng trưng cho mặt đất) có lót lớp lá chuối chống dính, ép chặt lại và rải mè (đã được rang chín và chà sạch vỏ lụa) lên trên, để nguội là dùng được.
Xôi đường thoạt nhìn trông có vẻ mộc mạc và bình dị nhưng hấp dẫn người ăn trước hết bởi những nguyên liệu rất sạch, do chính tay người nông dân làm ra, không sử dụng đường hóa học, không chất bảo quản, không màu thực phẩm. Hương vị của món xôi thì thật tuyệt. Món ăn là sự kết hợp giữa vị dẻo thơm của nếp quyện cùng vị bở, bùi của đậu đen xanh lòng trong vị ngọt vừa phải của đường bát, rất thơm, ngon và đậm chất quê.

Bánh gừng

Phương Kiều








Bánh gừng có hình san hô. Ảnh: Cúc Tần
(TBKTSG Online) - Bánh gừng là món ăn chơi của người Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long. Nếu có dịp ghé các địa phương có người dân tộc này cư trú vào những ngày lễ tết của họ, như Chol Chnam Thmay (mừng năm mới), Prôn-chung-bân (thường gọi là Pithi Sen Dolta, ngày lễ cúng ông bà tổ tiên), Ok Om Bok (lễ cúng trăng)... du khách sẽ được thưởng thức hương vị bánh gừng, mà người Khmer gọi là Num-khơ-nhây.
Loại bánh truyền thống, đặc sắc này còn có mặt ngay cả trong những lễ lạc nhỏ, trong sinh hoạt giao tiếp quan trọng thường ngày, như đám làm phước, lễ dâng y, lễ dâng bông, đám hỏi, đám cưới… Khách đến nhà vừa nhai miếng bánh béo, giòn, thơm ngon, tan dần trên mặt lưỡi, nhấp ngụm trà nóng vừa bàn chuyện chùa chiền, vụ mùa, mua bán, hạnh phúc lứa đôi, ma chay… thật là thích thú.
Bánh gừng có dạng như chùm hoa. Ảnh: Cúc Tần
Không mấy cầu kỳ, bánh gừng được làm bằng nếp. Thông thường, để có được chiếc bánh ngon, người ta chọn loại nếp to hạt, màu trắng đục. Nếp đem vo sạch, để ráo nước, cho vào cối quết nhuyễn rồi đem sấy hoặc phơi khô. Cứ 1 ký bột nếp, người ta trộn vào đó 30 quả trứng gà, l muỗng canh bột nang mực, một ít nước chanh tươi. Đập trứng gà cho vào cái âu, hoặc tô lớn đã có sẵn nước cốt trái chanh và bột nang mực, đánh đều tay cho đến khi nào thấy nổi rễ tre thì cho bột nếp vào. Trộn hỗn hợp này lại cho đều rồi dùng tay nhồi cho tới khi có thể nắn bột thành những chiếc bánh có hình thể tương tự như củ gừng là được.
Tiếp theo, người ta thả chúng vào nồi dầu (hoặc mỡ) đang sôi. Bánh chiên vàng gắp nhúng vào vịm đường cát trắng đã thắng sền sệt, áo thành lớp mỏng bên ngoài rồi đem phơi nắng. Thế là người ta đã có những chiếc bánh gừng hấp dẫn, bất cứ những ai khó tánh cũng đều phải khen ngon khi được thưởng thức. Nhưng, để có những chiếc bánh thẳng thớm, không bị cong vênh, người ta thường hay dùng nồi để chiên bánh thay vì chiên bằng chảo như thường làm với các loại bánh khác.
Nghệ nhân Khmer đang biểu diễn chiên bánh gừng trong lễ hội “Sắc xuân miệt vườn” Tết Quý Tỵ - 2013, được tổ chức tại Bảo tàng TP Cần Thơ. Ảnh: Cúc Tần
Ngoài việc để đãi khách, bánh gừng còn là một thứ trang trí góp phần làm tăng thêm vẻ đẹp, kể cả sự long trọng trong những ngày lễ, tết. Trong những ngày lễ trọng đại ấy, người ta ghim những chiếc bánh gừng vào các que tre, cắm xung quanh chiếc trụ tròn bằng gỗ hay đất sét trang trí hoa văn sặc sỡ bằng giấy màu rồi đem chưng trên bàn thờ. Tùy theo cảm nhận của mỗi người, chúng ta có thể hình dung những chiếc bánh gừng đó là những chiếc gạc nai hay một nhánh san hô…
Trong phong tục đồng bào Chăm, bánh gừng cũng là “nhân vật” quan trọng trong các lễ hội, nhất là ngày tết Katê, cùng với bánh tét (paynung) và bánh gang tay (gakiya). Người Chăm quan niệm, bánh tét là “dương”, tượng trưng cho người chồng; bánh gang tay thuộc “âm”, tượng trưng người vợ; bánh gừng (gọi là Hargìnònya) hòa hợp âm dương, tượng trưng cho sự thủy chung của vợ chồng. Ngoài ra, khi thưởng thức bánh gừng, người Chăm còn hồi nhớ đến nàng Nai Chrao Cho Phò, người đàn bà chung thủy. Truyền thuyết về người đàn bà đáng kính này giống truyền thuyết về các hòn vọng phu của người Kinh.

Lường phảnh Hội An

Kim Loan








Lường phảnh ở Hội An. Ảnh: Kim Loan
(TBKTSG Online) - Lường phảnh, còn gọi là đường phảnh, là một trong những món ăn chơi ngon, lạ miệng, đặc biệt thích hợp dùng trong những ngày nắng nóng.
Được làm tại phố Hội sông Hoài, mỗi sáng tinh mơ trên những chuyến xe đò, lường phảnh theo chân các cô bán hàng tỏa về khắp các chợ trong tỉnh Quảng Nam. Những ngày cuối xuân này, bạn dễ dàng bắt gặp những cô bán hàng người phố Hội với nụ cười đôn hậu ngồi bên cạnh những chiếc bàn nhựa nhỏ, bên trên bày những cái đĩa đựng lường phảnh đen nhánh, tỏa hương thơm dịu dàng, quyến rũ, gọi mời. Các bà, các chị đi chợ, thường dừng chân ghé mua món ăn chơi thơm ngon, lạ miệng này mang về đãi những người thân yêu trong gia đình ăn giải nhiệt ngày nóng.
Người phố Hội dùng cây lường phảnh khô để nấu món ngon này. Cây khô được rửa sạch, nấu chín rục, thêm một số vị thuốc bắc như thục địa, dương quy… rồi cho lượng nước tro tàu (đã được lọc) vừa đủ vào. Cuối cùng dùng túi lọc lấy phần nước của hỗn hợp này, bỏ phần xác. Nước lọc được đổ vào những cái thau nhỏ, để nguội sẽ đông đặc lại thành món lường phảnh, có màu đen nhánh, thoảng hương thơm của thuốc bắc.
Khi ăn, cắt lường phảnh thành những miếng nhỏ, hình vuông rồi chế nước đường nấu với gừng già giã nhỏ vào. Món ăn là sự kết hợp giữa vị riêng của lường phảnh vừa mềm vừa dai, hương thơm thoảng thoảng của thuốc bắc, ấm nóng của gừng già hòa trong vị ngọt của đường. Món ăn chơi này sẽ ngon hơn nếu được ướp lạnh.
Lường phảnh ăn chúng với sương sâm hoặc xu xoa. Ảnh: Kim Loan
Lường phảnh cũng dễ dàng kết hợp với các nguyên liệu khác. Tùy theo sở thích của từng người mà có thể thêm vào chén lường phảnh một ít xu xoa, sương sâm hay chè đậu ván. Lúc này người ăn sẽ ồ lên thích thú với những hương vị thơm ngon, đồng điệu trong những sự kết hợp tuyệt vời này.
Lường phảnh còn có thể được bảo quản trong tủ lạnh, để dành ăn dần trong vài ngày mà món ăn vẫn không hề giảm đi hương vị thơm ngon.
Là món ăn chơi ngon miệng, rẻ tiền, dễ dàng bảo quản và được nhiều người từ trẻ em, người lớn đến người già đều ưa thích nên lường phảnh nhanh chóng được bán hết từ khi các phiên chợ còn chưa kịp đông. Vì vậy, để mua lường phảnh, các bà nội trợ phải đi chợ thật sớm, nhanh chân tìm mua món này đầu tiên nếu không muốn lỡ mất một món ăn chơi ngon, giải nhiệt trong những ngày nắng nóng.
Nếu bạn có dịp về Hội An, lang thang nơi phố cổ, bạn cũng sẽ dễ dàng tìm thấy những gánh hàng rong bán lường phảnh. Bạn đừng bỏ qua cơ hội tuyệt vời này nhé, hãy thưởng thức món lường phảnh thơm ngon ngay giữa lòng phố Hội sông Hoài để cảm nhận những hương vị thơm ngon đặc biệt của nó, để khi xa rồi lại vấn vương, lại nhớ nhung và mong sớm có một ngày được quay lại nơi đây.

Lục bình, món quen nhưng lạ miệng

Huỳnh Văn Nguyệt








(TBKTSG Online) - Lâu nay, lục bình là món ăn dân dã trong các mâm cơm thường ngày của bà con ở miệt vườn. Nó còn được dùng làm những món độc đáo, bên cạnh những thứ “hương đồng cỏ nội” như bông súng, ngó sen, tai tượng, năng bộp, bồn bồn… Gần đây, cả bông lục bình và ngó lục bình được chế biến món lục bình xào rất hấp dẫn. Chẳng ai lạ gì cây lục bình, nhưng món ăn từ lục bình vừa ngon lại rất lạ miệng với người dân thành phố.
Hoa lục bình. Ảnh: Huỳnh Văn Nguyệt
Lục bình thường được gọi là bèo Tây hay là bèo Nhật Bản, có rất nhiều ở miền sông nước. Ngày xửa ngày xưa, lục bình chỉ là một loài thủy sinh lênh đênh trôi theo dòng nước, một loài thảo dã không hữu dụng, nhưng là hình ảnh rất thân thương, gần gũi với nông dân đồng bằng sông Cửu Long. Chính vì vậy mà dân miền sông nước có câu: “Nước chảy liu riu. Lục bình trôi riu ríu. Anh thấy em nhỏ xíu anh thương …”
Thế nhưng, khoảng chục năm gần đây, loài cây nầy đã trở nên đa dụng. Lục bình không những có ích cho nhà nông mà còn là một loại cây nguyên liệu dùng chế biến nhiều mặt hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu. Ngoài ra, lục bình còn là một thứ rau sạch, thuộc nhóm thức ăn xanh rất giàu vitamine, có thể dùng ăn sống, luộc, xào, nấu canh...
Ngó lục bình xào thịt. Ảnh: Huỳnh Văn Nguyệt
Muốn làm món lục bình xào, trước hết chúng ta phải chọn ra những cọng lục bình non tơ mơn mởn (ngó lục bình), cắt ra từng khúc dài độ 10 cm, rửa sạch với nước muối pha loãng, xong bóp cho ráo nước. Dùng thịt ba rọi xắt mỏng (hoặc tôm, tép) ướp với hành, tiêu, tỏi, nước mắm rồi cho vào chão xào. Sau đó, cho tất cả lục bình vào, tiếp tục xào cho thật đều và nêm nếm trước khi bắc xuống bếp.

Đây là món ăn độc đáo của bà con miệt vườn sông nước. Trước kia lục bình là món ăn của người nghèo, nhưng giờ đây nó đã trở thành món ngon hấp dẫn và còn được xếp vào hàng đặc sản, tuy dân dã mà lạ miệng và thơm ngon.
Cọng lục bình vừa mềm, vừa thơm ngon, vị lại ngọt, tính mát và có mùi đặc trưng. Ngoài món xào ra, nhiều người còn dùng ngó lục bình và bông lục bình để bóp gỏi chấm mắm kho, tuyệt nhất là chấm với nước cá kèo kho lạt vừa mặn mà vừa thi vị. Riêng món canh chua cá lóc nấu với ngó lục bình cũng là món ngon độc đáo, ai ăn một lần sẽ nhớ mãi cái hương vị của đồng quê. Ai thích cầu kỳ có thể xào lục bình với thịt bò, vừa "sang trọng" vừa bổ dưỡng.

Trao trảo chiên giòn

Phương Kiều








(TBKTSG Online) - Trao trảo là một loài chim thuộc họ chào mào, còn có tên hoành hoạch (hay quành quạch). Trao trảo biết hót, nhưng tiếng hót không mấy thanh tao, sang trọng, đài các như các “nàng” sơn ca, hoàng oanh, họa mi... nên chúng chẳng mấy khi được người chơi chim cho ở trong “lầu son gác tía”, thi đấu tưng bừng như các nàng ca sĩ có “sao” vừa nêu.
Trao trảo chiên giòn. Ảnh: Phương Kiều
Trao trảo là loài chim được người ta liệt vào loài “phá họai vườn cây ăn trái”, vì chúng rất thích ăn những trái chín treo lủng lẳng trên các cành cây đang trĩu quả, tỏa mùi thơm quyến rũ, như xoài, nhãn, sa-pô-chê, thanh long... Đặc biệt trao trảo rất thích ăn những trái lá cách chín tím bầm. Dù vậy, để săn bắt chúng, người ta không giăng lưới, móc câu hay một phương cách nào khác, ngoài việc dùng cái giọng hót đặc trưng của con trao trảo mồi để quyến dụ chúng. Nếu trúng, một bữa người ta có cả chục con trao trảo mê nghe “ca hát” mà sa vào chốn hiểm nguy.
Chốn hiểm nguy ấy là bàn tay của những ông bợm nhậu, của những bà chủ quán lão luyện việc bếp núc. Như cái quán ở ấp Chông Nô 3 (xã Hòa Tân, huyện Cầu Kè), được xem là vườn cây trái của tỉnh Trà Vinh. Cái quán ấy có tên “Cháo dơi” (dơi sen) nhưng người dân địa phương đặt cái tên dân dã là quán “Côn trùng”. Gọi như vậy vì ngoài việc bán các thức ăn pha chế từ dơi sen, trao trảo, quán còn bán những món ăn từ dế cơm, bọ rầy, đuông đất.
Toàn là đặc sản, nên ngoài việc thu hút dân bản xứ, quán còn hấp dẫn những người sành ăn từ khắp nơi đến thưởng thức. Riêng trao trảo, lâu lâu quán mới có vài chục con, nên muốn thưởng thức, khách địa phương cũng phải “a lô” đặt trước. Còn khách phương xa may mắn lắm mới có dịp nếm thử. Tại đây, quán chỉ có mỗi một món duy nhất làm từ trao trảo là chiên giòn.
Chủ quán là một người phụ nữ Khmer lai Hoa, trắng trẻo, mập mạp, tiết lộ "bí quyết" món trao trảo chiên giòn. Chẳng khó khăn gì: Trao trảo sau khi nhổ sạch lông, gọi là “làm lông”, được móc bỏ nội tạng, rửa sạch để ráo. Sau đó, ướp chúng với một số gia vị, như muối, tiêu, bột ngọt, bột nêm, đường, tỏi vừa ăn, để thấm chừng mười phút. Bắc chảo lên bếp lửa, chảo khô, đổ nhiều dầu vào. Dầu sôi, gắp từng con trao trảo thả vào.
Trong chốc lát, những con chim lớn  hơn chim sẻ một chút ấy, từ màu trắng ngà đã trở thành màu vàng sậm, bắt mắt. Hấp dẫn hơn là từ trong chảo dầu sôi sùng sục ấy tỏa ra một mùi thơm “điếc mũi” của những con trao trảo chín đều. Vậy là gắp chúng ra, sắp đầymặt dĩa, dọn ra bàn. Bên cạnh dĩa trao trảo là một dĩa đầy ắp rau xanh, gồm húng, húng lủi, quế và những miếng dưa leo non choẹt gọi mời cùng một chén ớt sừng xắt lát bên cạnh mấy miếng chanh chờ sẵn.
Phục vụ cho mồi màng thêm phong phú, đủ chuẩn là hai loại thức chấm: một chén nhỏ nước mắm me, một chén nhỏ muối tiêu. Ai ăn thức chấm nào thì cho ớt vào đó. Riêng muối tiêu thì phải vắt miếng chanh để có vị chua thấm lưỡi.
Vậy là thực khách cầm đũa, gắp một con trao trảo chấm vào thức chấm mình ưa thích trước khi cho lên miệng cắn, nhai. Ôi chao! Giòn rụm, hương thơm quyện với vị mặn ngọt chua cay, quá đã! Rồi miếng dưa leo, những lá rau xanh mơn mởn hòa điệu trong miệng như một bản "hợp xướng" ẩm thực. Càng “tê người” hơn khi chiêu một ngụm rượu gạo đục ngầu chánh gốc Cầu Kè, cay, nóng nhưng nhẹ hều, phiêu phiêu như gió thổi giồng tre xào xạc bên hè. Khoái sướng làm sao. Càng khoái hơn khi anh em bù khú bảo nhau rằng nhậu trao trảo chiên giòn là tích cực bảo vệ trái cây của nông dân cực khổ xứ nầy.

Bánh phục linh Quảng Ngãi

 Bánh phục linh Quảng Ngãi

Thanh Ly








Bánh phục linh. Ảnh: Thanh Ly
(TBKTSG Online) - Khi đến Quảng Ngãi, bên cạnh nhiều món ngon đặc sản của vùng núi Ấn sông Trà như kẹo gương đậu phụng, kẹo mạch nha, đường phổi... du khách đừng quên thưởng thức món bánh phục linh được làm từ bột bình tinh nguyên chất mà thuở xưa chỉ xuất hiện trong mâm cỗ dịp lễ, tết truyền thống. Chính hương vị thơm ngon, mát lành đã khiến cho bánh phục linh trở thành một món quà quê hấp dẫn của người dân Quảng Ngãi.
Để cho ra đời một mẻ bánh phục linh ngon, bề mặt khô ráo, có hoa văn đẹp, cấu trúc bánh phải trải qua rất nhiều công đoạn, đòi hỏi sự khéo léo và tỉ mỉ từ người làm bánh. Ngày nay, có một số nơi làm bánh phục linh nhưng tại Quảng Ngãi quy trình làm bánh rất riêng, khó có thể nhầm lẫn.
Đầu tiên là khâu chuẩn bị bột. Người ta phải đào củ bình tinh, chọn những củ già rồi say bột, đem về lọc với nước giếng, ngâm một đêm cho tinh bột lắng xuống, kết tinh lại ở dưới đáy, sau đó lại đem bột đi phơi nắng để dành dùng dần. Mỗi lần làm bánh phải mang bột phơi sương, cho bột vào bao cột kín. Bột sau 3 lần phơi sương có màu trắng như sữa, sờ vào mát mịn cả da tay như vậy khi làm bánh mới dễ kết dính.
Công đoạn tiếp theo là rang bột với lá dứa, chọn khóm lá dứa xanh tươi nhất, rửa sạch cắt đoạn ngắn, cho vào chảo cùng với bột bình tinh, rang nhỏ lửa để giữ hương thơm tự nhiên của bình tinh. Tay đảo đều cho đến khi lá dứa chuyển màu xanh rêu, hương lá dứa thơm nồng  là lúc bột chín. Đợi bột nguội, dùng rây lược bỏ lá dứa.
Để có được chiếc bánh phục linh “đặc hạng” như ở Quảng Ngãi, người làm bánh còn khéo léo vắt một ít nước cốt dừa, cho vào một lượng đường vừa đủ nhấc lên bếp thắng sệt lại. Nước cốt  dừa đã thắng với đường chia làm hai, một phần để nguyên, phần còn lại trộn với nước lá dứa để tạo màu xanh. Muốn có bánh màu hồng, cam... có thể trộn với màu thực phẩm. Sau khi trộn với màu, phải cẩn thận nấu nước dừa sôi lên lần nữa trước khi trộn bột làm bánh.
Nhiều khách phương xa chuộng bánh phục linh Quảng Ngãi vì có vị mát của bột, ngọt dịu của đường và hương lá dứa cứ thoang thoảng khi miếng bánh tan chảy nơi đầu lưỡi. Quyết định đặc điểm trên phần nhiều phụ thuộc vào công đoạn trộn bột. Cho bột vào nước dừa đã phân, nhồi trộn bột  từ từ từng ít một, để bột vừa đủ độ ẩm, không được ướt hoặc khô quá (theo kinh nghiêm của người dân nơi đây, bột nắm chặt lại sau đó mở tay ra nếu thấy khối bột kết dính, không bị vỡ ra là đạt yêu cầu).
Cuối cùng là in bánh. Thường người ta in bánh  bằng khuôn gỗ hoặc nhôm, bên trong chạm khắc những hoa văn trang trí khác nhau. Cho bột vào đầy các lỗ khuôn, ém chặt bột, úp ngược mặt khuôn xuống và gõ nhẹ đáy khuôn để lấy bánh ra.
Ngày nay, mỗi khi nhắc đến quê " xứ mía đường", người ta không thể không kể đến bánh phục linh. Mỗi ngày, từng gói bánh phục linh theo tay du khách chuyển đi khắp mọi miền. Đã từ lâu chiếc  bánh phục linh nhỏ nhắn của người Quảng Ngãi  đã trở thành hương vị khó quên đối với nhiều du khách khi ghé thăm mảnh đất này.

Rau ngỗ xào thịt bò

Thiên Phúc








(TBKTSG Online) - Xưa kia, rau ngỗ là món ăn dân dã chỉ quanh quẩn trong các bếp nghèo. Giờ đây, loài rau mộc mạc nầy đã đi vào nhà hàng, quán ăn đặc sản và có mặt trên các thực đơn với nhiều kiểu cách sang trọng như lươn um rau ngỗ, cá chẽm hấp rau ngỗ và thịt bò xào rau ngỗ…
Rau ngỗ xào thịt bò. Ảnh: Thiên Phúc
Người Nam bộ còn gọi rau ngỗ bằng nhiều cái tên như rau ngỗ trâu, ngỗ đắng, ngỗ đất (khác với rau ngò om cũng có tên rau ngỗ). Rau ngổ trâu thường mọc tự nhiên hoặc trồng trên các mặt ao hồ. Chúng rất thích bùn, nước... thân bò lan trên mặt nước và phân ra thành nhiều nhánh.
Muốn thưởng thức món bò xào rau ngỗ, trước hết chúng ta phải chọn cho được một mớ rau thật tươi ngon, đem về lặt bỏ hết lá già giữ lại cọng non và phần ngọn, cắt khúc và rửa cho thật sạch. Thịt bò, khoảng 300 gr, đem xắt mỏng vừa ăn, ướp thêm tiêu, hành, tỏi, muối, bột nêm chừng 15 phút cho thấm đều.
Cho dầu ăn vào chảo nóng, phi tỏi trước khi cho thịt bò và hành tây vào xào cho chín đều. Xong đổ hết thịt vào đĩa để riêng. Tiếp theo là xào rau ngỗ, khi rau vừa chín mới cho thịt bò vào xào lại, nêm nếm vừa ăn. Thế là chúng ta có được một đĩa rau ngỗ xào thịt bò ngon tuyệt.
Rau ngỗ tươi. Ảnh: Thiên Phúc
Với bàn tay khéo léo của người nội trợ, món rau ngỗ xào thịt bò có thể trở thành một món ăn hấp dẫn, vừa thơm tho vừa bổ dưỡng. Sở dĩ rau ngỗ được nhiều người ưa thích là nhờ cọng rau mềm mại, mùi vị thơm ngon. Ngoài ra, rau ngỗ còn là một món ăn vị thuốc. Cọng và lá có vị đắng, tính mát, mùi thơm, có tác dụng thông hoạt tiêu, tiểu tiện, mát huyết và cầm máu. Theo GS.TS Đỗ Tất Lợi, người ta dùng rau ngỗ chữa những trường hợp ăn uống không tiêu, đầy bụng, thổ huyết, băng huyết... Rau ngỗ tươi giã nhỏ dùng đắp nơi viêm tấy. Chính vì vậy mà bà con miệt vườn có thể dùng rau ngỗ để ăn sống, luộc, xào, nấu hoặc hấp. Một dĩa rau ngỗ xào thịt bò vừa dọn ra đã bốc lên mùi thơm phức là nhờ người nội trợ biết chăm chút từ cách xào, cách chọn gia vị và nêm nếm cho vừa ăn.
Nên nhớ, khi xào đừng để cho rau chín sẽ mất ngon. Rau còn hơi giòn là hấp dẫn nhất. Rau ngỗ xào thịt bò vừa ngon, ngọt, vừa đậm đà, mùi vị đặc trưng nhờ rau và gia vị thấm vào thịt, đồng thời thịt cũng thấm vào rau. Món ăn nầy có thể dung nhâm nhi hoặc làm món chính trong bữa cơm. Nước chấm phải là thứ đủ các vị chua, cay, ngọt mới đúng điệu. Chỉ cần thưởng thức một lần thôi cũng sẽ nhớ mãi món ăn dân dã này.

Xôi vị

Cát Lộc








(TBKTSG Online) - Có thể nói xôi có một vị trí khá quan trọng trong đời sống văn hóa và ẩm thực của người Việt Nam. Buổi sáng, với một nắm xôi là người ta có thể no bụng với một số tiền nho nhỏ. Nhưng xôi cũng là món quan trọng trong những giày giỗ chạp, tết nhứt... Ngoài những dĩa xôi trắng, xôi đậu phộng, xôi gấc, có nhà, trên bàn thờ cúng, nhất thiết phải có dĩa xôi vị.
Xôi vị bán tại chợ Sóc Trăng không pha nước lá cẩm hoặc nước lá bù ngót hay nước lá dứa để tạo màu đẹp mắt như các nơi khác. Ảnh: Cát Lộc
Cho tới bây giờ tôi vẫn nhớ và không thể nào quên miếng xôi mà má tôi vừa đem từ bàn cúng xuống cho tôi. Hồi còn nhỏ, lần đầu ăn miếng xôi ấy và cảm nhận một mùi vị thơm quyến rũ mà những loại “xôi thường” không thể có, nhất là cái màu tím than đẹp mắt đầy quyến rũ của nó. Cái mùi thơm đặc trưng ấy và cái màu đẹp mê mắt ấy của nó đã theo cánh mũi và mắt nhớ cùng tôi đi suốt dặm dài năm tháng cuộc đời.
Đó là miếng xôi vị cắt xéo hình bình hành, đặt trên tấm lá chuối màu xanh lục láng lứt dầu dừa, tôi vừa ăn vừa xé nhỏ từng sợi lá chuối khỏi miếng xôi để không cắn nhầm...
Để có những miếng xôi ngon như vậy, má tôi phải mất khá nhiều công phu. Bà phải chuẩn bị sẵn sàng nào nếp nhứt, dừa cứng cạy, mè trắng, đường, muối và một vị thuốc Bắc giữ vai trò rất quan trọng trong việc hình thành món xôi nầy là tai vị.
Má tôi ngâm nếp, vo sạch, để ráo. Sau đó bà bắt tay rang mè trắng, rồi lấy lá cẩm rửa sạch nấu lấy nước màu tím than trên ngọn lửa liu riu. Đậu xanh cà nấu nhừ, má dùng vá đánh mịn. Bọn chúng tôi được phân công cưỡi con ngựa là cái bàn nạo dừa, vừa nạo dừa vừa nhón tay bốc một vài miếng cho vô miệng nhai nhóp nhép. Ngon. Dừa nạo xong, chị Hai tôi hòa nước lạnh đun sôi để nguội vào tô xác dừa nạo, vắt lấy nước cốt đựng trong cái tô lớn.
Mọi chuyện đã chuẩn bị xong xuôi, má tôi cho nếp vào nồi, đổ nước ngập mặt nếp theo yêu cầu cùng nước cốt dừa và tai vị vào, trộn đều, đun trên bếp lửa. Khi nước rút hết vào nếp, má cho đường cát rồi dằn chút muối cho xôi đậm đà, hấp dẫn. Khi xôi thấm đều đường, muối... má tôi rắc mè vào một cái xửng nhôm đã thoa lớp dầu ăn, cẩn thận lót lớp lá chuối cũng đã thoa sẵn dầu ăn trên mặt, rồi trải xôi đều khắp. Sau đó mà dùng muỗng ép nén cho xửng xôi đều mặt mới rắc đều một lớp mè bên trên. Vậy là món xôi vị đã hoàn thành, được má tôi để nguội trước khi cắt từng miếng hình bình hành cho lên bàn thờ trong bữa cúng.
Có thể nói, cho tới bây giờ, xôi vị vẫn chiếm ngự trong tâm thức tôi không thể nào quên được. Tôi rất thích cái màu tím đẹp mắt của nó, nhất là cái mùi thơm “nên thuốc” từ những miếng tai vị tỏa ra thấm đều trong từng hạt xôi. Cùng với đó là vị bùi béo của mè trắng và vị ngọt mặn của muối và đường cát trắng. Tất cả hòa quyện trong khẩu cái, khiến, không chỉ tôi, mà có thể bất cứ ai đã một lần được thưởng thức cũng phải bị “mê hoặc”.