Chuyển đến nội dung chính

Bí ẩn ngôi chùa có khu mộ tập thể lớn nhất Việt Nam

VOV.VN - Xưa kia, các vua triều Nguyễn tập hợp xác người vô chủ về lập am thờ cúng. Các khu nghĩa địa này trở nên phẳng lỳ thành ngôi mồ tập thể lớn nhất nước.
Chùa Ba Đồn (nằm trên đường Tam Thai, phường An Tây, TP Huế, tỉnh Thừa Thiên – Huế) có lẽ là một trong những ngôi chùa đặc biệt nhất cả nước. Tên là chùa Ba Đồn vì trong 3 khu nghĩa địa chính của chùa đều có đàn giải oan cho các âm linh gọi là Tam Đàn, người dân thường gọi là Ba Đồn cho dễ nhớ.
Ngôi mộ tập thể lớn nhất nước
Trên ba nghĩa địa rộng có các bia mộ, trên mỗi bia đều khắc dòng chữ “Ân Tứ Hiệp Tán Vô Tư Chi Mộ” có nghĩa là “Vua ban cho chung những mộ hoang vô chủ”.
bi an ngoi chua co khu mo tap the lon nhat viet nam hinh 1
Tấm bia có chữ "Vua ban chung cho hàng ngàn nấm mộ vô danh, vô chủ". 
Ba nghĩa địa chính trong khuôn viên chùa Ba Đồn rộng hàng vạn mét vuông, chôn hàng ngàn người chết. Theo ông Phạm Nguyên (72 tuổi, đời thứ 3 sống trong chùa Ba Đồn), chùa có Tam đàn ngũ trảu (Ba nghĩa địa lớn, năm nghĩa địa nhỏ - PV).
“Có khoảng 10.000 âm hồn, đồn thứ nhất có 3.800, đồn thứ hai có 3.700, đồn thứ 3 có 2.550 mồ. Còn ngũ trảu thì không biết số lượng cụ thể”, ông Nguyên cho biết.
Cũng theo ông Nguyên, khu vực Tam Thai là vùng đất núi rừng heo hút. Vì vậy, vua Gia Long tập hợp các mộ hoang vô chủ về mảnh đất này chôn và lập am thờ cúng.
Trong quá trình chôn, vua ra lệnh không làm nấm mà cho xây thành xung quanh vì ngăn mất xác. Từ đó, các đời vua Nguyễn đều có mang hoang mộ đến địa điểm kể trên để an táng.
bi an ngoi chua co khu mo tap the lon nhat viet nam hinh 2
Dưới mảnh đất bằng phẳng, cỏ mọc xanh rờn này là một ngôi mộ tập thể lớn nhất cả nước.
“Từ thời vua Gia Long chưa có tên Tam Đàn, mà Tam Đàn được hình thành vào các đời vua sau này”, ông Nguyên giải thích.
Hơn nửa thế kỷ trông giữ ngôi chùa Ba Đồn, ông Nguyên cho biết, trải qua bao đợt nắng mưa, các khu nghĩa địa trở nên phẳng lì, cỏ mọc xanh rì. Chùa Ba Đồn được xem là nơi có mộ tập thể lớn nhất nước ta vì có thời gian quy tập mộ về đây diễn ra suốt trong suốt thời gian dài.
Chùa không có tu sĩ
Theo ông Nguyên, buổi sơ khai vua Gia Long cho quy tập các mộ vô chủ rồi lập am để thắp nhang và sau đó lập điện thờ Ba Đồn. Năm 1957 điện thờ Ba Đồn được trùng tu và mở rộng.
Giai đoạn 1958 - 1960, điện thờ trải qua cuộc đại trùng tu và xây dựng thêm các công trình như hồ sen, tiền đường, nhà tăng, đúc tượng… rồi khánh thành chùa và do ông Võ Công Đồng làm Trưởng ban kiến thiết.
bi an ngoi chua co khu mo tap the lon nhat viet nam hinh 3
Hệ thống thành được xây quanh khu mộ tập thể để hài cốt người không bị mất. 
Theo tìm hiểu, hằng năm triều đình đều lập đàn tế lễ tại chùa vào xuân Tế, thu Tế. Sau đó phổ thiện nguyện được lập ra để lo việc chùa, họ lấy ngày 23/5 Âm lịch làm ngày kỵ chung của chùa với ý nguyện cầu cho các âm linh được siêu thoát.
Người dân cũng thường đến chùa để thắp nhang và xin xăm may mắn. Trước đây, ống xăm của chùa Ba Đồn được đặt trong Quan Minh điện để công chúa, quan lại đến xin xăm. Sau đó, vào năm 1945, đức bà Từ Cung (mẹ vua Bảo Đại) đem lên tôn trí ở chùa Ba Đồn để người dân xin xăm.
Từ khi chùa có ống xăm, nhân dân có việc cần đều lên chùa để cầu nguyện và rút xăm may mắn. Có nhiều người đến xin xăm và thấy linh nghiệm còn mang ơn mà quay về chùa đóng góp tiền bạc để chăm lo hương khói, thờ tự.
Điều đặc biệt ở ngôi chùa này đó là chùa không có tu sĩ mà chỉ có cư sĩ. Điều này được ông Nguyên giải thích rằng, vua lập chùa rồi cho cư sĩ vào ở để thờ phụng là chính, việc ăn uống, cúng cấp có thể dùng đồ mặn. “Ngày xưa cúng tam sanh là cúng mặn, vì không cúng chay toàn diện nên không có tu sĩ” - ông Nguyên nói.
bi an ngoi chua co khu mo tap the lon nhat viet nam hinh 4
Cổng vào chùa Ba Đồn 
Mảnh đất linh thiêng
Dưới mảnh đất phẳng lỳ, cỏ mọc xanh rờn là nơi an nghỉ của hàng chục ngàn linh hồn của những người vô danh nên dân địa phương tin rằng chùa Ba Đồn là ngôi chùa rất linh thiêng. Người dân đồn nhiều câu chuyện được xem là lạ và khó giải thích đã từng xảy ra tại ngôi chùa này.
Theo lời kể của quản tự, năm 1975, tất cả dân chúng như: bác sĩ, sinh viên, thanh niên… được tập trung để đi xây thủy điện Nam sông Hương (cách chùa khoảng 800m).
Ban ngày họ làm trên công trình, đến tối họ tập trung vào chùa và tổ chức cắm trại để sinh hoạt, nghỉ ngơi trên 3 đồn đó.
“Vì họ thấy đất bằng phẳng nên lên cắm trại. Đến nửa đêm, thì có vài người hò hét, chạy vào chùa và nói có đoàn người đến đánh đuổi họ, không cho họ ở, họ kêu rằng đó là ma. Đến sáng, họ dỡ trại đi nơi khác”, quản tự chùa Ba Đồn thông tin.
Ông Lê Viết Dũng (58 tuổi, người dân sống đối diện chùa Ba Đồn) cho biết: “Bây giờ chùa Ba Đồn ít linh thiêng hơn chứ trước đây chùa rất linh. Sau giải phóng có nhóm người lên cắm trại ở nghĩa địa, đến tối thì có một thanh niên bị điên, đi ngẩn ngơ giữa đêm. Sau đó đi khám thì không có bệnh tật gì và được đưa về nhà. Khi nhà đến chùa cúng bái khoảng 2 đêm thì hết bệnh”.
Sau giải phóng, có một đoàn chiếu phim đi khắp nơi chiếu phim cho dân chúng xem đến chùa Ba Đồn thấy chùa rộng nên đoàn chiếu phim trong khuôn viên chùa. Khi đến giờ chiếu phim, máy nổ bỗng dưng trở chứng không hoạt động dù thợ máy sửa hoài. Khi đoàn chuyển đi ra chỗ khác thì máy lại hoạt động ngon lành.
bi an ngoi chua co khu mo tap the lon nhat viet nam hinh 5
Do thấy mảnh đất bằng phẳng ít ai biết đó là ngôi mộ tập thể nên nhiều người chọn đó là chỗ để vui chơi giải trí và xảy ra những chuyện khó lý giải. 
“Do không làm nấm nên người lạ nhìn vào cứ tưởng đó là khoảng đất trống. Vài năm trước, có đám trẻ con mang quả banh lên mảnh đất này để đá bóng. Khi đang chơi thì có đứa trẻ bị ngã gãy chân. Có thể do trùng hợp rủi ro nhưng người ta chú trọng tâm linh nên nói rằng bị ma xô ngã”, ông Nguyên chia sẻ.
Ông Trần Ngọc Huy (59 tuổi) - Tổ trưởng tổ 8, khu vực 4, phường An Tây) cũng cho rằng chùa Ba Đồn rất linh thiêng. Ông Huy cho rằng, ngôi chùa Ba Đồn linh thiêng kể từ sau khi thất thủ kinh đô cho đến bây giờ.
Được biết, năm 2006, khu di tích lịch sử nghĩa địa và chùa Ba Đồn được công nhận là di tích cấp tỉnh. Hiện nay, đất đai đã chật, không thể làm nơi chôn cho các linh hồn được nữa./.
Tuấn Hiệp – Nguyễn Vương/VTC News

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

CHÂN DUNG CÁC MỸ NHÂN SÀI GÒN TRÊN BÌA TẠP CHÍ VIỆT NAM TRƯỚC 1975

Cùng nhìn lại ảnh của các “hotgirl” Sài Gòn để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng những năm tháng cũ ấy. Tạp chí “Vietnam” là ấn phẩm quốc tế được phát hành ở Sài Gòn trước năm 1975 và có rất nhiều trang bìa chụp các người đẹp nổi danh khi ấy của đất phương Nam. Có thể kể đến những cái tên như ca sĩ nổi tiếng Phạm Thị Hiếu, hotgirl Sài Gòn Nguyễn Thi Kim Anh hay nữ nghệ sĩ Bạch Lan Thanh đều góp mặt ở đây. Hãy cùng nhìn lại các mỹ nhân thời xưa để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng của những năm tháng cũ ấy. Túy Phượng Nguyễn Thị Túy Phượng – người nhận được giải thưởngtrang phục đẹp nhất tại Liên hoan nhạc Pop tổ chức tại Sài Gòn ngày 30/1/1972. Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu, cùng tuổi với các nữ tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui và nữ nghệ sĩ Bích Sơn. Ở tuổi 14, 15 Túy Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai diễn nhí nhảnh, hồn nhiên. Đến tuổi 16, 17, khi nghề nghiệp đã định hình, diễn xuất có chiều sâu, Phượng thu hút người xem tr…

PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA ĐẸP VÀ SÀNH ĐIỆU NHƯ THẾ NÀO?

Váy suông, bó sát, váy xòe… du nhập vào các đô thị miền Nam những năm 60, 70 và nhanh chóng được phụ nữ đón nhận. Nhiều người đến Sài Gòn lúc ấy đều ngạc nhiên về nét đẹp hiện đại và ăn mặc hợp mốt của những quý cô thành thị. Thời trang của phụ nữ Sài Gòn xưa Phụ nữ Sài Gòn – Đi về phía trước
Đôi mắt to sáng lấp lánh, khuôn miệng nhỏ xinh lanh lợi và đôi má bầu bĩnh là nét đẹp
đặc trưng của thiếu nữ Sài Gòn xưa. Đội thêm một chiếc mũ bê rê được ưa chuộng
thời điểm này làm tăng nét cá tính cho cô gái trẻ. Phong cách của người phụ nữ xinh đẹp trong bộ váy xòe chấm bi bồng bềnh, thắt
eo gọn cùng kiểu tóc sang trọng vẫn không hề lỗi mốt cho đến bây giờ. Nữ sinh lớp Đệ Tam (tương đương lớp 10) trường Quốc Gia Nghĩa Tử, Sài Gòn năm 1968. Áo dài nữ sinh trên đường Lê Lợi, đoạn trước Công ty xe hơi Kim Long
(bên cạnh thương xá Tax) năm 1965. Phụ nữ Sài Gòn năm 1963. Thời đó, vào mỗi chiều cuối tuần,
phụ nữ Sài Gòn thường đi dạo, bát phố trên đường Lê Lợi, Tự Do. Ảnh chụp vào tháng 12 năm 1967.

Làng nghề chày thớt Phú Long

Làng nghề chày thớt Phú Long ở khu phố Hòa Long, phường Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương đã tồn tại và phát triển từ hơn nửa thế kỷ qua. Đến nay, cái chày, tấm thớt Phú Long không những được ưa chuộng trên thị trường trong nước mà đã vươn xa ra thị trường các nước như: Mỹ, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản…
Lái Thiêu xưa vốn là vùng đất hoang sơ, có nhiều rừng nên nghề mộc nơi đây phát triển rất sớm nhờ nguồn nguyên liệu gỗ phong phú. Theo những người có kinh nghiệm làm chày, thớt ở Phú Long, người sáng lập ra làng nghề này là ông Hai Thiệt. Ban đầu, từ những khúc gỗ thừa của các xưởng mộc trong làng, ông mang về để tận dụng làm thớt. Sẵn nguồn nguyên liệu, lại nắm bắt nhu cầu của bà con trong vùng, ông Hai Thiệt làm thớt để bán, rồi truyền nghề lại cho con cháu sau này. Làng nghề dần được hình thành từ thời điểm những năm 1960 của thế kỷ trước và cũng để ghi công ông Hai Thiệt, người làng sau đó gọi ông là Hai Thớt.

Hiện làng nghề chày thớt Phú Long có hơn 20 cơ sở lớn, nhỏ làm việc …