Khám phá của thủy quân lục chiến Pháp
TTO - Năm 1919 là dấu mốc cho sự ra đời của khu nghỉ mát Bà Nà với những ngôi nhà đầu tiên được xây dựng ở nơi được mệnh danh là “Mùa xuân nước Pháp”. Bà Nà 100 tuổi bây giờ ra sao?
Con đường bộ hiện nay dẫn từ chân núi lên đỉnh Bà Nà gắn liền với phát kiến của đại úy Debay - Ảnh: Đ.Cường
Để thoát khỏi những mùa hè khắc nghiệt ở Đông Dương, người Pháp đã xây dựng những khu nghỉ mát trên núi cao, Bắc Bộ thì có Tam Đảo, Nam Bộ có Đà Lạt. Còn ở miền Trung Trung Bộ, những người lính thủy quân lục chiến được giao nhiệm vụ tìm kiếm nó.
Đại úy Debay và trung úy Decherl đã thực hiện một kỳ tích thực sự khi làm được con đường mòn hiểm trở đi đến tận đỉnh Bà Nà mà không phải xuống kiệu.
H. Cosserat
Phát kiến của đại úy Debay
Con đường mòn hơn 100 năm trước mà người phát kiến ra nó là đại úy thủy quân lục chiến Debay giờ đây là một con đường bộ khá rộng rãi dẫn lên đỉnh Bà Nà. Để có con đường này, cách đây hơn thế kỷ, đã có biết bao cuộc mạo hiểm, thậm chí là đánh đổi cả mạng sống để khai phá ra nó...
Nhiệm vụ mà toàn quyền Đông Dương là Doumer giao cho Debay vào tháng 2-1900 là tiến hành thám sát dãy trung Trường Sơn để tìm một nơi điều dưỡng, bán kính là 150km kể từ Đà Nẵng hoặc từ Huế.
Debay cùng binh lính của mình đã mất nhiều năm trời băng rừng, vượt suối để thăm dò đỉnh núi phía tây Thừa Thiên như A-Touat ở sông Se Kong; rặng núi Lỗ Đông về phía nguồn của sông Cẩm Lệ hoặc Túy Loan; cao nguyên bên sông Trà My...
Tuy nhiên, cuối tháng 7-1900, đoàn đã tan rã mà không thu được kết quả vì các điểm này không đủ điều kiện để lập khu nghỉ mát.
Không từ bỏ ý định thiết lập một trạm chữa bệnh kinh niên tại Trung kỳ, Doumer tiếp tục giao cho Debay thực hiện cuộc thám sát khác. Lần này có thêm trung úy Becker và trung úy Decherl.
Tháng 4-1901, Debay phát hiện "trong rặng núi của thung lũng Túy Loan có một địa điểm khả dĩ để thiết lập một nơi an dưỡng" và ông lên đường thực hiện cuộc thám sát rừng nhiệt đới này kéo dài gần một tháng.
Trở về, ông lập tức trình báo cáo chi tiết đầu tiên về "miền đất hứa". Đó là rặng núi vươn lên giữa hai nhánh sông chính của sông Bà Nà - Lỗ Đông, cách Đà Nẵng khoảng 25km. Độ cao từ 1.300-1.400m, tìm thấy nước ở độ cao khoảng 1.300m.
Có một việc đáng lưu ý chứng tỏ sự khác biệt về chế độ mưa và sương mù. Đó là đến độ cao 700m rêu bắt đầu bao phủ tất cả mọi thứ, cây cối và sỏi đá, nhưng đến độ cao 1.300m thì rêu biến mất.
Vùng này rất mấp mô, nhưng có một loạt những cao nguyên từ 1-2ha cách nhau không xa và có thể xây dựng nơi ở. Đặc biệt là khí hậu với nhiệt độ cao nhất là 23 độ C và thấp nhất 14,5 độ C.
"Tôi đã trải qua nhiều ngày trên nhiều điểm khác nhau của rặng núi và quan sát những sự khác nhau của chế độ mưa và gió ở mỗi điểm đó. Độ cao từ 500m đến 1.250m, trong rặng núi trời mưa nhiều hơn ngoài đồng bằng. Ở độ cao trên 1.300m, sương mù còn thường xuất hiện nhưng nhanh chóng biến đi..." - Debay báo cáo.
Điều thú vị nữa là từ đài quan sát nhìn thấy đồng bằng Đà Nẵng, đồng bằng Quảng Nam, những phá ở Quảng Trị... "Không nghi ngờ gì nữa, sẽ rất có lợi, khi Đà Nẵng đạt được một sự phát triển nhất định với một khu kiều dân Âu châu đông đúc, lại có một nơi nghỉ mát, chỉ cách hai hoặc ba giờ, tầm nhìn ra biển và một toàn cảnh tuyệt đẹp" - Debay đánh giá.
Năm 1902, Debay tiếp tục trình lên quan toàn quyền đề nghị nên chọn rặng núi Lỗ Đông - Bà Nà để xây dựng một nơi nghỉ mát cho vùng Đà Nẵng - Huế. Và ông nhận được chỉ thị tiếp tục công việc vào cuối tháng 8. Tuy nhiên, ngày 2-10, trung úy Decherl đang làm nhiệm vụ xây dựng cầu đã bị cây to đổ vào người và qua đời.
"Tôi chỉ còn một mình để hoàn thành tất cả công trình này, mà thị lực của tôi đã quá sút kém" - Debay thông báo.
Thời gian dành cho Debay ít dần đi nhưng ông đã lập được con đường mòn từ làng Hội Vực nằm bên hữu ngạn sông Túy Loan dẫn lên đến đỉnh Bà Nà. Ở đỉnh cao nhất 1.360m, ông cất một cái nhà lớn dự phòng cho việc lưu lại của toàn quyền Doumer ...
Chỉ tiếc là toàn quyền đã không thể đến đây và phát kiến của đại úy bị bỏ rơi.
Tìm lại con đường bị lãng quên
Cuộc thám sát của Debay khép lại nhưng lời kể về giống cây có mủ cao su đã hấp dẫn hai người Pháp là H. Cosserat và Tavel nên họ truy tìm lại con đường mòn vào tháng 7-1904.
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Phước Tương, có một sự kiện quan trọng xảy ra là việc toàn quyền Đông Dương năm 1912 ra quyết định đặt núi Bà Nà thành khu bảo tồn lâm nghiệp. Đây là một bước tiến lớn để tiến hành nghiên cứu khoa học ở Bà Nà và làm người ta chú ý đến nó.
Sau đó, ông Marboul - giám đốc phân khu lâm nghiệp Đà Nẵng - được giao nhiệm vụ thám sát Bà Nà để nghiên cứu lâm nghiệp và tìm lại con đường Debay. Năm 1915, Marboul thực hiện hai cuộc thám sát và đi con đường mòn của Debay cũng như lán trại mà đại úy này đã lưu trú.
Marboul lưu lại trên rặng núi 21 ngày, đồng thời xác định vị trí xây dựng trạm lâm nghiệp đầu tiên trên đỉnh Bà Nà. Những ngày lưu lại đây, Marboul đã thốt lên rằng khí hậu tuyệt diệu làm ông nhớ lại Lang Biang. Marboul có thể ngồi trên một thân cây ngoài nắng từ 11 giờ trưa đến 2 giờ chiều để sưởi ấm mà không cảm thấy khó chịu.
Con đường bộ đi lên Bà Nà được đại úy Debay cùng nhân công địa phương làm từ 100 năm trước - Ảnh tư liệu
Không chỉ hấp dẫn giới lâm nghiệp, năm 1916, các bác sĩ Gaide - giám đốc Sở Y tế Trung Bộ, bác sĩ Judel de Lacombe - bác sĩ trưởng ở Đà Nẵng... đã đặt chân đến đây.
Bác sĩ Gaide khẳng định cái khí hậu trong lành, ôn hòa của Bà Nà phù hợp tuyệt vời với những cơ thể mệt mỏi, suy sụp vì những ngày hè nóng nực.
Vị bác sĩ này đúc kết: “Một lần nghỉ mát mùa hè ở Bà Nà là một cuộc chữa bệnh bằng độ cao tuyệt hảo. Hơn nữa, nhờ toàn cảnh tuyệt đẹp của biển cả và dãy Trường Sơn, ánh sáng đa dạng mà ta luôn có trước mắt, những ngày nghỉ tại đây rất dễ chịu và đặc biệt quyến rũ. Đó chính là ưu thế của Bà Nà so với Đà Lạt”.
Những công trình đầu tiên
TTO - "Khi tôi lên đây lần đầu, mọi thứ chỉ là đống đổ nát. Dấu tích còn sót lại của một khu nghỉ dưỡng hàng đầu xứ Trung Kỳ là những móng nhà giữa um tùm cây cỏ".
Khách sạn Morin trên đỉnh Bà Nà đầu thế kỷ trước - Ảnh tư liệu
Đấy là tâm sự mà ông Hồ Văn Ánh, nguyên trưởng Ban quản lý khu du lịch Bà Nà - Suối Mơ giai đoạn 1997-1999, nhớ lại lần đầu lên đỉnh Bà Nà.
Được giao nhiệm vụ mở đường trở lại đỉnh núi, ông Ánh nói nếu không có những tư liệu do người Pháp để lại, thật không dám tin một thế kỷ trước người ta có thể băng núi, cắt rừng để làm cả một "thị trấn trên mây".
Những ngôi biệt thự cổ của người Pháp đều được xây dựng theo kiến trúc châu Âu với lò sưởi và đường ống cung cấp hơi ấm trong tường nhà. Một số biệt thự có chất liệu xây dựng là hợp chất mủ cây bời lời trộn với đá để chịu đựng được độ ẩm nơi đây.
(Lời thuyết minh của các hướng dẫn viên Khu du lịch Bà Nà)
Từ ngôi nhà tư nhân đầu tiên của Beisson
Lần giở những tư liệu tầm khảo cũ, ông Ánh mừng ra mặt khi nhận ra năm 2019 chính là năm kỷ niệm tròn 100 năm ngày ngôi nhà đầu tiên được dựng trên đỉnh Bà Nà. Lịch sử khai phá của người Pháp đương nhiên không ai rành bằng... người Pháp.
Những ghi chép về các công trình đầu tiên trên Bà Nà cho thấy sự bài bản của người Pháp trong việc xây dựng một "Đà Lạt xứ Trung Kỳ".
Công trình được xây cất đầu tiên đương nhiên là trại kiểm lâm năm 1901 của đoàn đi khai phá do đại úy Debay dẫn đầu.
Trong một bức thư viết tháng 11-1901, Debay thổ lộ: "Khi Đà Nẵng phát triển một mức nào đó, có nhiều người Pháp đến ở thì thiết nghĩ cần có một nhà trạm bồi dưỡng sức khỏe".
Điều thuận lợi mà Debay nhìn thấy chính là việc chỉ cần bỏ ra 2-3 giờ leo núi là có thể lên tới đỉnh cao 1.350m để thấy được một quang cảnh đẹp mắt. Nhưng phải mất tới 18 năm sau để ngôi nhà "bồi dưỡng sức khỏe" trong suy nghĩ của Debay trở thành hiện thực.
Đó chính là ngôi nhà của một luật sư bào chữa tên Beisson. Ý tưởng về ngôi nhà được hình thành sau khi Beisson có cuộc vui thú 18 ngày trên Bà Nà vào năm 1918.
Vị luật sư xin chính quyền Pháp tại Đà Nẵng chấp nhận cho phép ông được xây một ngôi nhà trên đỉnh Bà Nà để ở.
Được làm từ tháng 5-1919, hai tháng sau thì ngôi nhà gỗ hoàn thành. Đây được xem là một dấu mốc của Bà Nà bởi từ đây đã có nhà dân, khiến đỉnh núi này không còn là địa điểm của riêng lực lượng kiểm lâm nữa"- ông Ánh nhận định.
Cũng trong thời điểm này, Toàn quyền Đông Dương công bố một bảng quy hoạch mới ở Bà Nà, tách một khu đất để xây dựng trung tâm dân cư trong tương lai.
Việc vẽ bản đồ và phân lô Bà Nà được thực hiện nhanh chóng, chỉ trong một thời gian rất ngắn các miếng đất ở đây đã có chủ, các đỉnh núi được khai phá và nhà cửa mọc lên.
Tour đi Bà Nà gần 100 năm trước
Theo ông Ánh, sự bài bản của người Pháp trong việc khai phá Bà Nà không những được thể hiện rõ qua các ghi chép về đường đi, bản đồ quy hoạch mà còn trong những báo cáo về y khoa, dịch tễ, bệnh truyền nhiễm...
Sau khi một nhóm bác sĩ đến khảo sát Bà Nà và có tờ trình về giá trị "bổ dưỡng" của khí hậu châu Âu ở nơi này, công trình khách sạn đầu tiên ở đây mang tầm vóc hai tầng với 22 phòng ra mắt từ thời điểm tháng 5-1923 do thương gia Đà Nẵng Emile Morin làm chủ.
Có nhà khách nhưng để đưa khách tham quan lên núi cần phải có đường. Bấy giờ Bonlangé là chủ sự kiểm lâm vùng Trung Kỳ đã thực hiện tu sửa những con đường mòn lên núi, đường lui tới cao điểm 200 cũng được mở rộng để có thể đi được bằng ôtô. Nhờ thế lúc bây giờ người Pháp có thể "ăn sáng Tourane, ăn trưa Bà Nà".
Trong cuốn sách Những người bạn của cố đô Huế được xuất bản năm 1924, bác sĩ Sallet - người nhiều lần đến Bà Nà và chứng kiến sự đổi thay của nó - đã có nhận định về mặt y tế rằng đây là điểm nghỉ dưỡng "đủ tính chất hảo hạng". Sallet tính toán khi chính thức đón khách năm 1920, Bà Nà có 54 người lớn và trẻ nhỏ đến lưu trú; vào ba năm sau đó trung bình 120 người chủ yếu đến đây vào tháng 7-8.
Trong cuốn sách trên, bác sĩ Sallet cũng cung cấp thông tin du lịch lên Bà Nà. Theo đó tour Bà Nà phục vụ từ ngày 13-5 đến 15-7, khởi hành bằng xe hơi từ khách sạn Morin Đà Nẵng lúc 4g30 các ngày lẻ (thứ ba, năm, bảy) trong tuần. Lịch trình đến chân núi khoảng 6h và tiếp tục hành trình lên đỉnh bằng ghế gánh khoảng 11h.
Ngược lại, khởi hành từ Bà Nà về Đà Nẵng vào những ngày chẵn (thứ hai, tư, sáu). Kèm lịch trình là giá chỗ ngồi xe hơi, giá ký gửi hành lý, giá người giúp việc bản xứ, giá phu gánh ghế lên đỉnh núi... Mỗi chuyến đi chỉ nhận 10 khách và phải thông báo trước ít nhất 48 tiếng với hành lý tối đa 30kg.
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Phước Tương, đến năm 1924, theo thiết kế xây dựng Bà Nà do ông Spick ký thì tại đây có thêm một số bất động sản của cơ quan y tế, đường sắt, kiểm lâm, vận tải đường biển, đài quan trắc...
Ngoài ra, hạ tầng còn có các giếng nước, bể trữ nước mưa, bể giặt... Thêm vào đó là một số công trình nhà ở tư nhân của người Pháp, tuyệt nhiên không có nhà của người Việt. Những năm cuối thời Pháp thuộc ở đây có tới 170 ngôi nhà nghỉ mát bằng gỗ.
Theo ông Tương, giá ăn ngủ tại khách sạn Morin trên Bà Nà phải trả từ 8-9 đồng Đông Dương là rất cao so với mức lương tháng 6 đồng của giáo viên vùng nông thôn lúc bấy giờ.
Người Pháp trên đỉnh Bà Nà đầu thế kỷ trước - Ảnh tư liệu
Trong thời kỳ phát triển hoàng kim, Bà Nà là một thị trấn thu nhỏ phục vụ riêng cho người Pháp với các dịch vụ bưu điện, ngân hàng, sở điện báo, thậm chí có cả lò bánh mì, nhà giặt là, sân tennis...
Sau Cách mạng Tháng 8, Pháp kiều rút đi nên Bà Nà vắng bóng người. Khi thực dân Pháp trở lại vùng đất này, để ngăn chặn không cho địch tái chiếm Bà Nà, du kích dưới chân núi đã quyết liệt thực hiện tiêu thổ kháng chiến. Vì thế, thị trấn giữa ngàn mây trở thành bình địa.
“Sau ngày thống nhất đất nước, gạch đá đổ nát từ Bà Nà được người dân địa phương tận dụng để xây nhà và hợp tác xã. Đặc biệt là nền gạch hoa và khung cửa bằng gỗ của các biệt thự rất được ưa chuộng” - ông Ánh nói.
Bí ẩn Bà Nà
TTO - Bà Nà giờ đã là một điểm du lịch nhộn nhịp khách thập phương. Vậy nhưng ít ai biết rằng Bà Nà - Núi Chúa còn ẩn chứa những câu chuyện huyền hoặc mà tới nay vẫn chưa có lời giải đáp.
Chưa thấy ai tìm ra một cục vàng nào do người Pháp để lại nhưng thông tin giấu vàng ở Bà Nà thì hầu như vị cao niên nào cũng tỏ tường.
Ông Hồ Văn Ánh
Linh thiêng miếu Bà
Kế bên con đường bộ lên Bà Nà có một con dốc dựng đứng tức ngực dẫn lên miếu Bà. Ngôi miếu uy nghiêm trên đỉnh núi vẫn ngày ngày nghi ngút khói hương. Những nhân viên ở đây cho biết ngôi miếu này rất linh thiêng và bất cứ nhà thầu, công ty nào trước khi "động thổ" đều đến đây để thắp hương.
Nơi đây còn tấm bia ghi rõ năm 1931 những người ở sở Dương Sanh đứng ra lập miếu. Đặc biệt, có cả tên các quan Tây là ông Laborde - quan công sứ, ông Spick - quan đại lý.
Khi bác sĩ Pháp Albert Sallet đặt chân đến Bà Nà gần trăm năm trước, ông đã có nghiên cứu công phu về nơi này. Sallet đã nói rằng Núi Chúa yên tĩnh là thế nhưng đêm đến thì trở thành một thế giới huyền bí. Có một vị thần thiện nữ mà mọi người đều công nhận được gọi là Đức Bà. Bà có quan hệ bà con hoặc trùng hợp với Phật Bà.
"Trong tất cả mọi trường hợp, từ Đức Bà tỏ ra mọi sự tốt lành và tin tưởng. Mọi người tôn kính bà" - Sallet viết. Miếu thờ Đức Bà ở một cái động được trang trí một bàn cờ bằng cẩm thạch trắng...
Cũng theo bác sĩ Sallet, truyền thuyết kể lại thời kỳ chiến tranh, lúc Gia Long đánh nhau với quân Tây Sơn, ông đã có tiếp xúc với Núi Chúa. Cư dân bản địa đã chỉ cho Sallet một chỗ khuyết trên đỉnh Núi Chúa, một chóp nhọn hình Kim tự tháp.
Truyền thuyết cho rằng trên đỉnh chóp này có một khoảng đất trống, chính giữa có bàn bằng cẩm thạch, bốn ghế đá bốn góc và một con đường chạy bao quanh sườn. Chính nơi đây Gia Long thu tô, thuế của những "bộ tộc mọi" trung thành với ông.
Sallet cũng cho biết qua một cuộc điều tra trong những làng xóm cuối cùng nằm ở các triền dốc, được biết Nguyễn Ánh khi bị truy kích đã rút lui về Bà Nà và ra lệnh trồng mít, trồng chè. Một người tên Mạc ở làng Hội Vực đã cung cấp trâu, nếp cho quân đội của Nguyễn Ánh. Khi Nguyễn Ánh lên ngôi vua đã phong cho người này phẩm tước Bình hương xử sĩ...
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Phước Tương, truyền thuyết dân gian ở trên núi Bà Nà có miếu Đức Bà thờ một nữ thần núi. Và còn có di tích liên quan đến chúa Nguyễn Ánh ẩn tránh ở đây thời kỳ chống Tây Sơn. "Có lẽ vì vậy mà Bà Nà có tên gọi Núi Chúa" - ông Tương đặt giả thuyết.
Miếu Bà hiện vẫn còn lưu tấm bảng ghi tên những người tham gia lập miếu, trong đó có hai quan Tây - Ảnh: ĐOÀN CƯỜNG
Bí ẩn kho báu vàng
Ông Hồ Văn Ánh - nguyên trưởng BQL khu du lịch Bà Nà, Suối Mơ (1997-1999) - chia sẻ rằng sau khi tách tỉnh, chủ trương của lãnh đạo Đà Nẵng là "vực dậy" khu nghỉ dưỡng bậc nhất Trung Kỳ này. Vậy là ông Ánh cùng các cộng sự trong Sở Du lịch tiến hành khảo sát lại núi Bà Nà. Họ tiếp xúc với rất nhiều bà con sinh sống dưới chân núi và cư dân bản địa đều cho rằng dưới núi có vàng.
Theo ông Ánh, từ năm 1997 và những năm sau đó, khi con đường lên Bà Nà đã có cầu qua suối An Lợi là lúc nhiều người đổ về vùng núi này để tìm vàng. "Ai cũng biết ngày xưa ở đây từng có mỏ vàng non người Trung Quốc làm thế kỷ 19 và tin đồn người Pháp cất vàng dưới chân núi sau khi tháo chạy vì Việt Minh chiếm cứ Bà Nà" - ông Ánh cho biết.
Còn theo nhà nghiên cứu lịch sử Lưu Anh Rô, trong một lần đi sưu tầm tư liệu về Đà Nẵng ông cũng tình cờ tiếp cận những thông tin về "kho báu Bà Nà". Trong chuyến công tác tại TP.HCM, ông tìm đến thăm giáo sư Trần Kim Thạch - một nhà địa chất học.
Khi đề cập đến truyền thuyết "kho báu Bà Nà", vị này cho biết: "Kho vàng đó mình có nghe song không biết thực hư thế nào. Tuy nhiên, nguồn Lỗ Đông của Đà Nẵng có trữ lượng vàng rất lớn, từng được người Pháp khám phá và khai thác... Tại Đà Nẵng, những nơi nào anh thấy trồng "3 cây thông" chụm nhau hình tam giác là nơi người Pháp đánh dấu có vàng...".
"Chưa thấy ai tìm ra một cục vàng nào do người Pháp để lại, nhưng thông tin giấu vàng ở Bà Nà thì hầu như vị cao niên nào cũng tỏ tường" - ông Ánh nói.
Con đường bộ đi Bà Nà qua cầu An Lợi nay đã bỏ hoang. Nơi đây hơn chục năm trước nhiều người đã đổ về vùng Bà Nà - Núi Chúa để tìm vàng - Ảnh: ĐOÀN CƯỜNG
Cũng theo ông Rô, một trung tâm lưu trữ có lưu lá thư của dân biểu Quảng Nam là Dư Phước Thuận gửi cho Ngô Đình Diệm, tổng thống Việt Nam cộng hòa, có đoạn: "Ở Sông Vàng thuộc quận Hòa Vang, cách núi Bà Nà 40km (phải đi đến đấy mất hai ngày đường) có một mỏ vàng từ rất lâu không được khai thác. Trong một lần tiếp xúc với dân địa phương gần núi Bà Nà, tôi gặp ông Cao Đắc Ẩn.
Sau đó vài hôm, ông Ẩn trao cho tôi một bức thư nhờ tôi kính trình lên tổng thống mà tôi xin đính kèm theo đây. Tôi xin thưa thêm rằng người Pháp trong bức thư của ông Cao Đắc Ẩn chính là Meitel, rể của viên cảnh sát trưởng người Pháp thời bấy giờ ở Đà Nẵng tên là Chevalier. Meitel là một kỹ thuật gia về hầm mỏ, là đại diện của một công ty Pháp khai thác vàng ở Sông Vàng...".
Lá thư tay của ông Cao Đắc Ẩn gửi cho ông Ngô Đình Diệm có ghi: "...Trong thời kỳ Pháp thuộc năm 1942, tôi có làm công dẫn đường cho một người Pháp để mở xưởng làm vàng tại xứ Sông Vàng.
Sau khi thành lập cơ xưởng làm vàng được ba năm, số vàng rất nhiều, gặp phải Việt Minh cướp chính quyền thì người chủ tôi đem số vàng trên 100kg đi chôn giấu. Một thời gian sau ông ấy biệt tích. Từ lâu nay, nhiều người tìm hỏi nhưng tôi không dám hở môi...".
Tuy nhiên tung tích về chiếc vali vàng hay "kho báu Bà Nà" vẫn là một bí ẩn huyền bí như cánh rừng già Núi Chúa.
Vì sao có tên gọi Bà Nà?
Tên gọi Bà Nà hiện cũng có nhiều cách lý giải. Có người cho rằng khi người Pháp đặt chân đến vùng này thấy có rất nhiều cây chuối nên gọi là núi Banane, lâu dần người Việt đọc chệch thành Bà Nà.
Còn nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng chữ Bà Nà là tiếng người Ka Tu nghĩa là "núi của tui". Cũng có ý kiến rằng đây là tên viết tắt của Bà Ponagar hay bà Thiên Y A Na Thánh Mẫu.
Đánh thức Bà Nà
TTO - '20 năm trước khó ai dám nghĩ Bà Nà lại từ chỗ không thành có như hôm nay. Thậm chí 10 năm trước cũng không ai nghĩ từ chỗ đón vài chục ngàn khách mỗi năm thành 3,5 triệu khách hiện nay.
Ông Trần Chí Cường, trưởng Ban kinh tế - ngân sách Hội đồng nhân dân TP Đà Nẵng, nói về sự đổi thay ngoài sức tưởng tượng của ngọn núi từng bị quên lãng này.
Hơn 20 năm trước, nơi đây vẫn là chốn thâm sơn cùng cốc mà chỉ những người dân địa phương đi đốn củi, tìm lan mới lui tới. Mãi cho đến thời điểm tách tỉnh năm 1997, TP Đà Nẵng mới quyết định xóa đi lớp bụi mờ để gầy dựng lại từ quá khứ huy hoàng của đỉnh núi năm nao.
Mở đường trở lại
Với tham vọng tái sinh khu nghỉ mát xưa, lãnh đạo Đà Nẵng khi ấy đã phê duyệt một quỹ đất lớn trên đỉnh để kêu gọi một số doanh nghiệp lên đầu tư. Một nhiệm vụ cấp bách khi ấy là phải làm bằng được tuyến đường ôtô lên núi Bà Nàđoạn từ quốc lộ 1 lên chân núi và khôi phục con đường từ cầu An Lợi lên đỉnh Núi Chúa năm xưa.
Ra trường vừa về công tác tại Sở Du lịch Đà Nẵng ít lâu thì ông Trần Chí Cường được phân công tháp tùng đoàn khảo sát đánh giá Bà Nà. Đường lên đỉnh mang tiếng là đường ôtô nhưng nửa thế kỷ không sử dụng, cây cối đã mọc dày trên đường. Chỉ dấu cho biết là... đường phải nhờ đến cây hai bên là cây rậm, còn cây trên đường là rừng non.
Đường khó, việc lên xuống chân núi không thể thực hiện trong ngày, còn đường từ chân núi về lại quốc lộ thì như vũng sình mỗi lúc trời mưa. Dù có xe máy nhưng ông Cường đành phải thuê nhà của dân trên núi để ở.
Cho đến bây giờ, những người mở đường năm ấy như ông Hồ Văn Ánh, nguyên trưởng Ban quản lý khu du lịch Bà Nà - Suối Mơ giai đoạn 1997-1999, không quên một kỷ niệm về sự hoang vu của vùng đất này. Đó là lúc chiếc xe Uoát nổ máy vượt qua ngầm nước An Lợi thì cả 13 hộ dân ở đó đều ra vẫy tay chào mừng.
"Lý do là vì với nhiều người, đây là lần đầu tiên nghe tiếng nổ của xe bốn bánh. Sau này thành phố tiến hành di dời các hộ này về trung tâm xã để họ sống bớt khó khăn hơn" - ông Ánh nhớ lại.
Máy móc thiết bị kéo lên, dần dà đến năm 2003 tuyến đường mòn từ An Lợi lên đỉnh núi được mở rộng thêm gần 1m với 28 điểm cua được mở rộng và các hành lang an toàn.
Cũng trong thời gian này, tại đỉnh Bà Nà có ba điểm lưu trú, nghỉ dưỡng quy mô vài chục phòng được mọc lên. Trong đó có một doanh nghiệp vốn nhà nước là Công ty du lịch Danatour đầu tư cáp treo loại nhỏ dài 1,5km qua lại từ đồi Vọng Nguyệt đến đỉnh Bà Nà từ năm 1999.
"Cho đến năm 2007 thì du lịch Bà Nà còn rất khiêm tốn bởi việc di chuyển lên xuống núi ở độ cao 1.500m bằng xe vẫn khiến nhiều người không thiện cảm. Tính mùa vụ lại càng rõ ràng nên gần như chỉ khai thác được vào mấy tháng nắng.
Phải nói thời điểm ấy lãnh đạo thành phố cũng nhìn nhận ra được điều này nên quyết định đi tìm nhà đầu tư chiến lược để đưa Bà Nà trở lại thời hoàng kim. Và cáp treo lên xuống núi Bà Nà ra đời như một sự khác biệt đủ sức cạnh tranh với những điểm du lịch khác" - ông Cường nói.
Cáp treo lên xuống núi Bà Nà ra đời như một sự khác biệt đủ sức cạnh tranh với những điểm du lịch khác.
Ông Trần Chí Cường
Mở lối trên không
Năm 2009, tuyến cáp treo đầu tiên lên đỉnh Bà Nà dài hơn 5km được đưa vào hoạt động, một trong những người lên đỉnh bằng cabin sớm nhất là ông Ánh. Chính ông cũng không tin hành trình mà mới vài năm trước ông và những người mở lối phải mất cả ngày trời di chuyển nay chỉ còn chưa đầy 15 phút ngồi "ngắm mây".
Nếu như hành trình của ông Ánh là cuộc phục dựng con đường cũ thì hành trình đưa Bà Nà tìm lại thời hoàng kim của Sun Group chính là cuộc "mở lối trên không". Từ một mẩu tin tuyển nhân sự trên báo Tuổi Trẻ năm 2007, anh Trịnh Hà, công nhân kỹ thuật, bắt đầu cuộc sống gần như biệt lập gần một năm trời khi nộp đơn vào dự án làm cáp treo lên Bà Nà.
Những ai vào rừng, mà nhất là rừng thiêng nước độc như Bà Nà - Núi Chúa, đều biết mùa mưa lũ là thời điểm nguy hiểm nhất trong năm. Cây rừng có nguy cơ bị đổ bất cứ lúc nào. Có lần giữa khuya mưa lớn, nhóm công nhân của anh Hà đang ngủ trong lán thì nghe tiếng cây đổ. Trong ánh đèn pin leo lét, mọi người vừa kịp chạy ra khỏi lán thì cây đổ đúng vị trí của lán.
Ngoài sự thiếu thốn về vật chất, điều kiện lao động, thử thách thi công tuyến cáp đạt hai kỷ lục thế giới (Suối Mơ - Bà Nà và Debay - Morin hoạt động năm 2009 được Guinness ghi nhận là tuyến cáp treo một dây dài nhất thế giới: dài hơn 5km và có cao độ chênh lệch giữa ga trên và ga dưới lớn nhất thế giới: 1.291m) lúc bấy giờ cũng là bài toán khó cho công nhân Việt.
Thời điểm năm 2007, công nghệ GPS cao tần chưa được phát triển tại Đà Nẵng huống hồ là trên vùng rừng núi dự án Bà Nà. Để có đường thẳng dài 6km trong rừng Bà Nà là một điều không đơn giản với sai số kỹ thuật chỉ cho phép sai số 20mm.
"Có lần giải pháp ban đầu của chúng tôi là chia làm hai đoàn đo đạc. Một đoàn đo từ trên cao xuống, một đoàn đo từ dưới lên. Nhưng khi hai đoàn đo gặp nhau thì cách nhau tới... 5m" - anh Hà nhớ lại.
Trong suốt hành trình băng núi xuyên rừng để tìm đường làm trụ cáp dài đằng đẵng năm ấy, cũng có người phải nằm lại với rừng Bà Nà. Anh Hà nhớ đêm đêm nằm võng nhìn về phía trung tâm Đà Nẵng với ánh đèn lung linh anh lại tự nhủ: mình phải cố gắng bám trụ, làm một cái gì đó thật khác biệt để nói với con cháu sau này...
Từng kêu gọi nhà đầu tư Pháp
Năm 1997 ông Hồ Văn Ánh được lãnh đạo TP Đà Nẵng giao viết đề án báo cáo tiền khả thi về dự án nghỉ mát ở Bà Nà. Thời điểm ấy, lãnh đạo thành phố kỳ vọng sẽ kêu gọi được các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là người Pháp trở lại đỉnh núi này. "Báo cáo của tôi viết xong trang nào, anh Thanh (Nguyễn Bá Thanh - chủ tịch UBND TP Đà Nẵng lúc bấy giờ) yêu cầu người dịch dịch ngay sang tiếng Anh, tiếng Pháp khi ấy. Thế nhưng đã không có nhà đầu tư người Pháp nào quay lại" - ông Ánh nói.
Không gian Pháp ở Bà Nà
TTO - Trải qua 100 năm, thời gian và chiến tranh đã hủy hoại "Mùa xuân nước Pháp "trên đỉnh Bà Nà. Và hôm nay, Bà Nà đã có nhiều thay đổi với những công trình gợi nhớ về một thời xa xưa của nước Pháp.
Chúng tôi mong muốn người Việt Nam và du khách quốc tế có thể trải nghiệm một nước Pháp thu nhỏ ngay tại Bà Nà
KTS Philip Andrew Hocking
Hầm rượu Debay
Tiếng nhạc Pháp du dương, trời se se lạnh, sương trắng bồng bềnh ngỡ như có thể với tới, những nhóm du khách Hàn Quốc thích thú ngồi ở Debay bar nhấm nháp từng ngụm vang ngon lành.
Ở Bà Nà hiện nay, có lẽ hầm rượu là nơi mà dấu tích xưa của người Pháp thuở sơ khai còn lại nguyên vẹn nhất. Hầm được đào sâu vào lòng đất, vách hầm được xây bằng đá núi, vữa làm từ hỗn hợp đường - nhựa cây bời lời, vòm được làm hình vòng cung để đảm bảo sự an toàn.
Vì vậy mà đến ngày nay hầm rượu vẫn khá nguyên vẹn trong khi hàng trăm ngôi biệt thự đã trở thành phế tích. Trong hầm, các thùng rượu bằng gỗ sồi được xếp ngăn nắp bên đường đi. Căn hầm có diện tích rất nhỏ nhưng đủ các phòng: phòng lớn, phòng tiệc và kho để rượu...
Năm 1997 khi đoàn công tác của Sở Du lịch Đà Nẵng đi khảo sát Bà Nà để thực hiện ý tưởng khôi phục khu nghỉ dưỡng này, họ đã phát hiện hầm rượu mà người Pháp bỏ hoang từ những năm 1945. Năm 2011, Bà Nà Hills tiến hành khôi phục căn hầm rượu này và đặt tên là hầm rượu Debay.
Có nhiều năm làm việc tại Bà Nà, chị Nguyễn Thị Thanh Huyền, HDV của Công ty CP Dịch vụ cáp treo Bà Nà, cho biết hầm rượu này được xây dựng từ năm 1923. Đó là một công trình sở hữu tập thể gồm 14 người Pháp góp tiền để xây dựng.
Nhưng đến nay chỉ xác định được hai người là ông Morin và luật sư Beisson. Khi hầm được xây dựng xong, những chai rượu vang của Pháp được vận chuyển tới Bà Nà để bảo quản và phục vụ các buổi tiệc dành cho người Pháp.
Năm 2013, có một du khách Pháp lớn tuổi đến thăm hầm rượu Debay. Khi đứng trước cửa hầm, ông ta đã xúc động bật khóc. Hướng dẫn viên hỏi chuyện mới hay vị khách là con cháu của ông Morin. "Ở nhà tại Pháp còn vài bức hình của ông Morin từng ở Việt Nam và hình ông trong căn hầm rượu này" - chị Huyền cho biết.
Hầm rượu Debay có nhiệt độ từ 16-20 độ C, có 14 hốc rượu, gồm 11 hốc nhỏ và ba hốc lớn. Thời Pháp thuộc, mỗi hốc rượu này đều có chủ nhân đăng ký gửi rượu cất giữ trong hầm. Họ là chủ nhân những ngôi biệt thự hoặc khách sạn tại Bà Nà. Rượu được mang ra tiếp đãi khách quý trong những buổi khánh tiết...
Làng Pháp thu nhỏ
Cách hầm rượu Debay không xa là một ngôi làng Pháp. Ngôi làng hiện lên như một nước Pháp thu nhỏ ẩn hiện mờ ảo trong màn sương. Những dòng người thích thú đổ về đây để đắm chìm trong một không gian Pháp.
Đại diện Sun World Ba Na Hills chia sẻ trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử, Bà Nà thuở sơ khai với các dấu tích Gothic đã dần bị lãng quên. Tới những năm của thập niên 2000, Bà Nà mới được tập đoàn này nâng cấp và đầu tư bài bản để thành khu nghỉ dưỡng đẳng cấp. Làng Pháp được tái hiện, lấy cảm hứng từ những phác thảo chân thực trong cuốn nhật ký hành trình xuyên nước Pháp đầy thú vị của nhà truyền giáo người Pháp Pign De Aune - người đã được Nguyễn Ánh tặng món quà là Bà Nà.
KTS Philip Andrew Hocking - phụ trách đơn vị tư vấn thiết kế cho dự án Làng Pháp - cho biết Làng Pháp được tái hiện theo phong cách kiến trúc vào khoảng thế kỷ thứ 12, 13, 14 của nước Pháp.
Làng có bảy khu vực, mỗi khu đều có cái "chất" riêng, là những miền đất đã để lại trong Pign Aune nhiều xúc cảm. Ngay trước quảng trường trung tâm, nơi diễn ra các lễ hội âm nhạc hấp dẫn du khách là thánh đường St. Denis.
Đây là một trong những công trình đầu tiên mang dấu ấn của kiến trúc Gothic. Nét độc đáo của thánh đường này chính là những mái vòm, tường đá xù xì, các khung cửa kính đầy sắc màu, được thiết kế mềm mại mang hình dáng những cánh hoa hồng bên cạnh dàn đồng ca lộng lẫy.
Thánh đường St. Denis cũng là nguồn cảm hứng khi Pign Aune xây dựng làng Pháp ở Nam Kỳ. "Tôi tâm đắc nhất là nhà thờ St.Denis. Đây là công trình được mô phỏng theo Vương cung thánh đường Denis rất nổi tiếng của Pháp" - KTS Philip Andrew Hocking cho biết.
Đến Làng Pháp, du khách có thể tản bộ trên những con phố của thị trấn cổ Britany, nơi gắn liền những tuyệt tác kiến trúc mang đậm phong cách châu Âu truyền thống; hay chìm đắm trong thị trấn Dennis - nơi Pign Aune cùng thái tử Nguyễn Phúc Cảnh ghé qua khi còn là sứ thần Pháp và Sarlat - ngôi làng được mệnh danh là đẹp nhất nước Pháp.
Đó là chưa kể đến Paris hoa lệ được nhắc đến trong nhật ký của Pign rồi Conques Aveyron - ngôi làng nguyên sơ nhất thời Trung cổ với hình dáng vỏ sò; Eze - thị trấn miền duyên hải nước Pháp và ngôi làng nhỏ yên bình Apremont sur Allier... Tất cả đã được tái hiện ở Bà Nà.
"Có thể nói Làng Pháp là những gì tinh hoa nhất, đẹp đẽ nhất. Chúng tôi mong muốn người Việt Nam và du khách quốc tế có thể trải nghiệm một nước Pháp thu nhỏ ngay tại Bà Nà" - KTS Philip Andrew Hocking cho biết thêm.
Tàn tích Pháp
Tàn tích của những công trình được người Pháp xây gần 100 năm trước ngoài hầm rượu được xây dựng năm 1923 còn có nền móng một số căn biệt thự. Tuy nhiên số lượng nền móng chỉ được đếm trên đầu ngón tay.
Nhờ vào bản đồ quy hoạch của người Pháp thời xưa, có thể tìm được vị trí một số gạch đá biệt thự còn sót lại. Theo thiết kế, chúng được bố trí nằm biệt lập ở những góc đồi nhìn sang các hướng khác nhau.
Trong cuốn Những người bạn Huế xưa xuất bản năm 1924, bác sĩ Gaide có đề nghị những người được thừa hưởng thành quả của Bà Nà thời bấy giờ phải vinh danh, tạc tượng những người khai phá là đại úy Debay và trung úy Decherl - người đã tử nạn trong lúc làm đường lên Bà Nà.
Theo ông Hồ Văn Ánh - một trong những người tham gia khai phá Bà Nà năm 1997, lúc ấy ông và mọi người có phát hiện một tảng đá trên đó có khắc khuôn mặt người trên đường lên đỉnh.
"Là Debay hay Decherl thì không ai biết nhưng đó là hình một người phương Tây quay mặt vào núi. Tôi nói anh em làm đường phải cẩn thận với tảng đá này để sau đó mang lên đỉnh vinh danh. Tiếc là thời đó nổ mìn làm đường anh em công nhân đã không bảo vệ được chứng tích này" - ông Ánh tiếc nuối.

TTO - "Từ trên các vách đá, xuất hiện hai bàn tay khổng lồ nâng đỡ một sợi chỉ vàng, như thể chính ngọn núi đã mọc ra đôi bàn tay vậy" - tờ báo uy tín của MỹThe New York Times mô tả đầy kinh ngạc về cây cầu Vàng trên đỉnh Bà Nà.
Như hiệu ứng domino, một loạt hãng thông tấn lớn trên thế giới như CNN, BBC,FoxNews, Time, The Guardian… đồng loạt khai thác đến tận tường sự khác lạ của cây cầu có vị trí và thiết kế độc nhất vô nhị này do Việt Nam thiết kế, thực hiện.
00:01:15
Cầu Vàng - biểu tượng mới giữa ngàn mây

Ngồi trên cabin chầm chậm tiến lên đỉnh núi, nhóm du khách Hàn Quốc đã luống tuổi do cô Lee Ji Hey làm hướng dẫn viên bắt đầu ồn ào khi chớm thấy cây cầu Vàng trên đỉnh Bà Nà.
Màn sương núi vừa qua đi, ống thép sơn nhũ vàng từ cây cầu tạo hiệu ứng sáng rực trước ánh sáng mặt trời trông như những vương miện ánh vàng trong câu chuyện thần thoại.
Đến gần hơn, ngồi trong cabin có thể thấy những vết loang lổ rêu phong, bề mặt gồ ghề thô ráp trông như đá núi tự nhiên. Các vị khách liên tục chỉ tay không ngớt.

"Lên Bà Nà có nhiều tuyến cáp treo nhưng lúc ở chân núi mọi người yêu cầu tôi dẫn đi tuyến cáp có bàn tay khổng lồ này đầu tiên. Dường như trước khi đến đây họ đều đã biết tới nó" - cô Lee Ji Hey nói về sự thông tường của du khách.
Không bắc qua sông, cầu Vàng như một dải lụa vàng được rút ra từ lòng núi và được nâng đỡ bởi đôi bàn tay khổng lồ.
Trước khi hoàn thành cây cầu, kiến trúc sư Phạm Thị Ái Thủy - phó giám đốc Công ty TA Landscape Architecture - cũng không ngờ có ngày bản thiết kế của đơn vị mình trở thành trung tâm của truyền thông du lịch quốc tế.
Khi nhận được yêu cầu, giải pháp thiết kế của chủ đầu tư là phải quyết hướng tiếp cận cảnh quan từ ga Marseille tới vườn Thiên Thai và vườn hoa Le Jardin D’Amour.
Đứng từ phía mạn đồi hiện hữu, kiến trúc sư Ái Thủy nói có một cảm xúc mạnh lâng lâng trong chị lúc ấy. Đó là cảm giác nhỏ bé trước thiên nhiên hùng vĩ, trước những câu chuyện khai phá của vùng đất mang đậm lịch sử này.
Yêu cầu thiết kế là phải làm sao hạn chế tối thiểu sự tác động vào địa hình và thiên nhiên và mang đến sự tận hưởng cảm xúc cho mọi đối tượng khi lên đỉnh Bà Nà.
"Câu chuyện cây cầu kết nối được đặt ra, chúng tôi nghĩ mình phải truyền tải một thiết kế cảnh quan thú vị, có khả năng thôi thúc mọi người đến và trải nghiệm. Và rồi chúng tôi nghĩ rằng mình đang được đứng trên tay một vị thần khổng lồ bước ra từ thần thoại" - bà Thủy kể lại.

Ý tưởng đưa ra được chấp thuận nhưng để triển khai vào thực tế là cả một kỳ công. Đơn vị liên tục có những điều chỉnh về khoảng cách do vấn đề địa chất không phù hợp hoặc địa hình phức tạp khó thi công, cũng như việc đảm bảo đúng yêu cầu khắt khe của chủ đầu tư về việc lưu giữ lại toàn bộ hệ thống cây xanh bên dưới vực.
Miệt mài một năm thi công, cây cầu gồm 8 nhịp, 7 trụ và 2 mố với tổng chiều dài 150m được hình thành và chính thức mở cửa với khách thập phương vào tháng 6-2018.
Ông Nguyễn Lâm An - giám đốc Sun World Ba Na Hills - nói đôi bàn tay của vị thần núi nâng một dải lụa bằng vàng với Bà Nà Hills mang ý nghĩa như một món quà vô cùng quý giá mà khu du lịch trân quý dành tặng cho du khách.
Cầu Vàng lập tức tạo bão trên các trang du lịch nổi tiếng thế giới đến mức tạp chí Time đưa vào "Top 100 điểm đến tuyệt vời nhất thế giới 2018".


Nếu nhìn vào bản đồ tăng trưởng du lịch của Đà Nẵng trong 10 năm qua, nhiều người sẽ bất ngờ bởi chỉ tính riêng lượng khách quốc tế đã tăng trưởng gấp 10 lần, lên hơn 3 triệu lượt.

Bà Trương Thị Hồng Hạnh - phó giám đốc Sở Du lịch Đà Nẵng - nhìn nhận đóng góp rất lớn vào thương hiệu du lịch của thành phố bên sông Hàn chính nhờ sớm hình thành các sản phẩm du lịch chủ lực, độc đáo.
Theo đó, một trong những sản phẩm du lịch chủ lực phải kể đến là Bà Nà. Đó như một hình mẫu về cách làm du lịch bài bản, chuyên nghiệp có sức lan tỏa góp phần đưa Đà Nẵng thành điểm đến nổi bật mang tầm quốc tế.

"Qua 11 năm đầu tư bài bản từ dịch vụ cáp treo, hệ thống làng Pháp, mô hình vui chơi giải trí nổi tiếng cùng các lễ hội kéo dài suốt bốn mùa không những đưa Bà Nà trở lại thời kỳ hoàng kim 'xứ nghỉ dưỡng số 1 Trung Kỳ' mà còn đưa Đà Nẵng đến với khắp thế giới.
Bạn bè biết tới cây cầu Vàng, biết tới Đà Nẵng và ghé thăm Việt Nam. Đây là niềm tự hào chung khi biết rằng tất cả được tạo dựng từ bàn tay khối óc người Việt. Nhiều báo chí quốc tế cũng đánh giá đây là 'sự kỳ diệu từ Việt Nam'" - bà Hạnh hồ hởi.
Đặc biệt, làm nên thương hiệu, đẳng cấp cho Đà Nẵng chính là một số công trình liên tục đạt được những kỷ lục của thế giới cũng như các giải thưởng về du lịch quốc tế. Điều đáng mừng là việc không ngừng đổi mới để gia tăng sự trải nghiệm như việc cho ra mắt sản phẩm cầu Vàng đã mang lại những giá trị trông thấy rõ rệt.
Theo ông Trần Chí Cường - nguyên phó giám đốc Sở Du lịch Đà Nẵng - nếu mang Bà Nà ra so sánh với các sản phẩm thế mạnh du lịch khách của thành phố thì ở đây mang lại hiệu quả rất rõ rệt. Bởi Bà Nà là điểm đến đủ thuyết phục du khách lưu trú tại Đà Nẵng để thoát khỏi khái niệm "khách tham quan" thành "khách du lịch".
Đà Nẵng cũng thoát khỏi khái niệm là trạm trung chuyển khách cho hai đầu di sản Huế và Quảng Nam như ngày nào. Theo thống kê mới nhất, tỷ lệ khách du lịch lưu trú lại thành phố trung bình 3 ngày/lượt.

"Bản chất của sản phẩm du lịch không như những ngành nghề khác, sản phẩm đầu tư anh không thể mang đi bán mà phải kéo họ tới hưởng thụ. Do vậy sản phẩm của anh phải có điểm nhấn, phải thực sự làm hài lòng khách chứ không thể chỉ có quảng bá, tung hô mà khi khách đến nơi rồi thì 'hỡi ôi'.
Nếu đầu tư không đến nơi đến chốn, không đúng xu hướng thị hiếu của khách, nhà đầu tư không "lợi hại" trong khâu quảng bá thì độ rủi ro cực kỳ cao. Vì thế, việc gầy dựng Bà Nà huy hoàng hơn thời kỳ người Pháp xây dựng chính là việc biến không thành có với nỗ lực tuyệt vời của bàn tay khối óc trong nước" - ông Cường nói.

20 năm làm trong ngành du lịch, ông Cường đúc kết việc thành phố có được "địa vị" như ngày hôm nay chính là nhờ tầm nhìn xuyên suốt của những người làm lãnh đạo trong việc định hướng phát triển cũng như mời gọi được những nhà đầu tư chiến lược.
Bởi một khi khó sự đầu tư bài bản, những tập đoàn quản lý du lịch hàng đầu nhảy vào Đà Nẵng thì đó mặc nhiên là một sự kiểm chứng đáng tin cậy để du khách chọn đến thành phố này.

TRƯỜNG TRUNG - ĐOÀN CƯỜNG
T.TRUNG - Đ.CƯỜNG - TƯ LIỆU
TƯỜNG VY
BẢO SUZU
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét