Thứ Năm, 11 tháng 4, 2019

Ngũ động bản Ôn

Ngũ động là những động thiêng ngay khi chưa ai biết bởi những giấc mơ báo mộng. Cho đến khi năm động được tìm ra thì những câu chuyện liêu trai xung quanh nó càng khiến cho người khác tò mò và ghê sợ.

Đến Mộc Châu vào một ngày đông khá đẹp trời, tôi cũng giống hầu hết du khách, đều lựa chọn ghé thăm những nông trường chè, những đồi hoa cải, hoa tam giác mạch rực rỡ và ngút ngàn.
Vẻ đẹp của những đồi chè Mộc Châu, sắc màu của những vạt đồi hoa cải có lẽ không cần phải dùng ngôn từ để diễn tả. Bởi chúng đã quá quen thuộc với những người đam mê du lịch, say mê khám phá. Chỉ cần nhắc đến hai từ “Mộc Châu”, ngay lập tức trong đầu chúng ta sẽ hiện lên những khung cảnh “mướt quá, xanh như ngọc” với đủ gam màu xanh từ xanh thẫm của lá chè, xanh nhẹ của rau cải, cho đến xanh úa của những gốc rau, gốc cây đã thu hoạch.
Tin cũ - Ngũ động bản Ôn: Chút thiêng độc của rừng
Con đường vào bản Ôn.
Sau khi được mục sở thị, tham quan những bức tranh “như ngọc” mà trước đó tôi chỉ được gặp trên internet, trong lời kể của những người bạn hay trong trí tưởng tượng của chính mình, chúng tôi đã đi xe máy men theo con đường bám núi để vào bản. Mục đích vào bản để thưởng thức những món ăn dân tộc do chính những người bản địa chế biến.
Nhưng chuyến đi đã thành công ngoài sức tưởng tượng nhờ có duyên gặp được một “cô chủ nhà hàng” chân chất, nhiệt tình. Chỉ với 100.000 đồng/một suất ăn, chúng tôi có cơ hội được thưởng thức gần như toàn bộ đặc sản nơi đó như thịt trâu gác bếp, lợn bản, gà rừng, bê chao, cải mèo… Không những vậy, cô còn “điều phối” một hướng dẫn viên bản địa dẫn chúng tôi lên Ngũ động trong thời gian chờ cơm.
Theo lời chỉ dẫn của “cô chủ”, chúng tôi chạy xe máy theo “hướng dẫn viên”. Cứ rồng rắn theo nhau khoảng 200 mét, bỗng anh hướng dẫn đứng khựng lại, bảo chúng tôi để số một khi đi xe bởi “con đường này khó đi lắm”.
Về số một, xe vừa rồ, vừa giật. Ngồi đằng sau, tôi không dám ngó nghiêng sang hai bên mà chỉ biết bám chặt vào xế, giữ cho người tôi và người xế liền thành một khối để tay lái anh không lạc. Bởi con đường chỉ rộng khoảng 80cm, một bên là vách núi, một bên là vực với độ ngoằn nghèo, lên xuống mà có lẽ nhà thơ Quang Dũng đã miêu tả khá sát: “Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm”.
Tin cũ - Ngũ động bản Ôn: Chút thiêng độc của rừng (Hình 2).
Con đường chỉ rộng khoảng 80 cm để vào động. Một bên là vách, một bên là vực.
Tôi không thể đong đếm được độ dài của đoạn đường bởi theo cảm tính của tôi, con đường đó phải dài gần như vô tận. Ngồi đằng sau xe, có lúc tôi từng nghĩ mình thật dại dột, có lúc tôi lại tiếc nuối vì chưa gọi cuộc gọi cuối cùng cho gia đình, có lúc chẳng dám nghĩ gì vì đầu óc như đóng băng. Nhưng rồi mọi chuyện cũng ổn khi người hướng dẫn dừng trước mũi xe chúng tôi cười xòa và nói “đến nơi rồi”.
Gửi xe tại một quán nước, chúng tôi men theo một đường mòn để lên động. Vừa đi, anh hướng dẫn vừa giải thích về tên gọi cũng như khái quát về lịch sử của Ngũ động bản Ôn.
Anh kể rằng trước kia, có hai cha con người Thái Bình lên đây hái thuốc, không may gặp trời mưa bão rất lớn, bèn tìm nơi trú ẩn thì gặp một hang động và chui vào. Khi vào trong, hai cha con những nhũ đá trong động đẹp quá, liền ngắt mang về.
Tin cũ - Ngũ động bản Ôn: Chút thiêng độc của rừng (Hình 3).
Nhũ đá khổng lồ ở gần cửa động.
Mọi chuyện tưởng chừng như vô hại, nhưng chỉ trong vòng vài tháng sau, gia đình của ông ta gặp rất nhiều chuyện. Người vợ bỗng dưng bị điên, con trai thì gặp tai nạn. Nhưng rồi ông ta mơ một giấc mơ, trong giấc mơ đó, ông ta được báo rằng ông ta đã là người “mở” một động, không những thế lại xâm phạm đến những “hiện vật” ở động này. Nay ông phải trả lại toàn bộ những gì đã mang từ trong động ra và đồng thời phải tìm và “mở” được bốn động còn lại thì mọi tai ương mới không còn nữa.
Nhờ giấc mơ đó, ông cùng người dân bản Ôn đã tìm được bốn động còn lại. Tuy nhiên, động thứ năm vẫn chưa ai có duyên để khám phá nó.
Ngũ động này là động thiêng ngay khi chưa ai biết bởi những giấc mơ báo mộng. Cho đến khi năm động được tìm ra thì những câu chuyện liêu trai xung quanh nó càng khiến cho người khác tò mò và ghê sợ đến rợn tóc gáy.
Mỗi khi ở bản có lễ hội hay có người mất (đặc biệt là những người có tiếng nói, có đóng góp trong bản), bỗng dưng ở những động này sẽ có tiếng tù và, tiếng cồng, tiếng chiêng phát ra như muốn chung vui hoặc chia buồn với những người ở bản.
Tin cũ - Ngũ động bản Ôn: Chút thiêng độc của rừng (Hình 4).
Cửa động số 3 (động Thủy) - động rộng và thiêng nhất trong năm động.
Tôi đặt câu hỏi nghi vấn với anh hướng dẫn rằng hay có người nào đã vào trong động, cố tình tạo ra những âm thanh đấy để tăng tính thiêng liêng cho những lễ hội. Nhưng anh chàng hướng dẫn viên lại nhẹ nhàng kể một câu chuyện khác như muốn khẳng định tính thiêng là có thật. Anh nói đã có rất nhiều lần, thanh niên trong bản vì tò mò và cũng nghi hoặc tính chân thực của những tiếng vọng phát ra từ trong động đó nên đã cử người đứng ở năm cửa động mỗi khi bản có việc. Kết quả là người ở động này nghe thấy tiếng cồng chiêng, tù và ở động kia và rốt cục, không ai biết tiếng cồng chiêng phát ra ở động nào.
Từ những câu chuyện như thế, “ngũ động” đã trở thành một niềm tin tâm linh vững chãi của người trong bản. Cũng vì những lí do đấy mà một thời gian dài, những người gắn bó với năm động này phải “đau đầu” vì sự cuồng tín của người dân. Việc đốt vàng mã, thắp hương vô tổ chức khiến động trở thành một nơi hút khói, u ám cả một vùng rừng.
Nhưng cũng may, nhìn ra sự bất cập đó nên người dân nơi đây đã “đóng cửa” dịch vụ “du lịch tâm linh”, nghiêm cấm mọi hình thức đốt vàng mã, đốt nhang gây ảnh hưởng đến môi trường. Và sau đó, ngũ động bản Ôn chỉ đón những đợt khách du lịch sinh thái, khám phá đơn thuần.

Khám phá động Thủy tại Ngũ động bản Ôn

Không rực rỡ như những hang động ở vịnh Hạ Long, càng không quy mô như Phong Nha Kẻ Bàng, động Thủy tại Ngũ động bản Ôn (Mộc Châu) quyến rũ du khách bằng sự bí ẩn.


Theo chân người hướng dẫn bản địa, chúng tôi men theo con đường mòn dẫn lên động. Một bên, dây leo của cây rừng từ những vách đá rủ xuống, bên kia, những cành xanh từ vực núi vươn lên, đón ánh nắng tạo thành một cổng vòm thiên nhiên đón chào du khách.
Hay ở chỗ, cổng vòm đó được bàn tay của núi rừng thiết kế và chăm sóc nên nó khác biệt hoàn toàn với những cổng vòm nhân tạo. Vị thần rừng đã thổi vào lối đi đó một chút hơi lạnh, hơi ẩm của đại ngàn, đã đổ một màu xanh thẫm, pha chút nâu, xám… lên con đường đi. Thiên nhiên và con người hô ứng. Con đường đó, cổng vòm đó với những câu chuyện liêu trai từ người hướng dẫn bản địa đã tạo nên một lực hút vô hình thôi thúc chúng tôi khám phá động.
Tin cũ - Khám phá động Thủy tại Ngũ động bản Ôn - Kì 2
Lối vào hang động rất nhỏ, chỉ đủ một người chui vào. Bên ngoài là những biển cảnh báo không đốt vàng mã.
Vừa đếm nhịp chân theo tiếng thở dốc của người bạn đồng hành, vừa “hành quân” theo sự hùng hồn của nhịp điệu câu chuyện, sau ít phút ngắn ngủi, chúng tôi đã đứng trước cửa động.
Khác hoàn toàn so với tưởng tượng của bản thân, cửa động nhỏ chỉ một người chui vào một. Bên trong động vô cùng tối, chỉ có một vài tia sáng chiếu vào càng làm tô đậm thêm sự tăm tối của không gian. Anh hướng dẫn bản địa nhanh chóng “mất hút” khiến chúng tôi có một vài giây "hú hồn". Sau tiếng nổ bình bịch của máy phát điện, khoảng vài giây sau, anh đã xuất hiện cùng hai chiếc đèn pin và một… bóng điện xoắn rồi dẫn chúng tôi khám phá động Thủy.
Tin cũ - Khám phá động Thủy tại Ngũ động bản Ôn - Kì 2 (Hình 2).
Động Thủy được nhìn từ cửa động.
Đúng như lời của anh hướng dẫn, động này đã từng là một không gian mê tín. Bên ngoài là những tấm biển cấm thắp hương, đốt vàng mã được viết một cách thô mộc như những lời ngăn cản tưởng chừng như bất lực. Bên trong, những vết ám của khói hương vẫn còn phảng phất trên vách đá, nhũ đá. Ngay gần cửa động vẫn còn một vài ban thờ nhỏ.Thờ bác Hồ, thờ Mẫu, thờ thần…
Tin cũ - Khám phá động Thủy tại Ngũ động bản Ôn - Kì 2 (Hình 3).
Có rất nhiều bàn thờ nhỏ bên trong động.
Cửa động nhỏ xíu, chỉ một người chui lọt nhưng khi vào trong lại rộng và cao vô cùng. Giống như một căn nhà rông, để bước lên nhà, chúng ta phải leo cầu thang gỗ. Động Thủy cũng vậy. Nó cũng có một khoảng “sân” khá rộng để tiếp đón du khách. Nhưng để khám phá động, chúng tôi phải “mạo hiểm” leo lên một chiếc thang gỗ nhỏ để “lên lầu”. Gọi là “mạo hiểm” bởi cầu thang khá trơn vì bị bám bùn đất, lại dựng trên một mặt phẳng đầy lồi lõm, thiếu sự thăng bằng. Tất cả du khách đều phải leo cầu thang trong tư thế “bò”. Tức phải khum người để giữ thăng bằng, một tay lần bậc cầu thang, tay kia bám vào sợi dây được căng ở ngay bên cạnh.
Tin cũ - Khám phá động Thủy tại Ngũ động bản Ôn - Kì 2 (Hình 4).Tin cũ - Khám phá động Thủy tại Ngũ động bản Ôn - Kì 2 (Hình 5).Tin cũ - Khám phá động Thủy tại Ngũ động bản Ôn - Kì 2 (Hình 6).
Cây cầu Nại Hà - tượng trưng cho sự kết thúc và khởi đầu mới của một kiếp người.
Càng vào sâu, hang động càng khiến chúng tôi bất ngờ. Những “công trình” đồ sộ của nước, của các tinh thể đá vôi khiến chúng tôi phải mắt tròn mắt dẹt, phải chiêm bái sự khéo léo cũng như gợi tình, gợi ý của con tạo. Một đời người được động Thủy miêu tả ngắn gọn qua hai hình ảnh: Bào thai và cây cầu Nại Hà.
Không chỉ gợi hình, gợi ý mà động Thủy còn gợi âm. Không gian trong động không chỉ là không gian khám phá mà còn là không gian văn hóa khi tất cả những đặc trưng của núi rừng Tây Bắc đều quy tụ về đây.
Thiên nhiên nơi này không chỉ là một kĩ sư giỏi mà ngài còn là một kẻ yêu âm nhạc đến mê đắm. Anh hướng dẫn nói rằng một số nhũ đá ở đây khi vỗ, khi gõ vào, đều tạo ra âm thanh tương tự với những chiếc đàn, cồng chiêng của người dân tộc. Nhưng tôi lại nghĩ rằng âm thanh phát ra từ những chiếc đàn “nhân tạo” chỉ là mô phỏng lại âm thanh của “tự nhiên”. Vì những nhũ đá kia, không biết nó đã có từ bao đời…
Tin cũ - Khám phá động Thủy tại Ngũ động bản Ôn - Kì 2 (Hình 7).
Chày và cối - biểu tượng của văn hóa phồn thưc.
Tình yêu luôn là thứ bí ẩn, là thứ được khát khao mãnh liệt nhất nên căn phòng cuối cùng – cũng là căn phòng rộng nhất được người dân trìu mến gọi tên là căn phòng tình yêu.
Lại là những hình ảnh vô cùng gợi, những hiện tượng thiên nhiên vô cùng khó lí giải…
Hình ảnh cái chày, cái cối – tượng trưng của văn hóa phồn thực được khéo léo xếp cạnh nhau ở góc căn phòng. Kèm theo hai hình ảnh đó là những tác phẩm điêu khắc bằng đá vôi hình hai người trai gái ôm nhau do nghệ nhân “Thiên Nhiên” sáng tạo.
Đặc biệt hơn, ở góc cuối căn phòng còn có một hồ nước hình trái tim. Gọi là hồ nước vì anh hướng dẫn chú thích thế. Còn thực chất, “hồ” chỉ to bằng nửa mâm cơm, sâu độ nửa gang tay. Quan sát thấy nước không nhỏ từ trên xuống, cũng không phát hiện được khe nước từ đâu chảy ra nhưng anh hướng dẫn khẳng định rằng “hồ” này có nước quanh năm, không bao giờ cạn. Kể cả người dân có thử tát hết nước ra nhưng chỉ trong tích tắc, nước lại dồi dào trở lại.
Có lẽ đó cũng là một đặc trưng của tình yêu. Tình yêu là một thứ mơ hồ, khó giải thích. Chúng ta không thể giải thích rằng tình yêu bắt nguồn từ đâu, nó được nuôi dưỡng bởi cái gì… Mà chúng ta chỉ có thể khẳng định rằng nó là thứ vô tận, không bao giờ có hồi kết.
“Em cũng không biết nữa
Khi nào ta yêu nhau”
Bảo Trang/NĐT

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét