- Làng Cổ Bôn được hình thành và phát triển từ thời kỳ văn hóa Đông Sơn, với niên đại hơn 2.000 năm, nằm ở trung tâm của huyện Đông Sơn (Thanh Hóa) và cũng gần như trung tâm của vùng đồng bằng châu thổ sông Mã. Nay, Cổ Bôn thuộc xã Đông Thanh, bao gồm 4 làng (Tứ Bôn): Phúc Triền, Ngọc Tích, Kim Bôi và Quỳnh Đôi. Nơi đây được xem là làng khoa bảng, sản sinh ra nhiều nhân tài tiêu biểu của xứ Thanh. Báo VH&ĐS xin giới thiệu một số nhân vật nổi tiếng mà hậu thế còn lưu truyền qua bài viết của tác giả Trần Thị Liên.
30 tuổi mới đi học mà thi đậu Hoàng giáp
Ngày xưa, về đời hậu Lê, có một người con trai họ Lưu tới làng Đà (Cổ Bôn) cày thuê, cuốc mướn. Anh chỉ có một thân một mình, vì nghèo túng quá nên đã gần ba mươi tuổi mà vẫn chưa có vợ. Nếu có ai hỏi thăm tới quê quán, gia đình, anh chỉ trả lời: “Quê tôi xa lắm, lại mồ côi cả cha lẫn mẹ từ nhỏ nên cứ phải lang thang nay đây mai đó kiếm việc làm nuôi thân”.
Đến đây, thấy phong cảnh hữu tình, dân làng lại thuần hậu anh nghĩ: “Suốt đời sẽ sống ở làng Đà chẳng đi đâu nữa”. Rồi anh ở hẳn đây thật, bởi vì anh và một cô gái trong làng đã thương nhau da diết. Cô gái nọ cũng mồ côi cha mẹ và nghèo khổ, đã ngoài hai chục tuổi đầu vẫn còn phải đi ở hết nhà giàu này đến nhà giàu khác trong làng. Chẳng có gì để mà cưới, hai người đành kiếm ít tranh, tre, nứa, lá dựng tạm một túp lều ở đầu làng rồi về chung sống với nhau.
Một năm sau, vợ chồng nhà họ Lưu sinh được một đứa con trai. Họ sung sướng, vui mừng nhờ cụ đồ trong làng đặt tên cho con. Đứa bé được đặt tên là Lưu Ngạn Quang. Có thêm đứa con trai, bao nhiêu công việc lớn nhỏ trong gia đình do người chồng đảm nhiệm. Cuộc sống tuy vất vả, khổ sở nhưng họ rất thương yêu nhau, gia đình lúc nào cũng đầm ấm và đầy ắp tiếng cười. Cảnh nhà đang hòa thuận êm ấm, người chồng bỗng dưng bị cảm rồi chết đột ngột. Một thân một mình với đứa con thơ dại, người vợ sống vất vưởng trong cảnh chạy ăn từng bữa. Đứa con lại quặt quẹo, ốm đau luôn nên người mẹ chẳng đi làm thuê được mấy mà cứ phải đi vay nợ lãi để sống qua ngày. Ngày qua tháng lại, lãi mẹ đẻ lãi con, lãi con đẻ lãi cháu, lãi chắt…cứ chục thành mười lăm trong một năm mà sinh sôi nảy nở. Nhưng rồi mọi người thấy cảnh mẹ góa con côi thật thương tâm nên cũng không nỡ lòng lấy lãi.
Về sau Ngạn Quang lớn lên phải đi ở để trừ nợ còn mẹ thì phải tiếp tục đi làm thuê. Khi nợ trừ hết rồi Ngạn Quang về đi làm thuê cùng mẹ. Cuộc đời làm thuê quanh năm vẫn nghèo túng. Một hôm Ngạn Quang nói với mẹ: “ Đi làm thuê cả đời cũng chỉ no ba ngày tết, ấm ba tháng hè thôi. Con không đi làm thuê nữa. Mẹ vay cho con ít vốn để đi buôn”.
Người mẹ nghĩ thương con mình vất vả, đã gần ba mươi tuổi đầu mà chẳng có ai chịu lấy, cũng chỉ vì cảnh nhà quá nghèo túng mà thôi. Bà đi vay được hai quan tiền. Từ đó Ngạn Quang quyết chí đi buôn để lấy tiền nuôi mẹ và cưới vợ. Anh định cưới cô hàng nước ở chợ Bôn. Cô này nhà cũng nghèo nhưng còn cha, còn mẹ phải cưới xin hẳn hoi, không thể chẳng cưới chẳng cheo mà cứ ăn ở với nhau như cha mẹ mình dạo trước; giàu làm kép, hẹp làm đơn, thế nào cũng phải có cưới, có cheo.
Anh bắt đầu đi buôn gà, lúc đầu cũng chỉ có dăm ba con nhưng dần dần vốn liếng lên tới vài chục con, nhốt hai lồng chặt. Hôm ấy anh bán gà ở chợ Bôn. Mấy ông hào lý trong làng rủ nhau đi chơi chợ, thấy anh là dân ngụ cư họ kéo nhau đến hoạch họe, ra oai. Biết thân phận mình, anh dùng lời lẽ ngọt ngào, từ tốn phân trần nên họ lẳng lặng bỏ đi.
Nhưng mấy thằng đầy tớ theo hầu chủ cũng lên mặt ta đây nạt nộ, rồi cướp mất một con gà của Ngạn Quang. Anh giằng co mãi đã chẳng được, lại bị chúng đánh cho mấy cái. Vừa tiếc của, vừa tức, tủi hổ cho thân phận của mình, còn một lồng gà anh tháo tung khắp chợ.
Cô hàng trầu, nước từ nãy tới giờ vẫn chăm chú theo dõi sự việc xảy ra, cô vô cùng căm tức bọn cướp giật ban ngày nhưng chẳng dám chửi to mà chỉ rủa thầm trong bụng. Khi anh bước vào hàng, cô rót cho anh một bát nước. Hai người cùng nhìn nhau im lặng. Một lát, Ngạn Quang bưng bát nước chè uống ừng ực một hơi rồi nhặt một miếng trầu nhai. Anh cất tiếng hỏi cô hàng nước.
- Này tôi hỏi nhé, ba mươi tuổi mới đi học có đỗ trạng được không?
- Có chí thì việc gì mà chẳng làm được?
- Thế thì tôi đi học đây!
- Học hành là việc khó nhất trên đời, có sáng dạ thì mới học được, tối dạ thì chữ không vào đâu. Có sáng dạ không mà toan đi học. Cái bút với cái cày hãy nghĩ kỹ mà chọn lấy một.
- Đi cày thì suốt đời bị họ coi khinh nên tôi quyết đi học bằng được!
- Nói thế chứ dù tối dạ mà quyết chí học thì có công mài sắt có ngày nên kim.
Tưởng nói đùa, nào ngờ Ngạn Quang đi học thật.
Ban ngày anh đi làm thuê, ai mướn gì cũng làm, miễn là có tiền, có gạo nuôi mẹ. Ban đêm Ngạn Quang tìm thầy theo học, bất kể gió, mưa, rét buốt. Lúc chẳng còn ai thuê mượn, anh đi buôn rau quả hết chợ này đến chợ khác nhưng tối vẫn chẳng bỏ buổi học nào. Ông thầy cũng tốt, thấy hoàn cảnh của anh vất vả, túng thiếu nhưng học hành chăm chỉ, miệt mài nên thầy thương tình dạy dỗ, rèn cặp tới nơi tới chốn và cũng chẳng lấy tiền công.
Bố mẹ cô bán trầu nước kia thấy vậy cũng thương, cho anh cả tiền cưới lẫn tiền cheo. Vợ chồng anh tằn tiện, vừa chăm chỉ làm việc nuôi mẹ, nuôi nhau. Theo học vừa đúng ba năm thì anh cũng tròn 30 tuổi. Năm ấy tới kỳ thi hương, anh từ biệt mẹ và vợ, lều chõng đi thi và đậu ngay cống sinh. Cha mẹ vợ anh nghe tin rất vui mừng liền sắm sửa gạo tiền cho anh lên kinh đô học tập. Chỉ một thời gian ngắn, tiếng đồn anh hay chữ đã lan cả kinh thành, nhưng Ngạn Quang không vì thế mà kiêu căng, ngạo mạn. Nghĩ tới cảnh mẹ già ở quê cùng người vợ tảo tần, ngày đêm làm lụng, chắt bóp dành dụm cho mình ăn học, anh càng gắng công, dồn sức miệt mài đèn sách, văn chương.
Vào kỳ thi hội anh vượt qua dễ dàng và tới kỳ thi đình anh đỗ luôn Hoàng giáp.
Lưu Ngạn Quang được vua ban áo mũ vinh quy bái tổ. Dân Cổ Bôn lúc bấy giờ phải sửa sang đường xá, sắm cờ quạt đón rước linh đình.
Nhớ cảnh xưa vốn nghèo túng, khốn khó nay được công thành danh toại. Mẹ con, chồng vợ ôn lại chuyện cũ lòng bồi hồi, sung sướng rơi nước mắt. Về sau Ngạn Quang nổi tiếng là người thanh liêm, chính trực hay làm điều phúc đức cho dân nghèo.
Ông được xem là ông tổ họ Lưu ở làng Đà. Cũng bởi chuyện này mà đất Cổ Bôn xưa vẫn truyền tụng câu ca:
“Em là con gái kẻ Bôn
Đi bán trầu miếng nuôi chồng đi thi
Ba năm chàng đỗ Kinh kỳ
Chàng đi ngựa tía thiếp đi võng đào”.
Đăng quận công Nguyễn Khải bắc cầu Ngọc Khê
Nguyễn Khải là con trai Nguyễn Văn Nghi. Ông là một võ tướng thời Lê được phong hiệp mưu dương võ công thần trung quân đô đốc phủ, được thăng đến chức Binh bộ Thượng Thư, Thái Bảo, Thái phó, là bậc quốc lão của triều đình.
Văn bia ghi chép về việc sửa cầu Ngọc Khê ở Cổ Bôn do Mai lĩnh hầu Phùng Khắc Khoan soạn năm 1602 đã ghi lại sự việc Đăng quận công Nguyễn Khải đã “tự xuất nhà, mua gỗ từ rừng cao về, mời thợ giỏi trong nước đến… dựng cầu 13 nhịp, cong uốn như cầu vồng, đôi bên lan can trên dưới đều bằng gỗ lim, mái lợp ngói lá sen vàng, chót vót hàng cột ngất trời xanh….”
Ông đã dựng tám chiếc cầu là việc làm thể hiện công đức lớn lao, phúc đức cao dày được nhân dân ghi công và ngưỡng mộ.
Giếng nước đá trước đền thờ Nguyễn Nghi (làng Cổ Bôn).
Chuyện kể về quận công Nguyễn Khải ở Cổ Bôn nhiều nhất là chuyện ông Đăng bắc cầu Ngọc Khê.
Cầu Ngọc Khê bắc qua dòng Phồn Giang, nối liền bốn làng Bôn. Phía trên là cầu Long Nhĩ nối liền hai làng Phúc Thọ và Ngọc Đôi. Đăng quận công cho rằng cầu Ngọc Khê là trung tâm của đất Cổ Bôn nên ông chọn sửa chữa bắc cầu Ngọc Khê nhưng khi hỏi đến số gỗ để bắc cầu thì chỉ có một cây gỗ sến nên hiệp thợ nào cũng lắc đầu xin cáo lui.
Về sau có một cậu bé chừng mười ba tuổi, tóc còn để hai trái đào đến gặp Đăng quận công để xin làm cầu. Như mọi lần trước. Đăng quận công chỉ vào cây gỗ sến và hỏi chú bé:
- Chỉ có một cây gỗ này, đủ bắc một cây cầu đẹp.
Chú làm được chứ?
Chú bé quả quyết nhận lời!
- Bẩm ngài: Có thể đủ bắc cầu ạ, nếu khéo có thể còn thừa là khác.
Đăng quận công ngạc nhiên hỏi lại?
- Người làm bằng cách nào?
- Bẩm ngài đây là cây gỗ sến, loại gỗ này làm vỏ bào tốt lắm. Khéo tận dụng chắc chắn là thừa ạ.
Không ngờ cậu bé đoán đúng ý mình. Đăng quận công khen ngợi và sai thưởng ngay cho chú bé 100 quan tiền.
Đăng quận công hỏi thêm:
- Ta muốn bắc cầu 13 nhịp, vừa có chỗ đi lại vừa có chỗ nghỉ ngơi ngắm cảnh, trong vòng 10 tháng có thể xong được không?
- Bẩm ngài chúng tôi chỉ xin 5 tháng.
- Hiệp thợ bao nhiêu người?
- Bẩm ngài, hiệp thợ của chúng tôi đông lắm nhưng chỉ xin 10 người. Thợ giỏi làm nhanh ít tốn gỗ.
- Được, vậy khi nào khởi công?
- Bẩm ngài, hôm nay tốt ngày xin được khởi công ngay.
Buổi trưa hiệp thợ kéo đến chỉ có 10 người thợ bạn và người thợ cả chính là chú bé 13 tuổi. Đăng quận công cho mổ lợn thết đãi và cho bắc cầu. Người thợ cả tự tay cưa cây gỗ sến làm vỏ bào rồi xin giấy bút vẽ cây cầu 13 nhịp cho Đăng quận công xem, ngài rất làm vừa ý.
Chưa đầy năm tháng sau, hiệp thợ đã làm xong cây cầu, tiếng đồn cầu đẹp náo nức gần xa. Khắp nơi nhân dân kéo đến chiêm ngưỡng cây cầu và trầm trồ thán phục tài năng của hiệp thợ. Đăng quận công cho dựng rạp ngay cạnh đầu cầu để tổ chức ăn mừng. Hiệp thợ được mời lưu lại mười ngày ăn chơi cùng vui với dân làng. Ngày hồi công thợ, rượu ngà say Đăng quận công nói “Đây là hiệp thợ giỏi nhất” nói đoạn ngài vung kiếm múa. Người thợ cả nghĩ đến chuyện xưa kia những người thợ giỏi hay bị giết để giữ công trình độc nhất vô nhị, sợ hãi quá liền bỏ chạy. Phùng Khắc Khoan là bạn vong niên của Nguyễn Văn Nghi đã được mời làm bài ký về việc bắc cầu Ngọc Khê. Dòng Phồn Giang không còn được như xưa, cầu Ngọc Khê nay chỉ còn dấu tích nhưng nhân dân vẫn còn nhiều người nhớ được bài ký của Phùng Khắc Khoan về cây cầu này.
Trần Thị Liên
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét