Thứ Hai, 15 tháng 4, 2019

Núi và đền Đồng Cổ - một vùng non nước hữu tình

 - Nằm trên đường thiên lý Bắc - Nam nối đồng bằng châu thổ sông Hồng và đồng bằng sông Mã cách thành phố Thanh Hóa về phía tây khoảng 40km, theo Quốc lộ 45, Khu di tích Núi và đền Đồng Cổ thuộc xã Yên Thọ, huyện Yên Định, từ xa xưa cho đến hôm nay không chỉ được xem là một danh sơn độc đáo với hình dáng núi giống ba ngôi sao thanh tú như nét vẽ nhấp nhô trên nền trời xanh thẳm, mà nơi đây còn là một trung tâm tín ngưỡng lớn thờ thần Đồng Cổ Đại vương nổi tiếng của đất nước, đã đi vào thi ca “Non thai sông Mã nước in mây, Hun đúc vẻ thiêng khoảnh đất này; Lồng lộng cao đài hồn quỷ trốn; Vang lừng không phận, khách man bay”.

 Đền Đồng Cổ ở thôn Đan Nê, xã Yên Thọ, Yên Định, Thanh Hóa.jpg
Đền Đồng Cổ ở thôn Đan Nê, xã Yên Thọ, Yên Định, Thanh Hóa.
Một vùng non nước hữu tình
Lần giở lại những trang sử cũ, cho biết Núi và đền Đồng Cổ thờ vị thần Đồng Cổ Đại Vương, thuộc thôn Khả Lao, xã Đan Nê, tổng Đan Nê, phủ Thiệu Thiên (nay là xã Yên Thọ, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa). Đây là vùng đất nổi tiếng đẹp đẽ bởi cảnh vật và sông núi hữu tình, sách Đại Nam nhất thống chí chép: “Núi Đồng Cổ có tên nữa là Khả Lao ở cách huyện Yên Định 16 dặm về phía tây; núi nổi lên ba ngọn đá cao thấp liền nhau, như hình dáng ba vì sao, nên gọi là núi Tam Thai. Phía tả núi có đền thần, trong đền có một cái trống bằng đồng, nặng chừng 100 cân, đường kính phỏng 2 thước 1 tấc, chiều cao phỏng 1 thước 5 tấc, một mặt trống rỗng, một mặt có chín vòng tròn, ở giữa mặt trống có cái rốn tròn, chung quanh lưng trống là hình hồi văn chữ “vạn”, bên cạnh có văn chữ như hình văn tự khoa đẩu. Tương truyền cái trống này chế từ thời Hùng Vương”(1). Sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú thì chép kỹ hơn về lịch sử: “Núi Đồng Cổ ở xã Đan Nê, huyện Yên Định, thần núi rất thiêng. Thời Lý Thái Tông đi đánh Chiêm Thành, đậu thuyền ngủ tại bãi Trường Châu, thần núi báo mộng xin theo đi để lập công. Đến khi đánh được nước Chiêm về, Thái Tông sai lập miếu ở kinh sư. Khi Thái Tông lên ngôi, lại báo mộng cho biết việc ba vương mưu làm phản. Khi đã dẹp yên nạn ấy rồi, ban chiếu phong làm “Thiên hạ minh chủ thần”, tước vương”(2). Còn sách Thanh Hoá tỉnh chí lại chép rằng: “Đền thần núi Đồng Cổ ở xã Đan Nê, huyện Yên Định. Truyền rằng vua Lê Đại Hành đi đánh Chiêm Thành đóng quân ở dưới núi Khả Lao. Đêm nằm mộng thấy người thần mình mặc áo giáp đội mũ, nói xin cho được trống đồng dùi đồng để trợ chiến. Vua ban cho. Đến khi đánh nhau với giặc nghe trên không mơ hồ có tiếng kiếm kích. Quả nhiên thắng địch hoàn toàn, mới đổi tên núi ấy là núi Đồng Cổ (trống đồng) và phong thần ấy làm sơn thần”(3).
Về cảnh trí và sự tích của núi Đồng Cổ, sách Tam Thai sơn linh tích (sự tích núi Tam Thai - tức núi Đồng Cổ) của Lam Kiều Nguyễn Dật Sáng (giữa thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX) đã mô tả khá đầy đủ, chi tiết và thú vị:
...“Núi có ba ngọn, giống như sao Tam Thai nên gọi là Tam Thai (gồm núi Xuân, núi Nghễ và núi Đổng), còn gọi là núi Đồng Cổ (trống đồng) nữa. Ngọn bên tả... hơi dài mà thấp. Miếu thờ nhân gò núi mà đắp nền, dựa đá mà làm vách, óng ánh kéo dài, trông đến rợn người. Trước miếu có cây tùng, cây bách xanh biếc lâu đời, cao chót vót lưng trời, có nhiều hoa quả lạ kỳ, thơm ngát. Đi xa cách hơn trăm bước, thấy hai ngọn núi đứng sững hai bên. Tầng cửa thứ ba ở giữa theo bên trái cửa đi xiên đường đá, qua hòn đá âm dương, lên từng bước, từng bậc lên ngọn giữa lưng chừng. Ngọn núi giữa có chùa Thanh Nguyên, còn gọi là chùa Dớng. Phía bắc chùa có bậc đá cheo leo, túm dây cỏ đi lên, phía trên đá ngày xưa có quán Triều Thiên, nền cũ hãy còn. Đứng đây cúi nhìn xuống dưới thấy có dòng sông quấn quýt chạy quanh co ôm lấy núi. Tiếng hát câu ca vọng tới đỉnh núi. Bóng người hái củi dọi xuống đến dòng sông, thường thường có chiếc thuyền nhẹ buông câu, khi ẩn khi hiện giữa khoảng sóng nước và khơi mù. Đặt mắt bốn bề thấy cảnh sắc như vẽ. Trong từng cửa thứ hai, có hồ bán nguyệt. Hồ dựa vách núi làm bờ. Mùa hè, mùa thu đầy những cỏ phù cừ, hãm hãm. Đứng xa trông đẹp như gấm. Hồ có lỗ hổng, nước chảy thông qua chân núi ra đến sông. Sông về mùa thu, nước lụt cùng mực nước trong hồ ngang bằng nhau. Sóng ánh lấp lánh, bóng mặt trời, mặt trăng khi ẩn khi hiện trong đó. Trước cửa tầng thứ ba có chợ buổi sáng, còn chợ buổi chiều thì ở đằng sau miếu. Ở dưới có bến đò cổ, người buôn bán tấp nập, thuyền bè đậu như rừng. Đây cũng là một nơi đô hội của Ái Châu. Cổ nhân nói “Núi Đồng Cổ là một nơi tai mắt của nước non huyện nhà”, với 10 cảnh đẹp:
1. Xuân sơn tiên động (Động tiên non xuân);
2. Ngực lĩnh vân nham (Chùm mây núi thẳm);
3. Cổ miếu lâu đài (Lâu đài miếu cổ);
4. Phạm lâm chung cổ (Chuông trống rừng thuyền);
5. Sơn lộc nguyệt trì (Hồ trăng bên núi);
6. Thôn tiền cổ độ (Bến cổ trước làng);
7. Hoành giang mục phố (Vũng nghé ngang sông);
8. Cách ngạn ngư châu (Thuyền chài cách bến);
9. Thướng há thương phàm (Mảnh buồm cao thấp);
10. Hiểu tịch thôn thị (Chợ xóm sớm chiều).
Cho đến hôm nay, trải qua biết bao biến động của thời gian, lịch sử, sự tàn phá của chiến tranh và thiên nhiên ác liệt, di tích và thắng cảnh Đồng Cổ không còn được nguyên vẹn như xưa. Đặc biệt là các công trình kiến trúc cổ đẹp đẽ được xây dựng từ thời Lý - Trần - Lê - Nguyễn mà bia ký, sử sách xưa mô tả  chỉ còn trong ký ức. Nhưng ở đây cảnh sắc núi non, cây cối, làng mạc, mây trời và sông nước của Đồng Cổ - Tam Thai thì vẫn còn nguyên những sắc hình thơ mộng và hấp dẫn hòa vào những xóm làng Việt cổ trù mật trong vùng.
Đến với Đồng Cổ hôm nay, chúng ta vẫn còn thấy dấu tích của quán Triều Thiên trên đỉnh núi, hồ bán nguyệt và cổng Nghinh môn bằng đá cùng với những hang động được nối thông từ hồ ra sông Mã. Cũng trên đỉnh Triều Thiên, chúng ta như bị lạc vào thế giới của bồng lai tiên cảnh; từ đây nhìn xuống dòng sông xanh, thấy nhiều phiến đá lô nhô dựng lên thành vô số những hình thù kỳ dị, hòa vào cảnh sắc thuyền bè ngược xuôi dập dìu. Cũng từ đỉnh cao Triều Thiên, dõi nhìn bốn hướng, du khách có thể cảm nhận được cả một vùng đất trời, làng mạc, núi sông ở quanh đây như một bức tranh vẽ hoàn hảo, lung linh với đủ mọi sắc màu, trong lúc ban mai, hay lúc chiều tà.
Nhìn chung, Núi và đền Đồng Cổ là một thắng cảnh nổi tiếng của đất nước với vẻ đẹp sơn thủy hữu tình đã làm rung động lòng người với một tinh thần "Cố quốc anh minh sơn hữu chủ, Tràng châu hiển mộng thủy vô ba".
Một điện thờ có lịch sử hàng nghìn năm
Trong một tấm bia thời Tây Sơn do Nguyễn Quang Bàn (con trai của vua Quang Trung) soạn năm 1802 cho rằng: Núi và Đền Đồng Cổ là "Một di tích thiêng liêng hiển hách vào bậc nhất tỉnh Thanh Hóa". Đặc biệt, ông cũng đánh giá cao trống Đồng là di vật điển hình nhất của nền văn hóa Đông Sơn - buổi bình minh của dân tộc, nó là vật thiêng biểu trưng cho linh hồn dân tộc, phản ánh đời sống vật chất cũng như sức mạnh tinh thần của dân tộc ta trong lịch sử dựng nước và giữ nước. Thần Đồng Cổ là vị thần có công lớn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước từ thời các vua Hùng. Tương truyền: ngày xưa vua Hùng đi đánh Chiêm Thành trú quân ở dưới núi, đêm mộng thấy thần hiện lên xin cho đem trống đồng theo quân trợ chiến. Khi lâm trận vua Hùng nghe như có tiếng trống vang trên không trung. Thắng trận trở về vua Hùng phong cho thần là Đồng Cổ Đại Vương. Vào năm 956 Thập Đạo tướng quân Lê Hoàn đi dẹp giặc Chiêm Thành ở phương Nam, khi đến sông Bà Hoà, Tĩnh Gia gặp mưa to, gió lớn thuyền bè không đi được. Thần Đồng Cổ hiện lên báo mộng và giúp sức, Lê Hoàn chắp tay tế lạy, trời liền quang mây, gió liền ngưng thổi. Đoàn thuyền tiếp tục Nam tiến, thắng trận trở về. Sau khi lên làm vua, Lê Hoàn đã đến đền tạ lễ và đề thơ:
Long Đình tích hiển Tam Thai lĩnh,
Mã thuỷ Thanh lai Bán nguyệt hồ.
Khi Lý Thái Tổ mất, thái tử Phật Mã chưa kịp lên ngôi thì ba vương Vũ Đức, Đông Chinh, Duệ Thánh mưu khởi loạn để giành ngôi. Âm mưu bại lộ, thái tử được Lê Phụng Hiểu giúp sức dẹp yên ngay được.  Phật Mã lên ngôi (tức Lê Thái Tông) nhận rằng trước đó một hôm đã được thần núi Đồng Cổ báo mộng cho biết. Nhân đó sai rước bài vị ở chân núi Đồng Cổ thuộc xã Đan Nê - Thanh Hóa về Kinh đô, sai dựng đền ở sau chùa Thánh Thọ (phường Yên Thái) để phụng thờ. Trải qua các triều đại đền thờ thần Đồng Cổ xã Đan Nê được coi là đền Chính. Mùa xuân hàng năm và những lúc xuất quân, tướng sĩ tập hợp đội ngũ trước đền làm lễ thề, bày tỏ lòng trung thành với vua. Năm Canh Thân niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 8 (1800) triều Tây Sơn, hoàng đệ Tuyên Công (em vua Nguyễn Quang Toản) làm Trấn thủ Thanh Hóa tìm được chiếc trống đồng cổ ở bờ sông đem trả về thờ trong đền.
Việc tế lễ thần núi ở làng Đan Nê theo sử cũ ghi chép thì việc tế lễ ở đây không nhiều, mỗi năm chỉ có một lần lễ lớn tại đền Đồng Cổ vào ngày 15 tháng 3 Âm lịch. Theo lệ cũ ở làng Đan Nê hàng năm tế xuân các xã trong tổng dâng lễ Thái Lao gồm 2 bàn dê, lợn, bò để cúng tế vào đền.
Vào năm Nhâm Tuất (1682) thời Lê Hy Tông, quan huyện cũ không theo lệ cũ mà phân cho các xã thôn tế riêng ở các đền, chỉ lưu 3 xã làm lễ tế nhỏ ở đền Đồng Cổ. Sau này, ông Trịnh Minh Lương làm giám sát ngự sử đạo Lạng Sơn, vốn là người Đan Nê đã bẩm tấu lên chúa Trịnh Tạc về việc thay đổi việc cúng lễ ở đền. Tham chính sử Thanh Hóa là Nguyễn Viết Dương và tham nghị Nguyễn Xuân Bính xem xét là đúng bẩm lên, chúa cho theo lệ cũ.
Khi tế xong, các bô lão trong làng lại rước kiệu về đình Phúc vào hội làm lễ tất. Kết thúc cuộc đại lễ.
Như vậy, trước đây ở đền Đồng Cổ việc tế tự chỉ diễn ra có một lần đại lễ trong một năm vào ngày 15 tháng 3 Âm lịch. Nghi thức tế thần ở nhà Tiền đường của đền thờ. Lễ vật tế thần dâng lễ Thái Lao (dê, lợn, bò), tức là tế theo quy định của vương giả và có tổ chức rước kiệu từ Đình Phúc về đền.
Tóm lại, đền Đồng Cổ đã có lịch sử xây dựng và tồn tại hàng nghìn năm. Trải qua những thăng trầm của lịch sử, hầu hết các hạng mục công trình đã bị đổ nát. Các vua từ thời Lê đến Quang Trung đều đã bỏ sức để tu bổ, tôn tạo nhiều lần. Tuy nhiên đến nay, chỉ còn cổng Nghinh môn có niên đại vào cuối triều Lê đầu thời Nguyễn, kiến trúc theo kiểu tò vò bằng đá được bảo tồn tương đối nguyên vẹn. Năm 2008, hạng mục Đền Chính của đền Đồng Cổ cùng với một số hạng mục khác của khu di tích đã được phục hồi, tôn tạo lại, đáp ứng được lòng ngưỡng mộ của du khách xa gần. Và thần Đồng Cổ đại vương (Trống Đồng) vẫn được người dân muôn nơi coi là linh vật quý: "Trống đồng dội tới, Núi sông dậy sấm anh hùng! Trống đồng vang lên, Trời đất ngút ngàn linh khí"(4).

(1) Đại Nam nhất thống chí, tập II, S.đ.d, tr. 297.
(2) Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, NXB Sử học, Hà Nội, 1960, tr. 14.
(3)  Thanh Hoá tỉnh chí, tập III, S.đ.d, tr. 14.
(4) GS. Vũ Khiêu.
TS. Phạm Văn Tuấn

Đền Đồng Cổ - từ phủ Thanh Hóa đến kinh đô Thăng Long

 - (VH&ĐS) Thăng Long - Đông Đô Hà Nội không chỉ là nơi lắng hồn núi sông ngàn năm mà còn là nơi hội tụ khí thiêng đất Việt. Trong hệ thống thần điện của kinh thành Thăng Long xưa có sự góp mặt của thần linh bốn phương. Trong số những vị thần linh ấy, thần Đồng Cổ là một trong những vị thần linh có vị trí quan trọng ở kinh thành Thăng Long.

 dongco.jpg
Đền Đồng Cổ ở phường Bưởi, quận Tây Hồ - Hà Nội.
Từ đền Đồng Cổ phủ Thanh Hóa
Trong tâm thức người Việt: Trống đồng - di vật tiêu biểu cho tài năng trí sáng tạo của tổ tiên ta thời kỳ dựng nước đầu tiên là vật thiêng. Việc tôn thờ thần Đồng Cổ xuất hiện khá sớm ở nhiều nơi.
Chỉ tính ở khu vực đồng bằng hạ lưu sông Mã - một trung tâm của văn hóa Đông Sơn đã có tới hai nơi có đền Đồng Cổ: Một đền thờ thần Đồng Cổ ở hạ lưu sông Mã thuộc xã Hoằng Minh, huyện Hoằng Hóa và một đền thờ thần Đồng Cổ ở Đa Nê (Yên Định). Ngoài hai nơi có đền thờ ra, trống đồng có vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của người dân. Trong lễ hội của dân tộc Mường ở Thanh Hóa, “mo trống đồng” là hình thức sinh hoạt văn hóa quan trọng trong lễ hội truyền thống của người Mường.
Đền thờ thần Đồng Cổ ở Hoằng Hóa có quy mô nhỏ, theo lời truyền văn được rước từ Đa Nê (Yên Định) về.
Đền thờ thần Đồng Cổ ở làng Đa Nê, xã Yên Thọ, huyện Yên Định được tạo dựng ở một vị trí linh địa. Sông núi và huyền thoại đã làm cho thần  điện thêm phần kỹ vĩ. Nét đặc biệt là đền thờ tọa lạc ngay trên một di tích văn hóa Đông Sơn. Tại đây đã phát hiện được nhiều trống đồng lớn. Có thể sự tồn tại của làng cổ Đông Sơn, trống Đông Sơn tại chốn thắng địa này là cơ sở cho việc ra đời huyền thoại về đền Đồng Cổ sơn thần. Sách Đại Nam Nhất Thống Chí cho biết: Tỉnh Thanh Hóa có đền Đồng Cổ sơn thần ở núi “Đồng Cổ”.
Đền Đồng Cổ được trùng tu nhiều lần, dấu tích vật liệu kiến trúc (gạch ngói) còn lại cho thấy đền được trùng tu vào thời kỳ Lê, Nguyễn. Tấm ảnh tư liệu đền Đồng Cổ thời Nguyễn cho thấy ngôi đền có quy mô tương đối lớn, bề thế.
Trong tâm thức người dân ở đây, thần Đồng Cổ là vị thần “Hộ dân bảo quốc”. Việc tế lễ được tiến hành kính cẩn, trang nghiêm. Lễ hội đền Đồng Cổ là một trong những lễ hội lớn trong khu vực.
Đền Đồng Cổ hiện nay dựng trên dấu tích xưa. Đã được xếp hạng là di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.
Đến miếu Đồng Cổ và lễ minh thệ ở kinh thành Thăng Long thời Lý
Do thần Đồng Cổ có công giúp vua Lý Thái Tổ đánh giặc Phương Nam và báo mộng giúp vua Lý dẹp loạn Tam Vương nên vua nhà Lý đã cho rước thần Đồng Cổ từ Phủ Thanh Hóa về kinh thành Thăng Long.
Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết: Vua Thái Tông năm 1028 phong tước vương cho thần núi Đồng Cổ, dựng miếu để tứ thời cúng tế và làm lễ thề, xuống chiếu “giao cho Hữu ty dựng miếu ở hữu thành Đại La, sau chùa Thanh Thọ” (nay là làng Bười, phường Yên Thái cũ, trên bờ phía trái sông Tô Lịch, giáp với thành đất Đại La), triều đình lấy ngày 25 tháng 3 làm ngày tổ chức lễ minh thệ. Sau vì tháng 3 có ngày quốc kỵ nên chuyển sang ngày 4 tháng 4.
Theo truyền thống, nhà Trần cũng tổ chức lễ minh thệ như việc cũ của nhà Lý. Nhà sử học Phan Huy Chú trong Lịch Triều hiến chương loại chí cho biết: Hàng năm lấy ngày 4 tháng 4, quan tể tướng và các quan từ gà gáy đến ngoài cửa thành, tờ mờ sáng vào chầu; vua ngự ra cửa Hữu lang của điện Đại Minh, các quan mặc quân phục lạy 2 lạy, lui ra rồi sắp đội ngũ nghi trượng và quân hầu đi ra cửa tây đến đền Đồng Cổ cùng nhau uống máu ăn thề. Quan quân đội ngũ chỉnh tề đọc lời thề rằng: “Làm tôi hết lòng trung thành, làm quan thanh bạch, không giữ lời thề, thần minh chu diệt”. Đọc xong lời thề, quan tể tướng đóng cửa, kiểm điểm các quan, ai vắng mặt phạt 5 quan tiền” Việc tổ chức minh thệ ở kinh thành Thăng Long thời Trần là việc trọng đại, dân chúng đi xem chật đường.
Đời hậu Lê, lễ minh thệ cũng được tiến hành với nghi thức khác hơn vào sau Tết Nguyên Tiêu (rằm tháng Giêng).
Thần Đồng Cổ là vị thần ở đất “Trại” phương Nam, “Phủ” Thanh Hóa là vị thần đầu tiên được đích thân vua Lý Thái Tông rước về kinh thành Thăng Long, việc này đã đặt ra nhiều vấn đề có liên quan đến hệ thống thần điện đất kinh kỳ Thăng Long. Đằng sau bức màn hư ảo của huyền thoại Thần Đồng Cổ giúp vua Lý đánh giặc, dẹp loạn cung đình, thống nhất vương triều cho thấy việc định đô ở chốn trung tâm của đất nước, mưu việc lớn là việc thuận lòng dân và thuận “lòng thần”. Rồng thiêng bay lên, thần linh phương xa về “phù trợ” là điềm lành cho đất Thăng Long.
Việc thần Đồng Cổ tham gia hệ thống thần điện Thăng Long và trở thành “quốc thần” có vai trò quan trọng đối với các vương triều cho thấy phần nào sức cuốn hút, quá trình hội nhập và sự thống nhất văn hóa của vùng đất Thăng Long từ buổi đầu định đô nghìn năm trước.
Mạnh Hà

Nghìn năm linh thiêng đền Đồng Cổ

 - (VH&ĐS) Đền Đồng Cổ (đền thờ thần Trống Đồng) tọa lạc tại chân núi Khả Lao, làng Đan Nê (xã Yên Thọ, Yên Định, Thanh Hóa). Núi Khả Lao có nhiều tên gọi khác như Kẻ Lao, Khả Nãi, Khả Phong, Đan Nê. Núi có ba ngọn núi nằm quây tròn lại với nhau như hình một bông hoa trà xòe ra ba cánh, nằm dựng đứng sát bờ sông Mã, trên bến Trường Châu xưa, trông rất đẹp nên núi còn có một tên khác là Tam Thái Sơn hay núi Tam Thai.


 2.JPG
Tên làng Đan Nê cũng có nhiều lý giải. Tên cổ là Kẻ Lao, rồi Khả Lao. Đền thờ gốc ở Đan Nê nằm dưới một chân núi trong Tam Thái Sơn hướng về phía Tây Nam nhìn ra một khu đất rộng, có hồ bán nguyệt ở giữa, tạo phong cảnh sơn thủy hữu tình. Trước cửa đền, bên kia hồ bán nguyệt, có hai tấm bia trên vách đá núi Xuân. Một tấm bằng chữ Hán khắc lại bài văn bia do Nguyễn Quang Bàn, con vua Quang Trung, viết năm 1802, ca ngợi phong cảnh sơn thủy hữu tình nơi đây, và kể lại chuyện một chiếc trống đồng cổ được tìm thấy rồi cúng tiến vào đền. Tấm kia bằng tiếng Pháp, khắc năm 1889, nội dung chép lại bài văn dân làng Ðan Nê tỏ lòng sùng kính với ngôi đền. Còn tấm bia chữ Hán chép rằng, năm Canh Tuất (1790) Tuyên công Nguyễn Quang Bàn vâng mệnh vua cha vào làm quan đặc sai đốc trấn Thanh Hóa. Một đêm, ông nghỉ tại làng Ðan Nê, có vào cầu khấn trong miếu thờ Ðồng Cổ Sơn Thần. Sau đó ứng nghiệm bằng việc ông bỗng thấy bên bờ Nam sông Mã xuất lộ một chiếc trống đồng cổ rộng 9 thước, cao 4 thước. Có luận giải rằng đây là chiếc trống đồng năm xưa đã giúp vua Hùng đánh giặc loạn xâm vùng này. Năm Nhâm Tuất (1802) lại có dịp đi qua miếu, Nguyễn Quang Bàn sai đem chiếc trống đồng tìm được dạo trước hiến cho đền, đồng thời viết bia (lúc đó là bia gỗ) ghi lại để đời sau được rõ. Có một bài báo nói rằng, một người trong đoàn ngoại giao nước ta khi vào Bảo tàng Paris, Pháp thấy nguyên bản chiếc trống đồng có đề trống đồng Đan Nê Thanh Hóa, năm 1932. Ông đã chụp lại ảnh và sau này đúc một trống đồng theo mẫu ấy dâng tặng đền Đồng Cổ.
Theo những người cao tuổi trong làng Ðan Nê, đền Ðồng Cổ từng có 38 gian, bề thế tựa lưng vào Tam Thái Sơn. Đền có Nghinh môn gồm 3 tầng, 8 mái, mang phong cách kiến trúc thế kỷ 15 (thời Lê), cao 9m, rộng 3m, được ghép bằng những khối đá vuông vức (không dùng vữa), cuốn thành vòm tò vò. Ngày xưa, xung quanh ba ngọn núi đá bao quanh đền là rừng cây nguyên sinh rậm rạp, nhiều cây to, có nhiều chim, thú. Nhưng, qua biết bao biến đổi, nay chỉ còn những ngọn núi đá với cây mọc tái sinh tầng thấp. Thời kháng chiến chống Pháp, binh công xưởng Nguyễn Công Cậy sản xuất vũ khí ngay trong hang động Ích Minh, ngọn núi bên phải của đền. Khi quân Pháp phát hiện ra vị trí công binh xưởng Ích Minh, chúng đã cho máy bay ném bom san phẳng cả đền Ðồng Cổ. Những di tích nguyên gốc còn lại đến nay, ngoài hai tấm bia kể trên, chỉ còn chiếc miếu nhỏ lưng chừng đỉnh núi Xuân, và Nghinh môn nằm ở phía Tây ngôi đền.
Năm 2001, đền Đồng Cổ được Nhà nước cấp bằng công nhận di tích Lịch sử Văn hóa cấp Quốc gia. Năm 2007, UBND tỉnh Thanh Hóa đã phê duyệt Dự án đầu tư xây dựng, bảo tồn, tôn tạo núi và đền Đồng Cổ theo 2 giai đoạn với tổng kinh phí dự toán hơn 35 tỷ đồng. Ngày 4/7/2008 khởi công xây dựng các hạng mục công trình: Tu bổ và tôn tạo Nghi Môn, Quán Triều Thiên, Tiền Điện và Thượng Điện, trong đó Thượng Điện là hạng mục chính. Sau hơn 1 năm xây dựng, ngày 15/8/2009 hoàn thành giai đoạn I với nguồn vốn hỗ trợ đầu tư đợt 1 (15 tỷ đồng) của UBND TP Hà Nội và Ban chỉ đạo Quốc gia 1000 năm Thăng Long - Hà Nội. Một số hạng mục chính yếu của khu di tích đang rất cần được nâng cấp tôn tạo hoàn chỉnh như: Bàn cờ tiên trên đỉnh núi, chùa Thanh Nguyên, bến Trường Châu, Tiền Điện, Nghinh Môn... Hệ thống đường vào đền, đường quanh hồ bán nguyệt, đường lên núi, khu dịch vụ du lịch cũng cần được xây dựng, nâng cấp xứng tầm với giá trị và quy mô của khu di tích này.
 1.JPG
Rước trống đồng trong lễ hội đền Đồng Cổ. (Ảnh: Nguyễn Đạt)
Căn cứ vào các tư liệu lịch sử, sách Lịch sử Đảng bộ xã Yên Thọ 1930 - 2010, phần viết về Làng Đan Nê có ghi: “Tương truyền, đời vua Hùng vương thứ nhất (938 TCN), khi nhà vua đi chinh phạt quân giặc Hồ Tôn ở phương Nam đã cho quân dừng lại ở chân núi Khả Lao Thôn. Đêm đến, nhà vua chiêm bao thấy có một thần tự xưng là thần miếu Khả Lao Thôn xin được mượn trống đồng và dùi đồng để giúp nhà vua đánh giặc. Khi tỉnh giấc, nhà vua sai quân lính mang trống đồng và dùi đồng cho thần miếu Khả Lao Thôn. Quả thực, khi xung trận, tiếng trống đồng vang lên văng vẳng trên không trung khiến quân giặc hoảng loạn, hồn xiêu phách lạc. Thắng trận trở về, vua Hùng vào tạ lễ ở miếu Khả Lao Thôn và ban phong cho thần miếu Khả Lao Thôn là Đồng Cổ Đại Vương (tức thần trống đồng) và là vua của các thần. Sau đó nhà vua cho đúc trống đồng, dùi đồng để thờ trong miếu. Tên miếu Khả Lao Thôn có từ đó và đến nay được gọi là đền Đồng Cổ”.
Xét về mặt niên đại, đền Đồng Cổ, Đan Nê có thể được xem là ngôi đền có tuổi lâu đời nhất Việt Nam hiện còn đến ngày nay (hơn 2.500 tuổi). Núi Đan Nê có đền thờ Thần Trống Đồng gọi là núi Đồng Cổ. Năm 986, thần Đồng Cổ lại hiển linh giúp Lê Hoàn đánh giặc Chàm ở phương Nam tại sông Ba Hòa, Tĩnh Gia, Thanh Hóa. Thắng trận, Lê Hoàn tạ ơn và ghi cho đền câu đối: “Long đình tích hiển Tam Thanh lĩnh/ Mã thủy Thanh lai Bản Nguyệt Hồ”. Sách “Việt điện U Linh” (NXB Văn hóa năm 1960) của Lý Tế Xuyên (thế kỷ XIV) chép một đoạn về Lý Thái Tông, đại ý: Phụng mệnh vua cha là Lý Thái Tổ, Thái tử Lý Phật Mã (sau này là vua Lý Thái Tông) đem binh đi đánh Chiêm Thành (1020), đến Trường Châu (núi Khả Lao ở làng Đan Nê) đóng quân tạm nghỉ. Canh ba đêm ấy, thấy một người thân cao 8 thước, mắt sáng, râu rậm, mặc chiến bào, tay cầm kim khí, đến trước cúi đầu tâu rằng: Tôi là thần Đồng Cổ, nghe tin Thái Tử đi đánh giặc phương Nam, tôi xin theo giúp để phá giặc lập công. Thái tử vỗ tay khen ngợi rồi tỉnh giấc. Quả nhiên, theo lời Đồng Cổ Sơn Thần, vua cho quân tiến đánh giặc Chiêm Thành, giành thắng lợi. Khải hoàn, về qua Trường Châu, Thái tử bèn sai quân sĩ sửa sang miếu thần thành đền thần, rồi tạ lễ và rước bài vị về kinh đô để dựng đền thờ cầu cho quốc thái dân an. Đền Đồng Cổ chính thức có từ đây.
Về đến Thăng Long, văn võ bá quan và các thầy phong thủy còn đang chọn đất lập đền thì ban đêm Thần lại báo mộng: “Xin lập đền ở bên hữu, trong Đại La thành, sau chùa Thánh Thọ”. Thái Tử theo lời, cho hưng công xây dựng. Không bao lâu đền dựng xong (nay làđền Đồng Cổ (Hà Nội). Đền được xây ở nơi gặp nhau của sông Thiên Phù và sông Tô Lịch thuộc làng Đông Xá (nay là số 353 đường Thụy Khuê, quận Tây Hồ, Hà Nội). Đến khi Lý Thái Tổ mất, Lý Thái Tông lên nối ngôi, đêm mộng thấy thần đến báo rằng: “Ba vị vương em vua mưu làm phản, định đem giáp binh đến, xin nhà vua nên kịp đề phòng!”. Vua thức dậy còn chưa tin, đến sáng mới thấy việc xảy ra đúng như lời thần báo. Vua lấy làm lạ, xuống chiếu phong thần làm “Thiên hạ minh chủ, gia tước đại vương”.
Nói về việc thờ phụng, tế lễ đền Đồng Cổ, Đan Nê, theo cổng thông tin điện tử huyện Yên Định: “Năm 1028, vua Lý Thái Tổ băng hà, Thái tử Lý Phật Mã chưa kịp lên ngôi thì xảy ra loạn Tam vương. Các hoàng tử Vũ Đức, Đông Chính và Dực Thánh khởi loạn giành ngôi báu. Từ vụ dẹp xong tạo phản, vua càng tin vào sự linh thiêng của thần Đồng Cổ, xuống chiếu giao cho quan hữu ty dựng đền thờ tại Thăng Long vào năm mới lên ngôi sau chùa Thánh Thọ (1028), lấy ngày 25/3 dựng đàn thề. Sau đó vì tháng 3 có ngày Quốc kị nên chuyển sang ngày mùng 4/4 hàng năm. Nhà vua ban chiếu lập đàn treo cờ tại đền Đồng Cổ, bắt các hoàng thân quốc thích và tất cả triều thần tới đền, đứng trước thần vị, đọc lời thề rằng: “Làm con phải hiếu, làm tôi phải trung; ai bất trung bất hiếu, thì xin thần minh làm tội".Hội thề này được duy trì suốt thời Lý qua thời Trần. Sau đó, Hồ Quý Ly giành ngôi nhà Trần, chuyển đô vào thành Tây Giai Thanh Hóa. Hội thề được khôi phục, tổ chức ở núi Đún (tức Đốn Sơn, nằm phía ngoài chính môn của thành Tây Đô, gọi là Hội thề Đốn Sơn. Năm 1399, Trần Khát Chân cùng Thái bảo Trần Nguyên Hãn và một số vương hầu nhà Trần mưu sát Hồ Quý Ly trong Hội thề Đốn Sơn nhưng không thành. Hồ Quý Ly cho bắt, giết hơn hai trăm bảy quần thần. Cho rằng Hội thề không còn thiêng nữa, Hồ Quý Ly tuyên bố bỏ hội thề. Nhưng các triều đại sau như nhà Hậu Lê, Lê - Mạc; Trịnh - Nguyễn, Hội thề lại được khôi phục, duy trì như một minh chứng cho lòng trung quân ái quốc.
Như vậy trong lịch sử dựng nước, giữ nước thời phong kiến, nước ta có hai hội thề tầm cỡ Quốc gia của các bậc vua chúa, đó là lời thề của Thục Phán An Dương Vương khi được Vua Hùng nhường ngôi lời thề ghi cột đá thề trên núi Nghĩa Lĩnh và Hội thề đền Đồng Cổ. Theo PGS Trịnh Sinh, hiện nay ở nước ta có hai địa phương thờ thần Trống Đồng là Thanh Hóa và Hà Nội. Ở Hà Nội có bốn di tích thờ thần Trống Đồng, lớn nhất là đền Đồng Cổ phường Bưởi (quận Tây Hồ), ba di tích khác đều nằm trong phường Minh Khai, Từ Liêm. Theo thần phả của đền Đồng Cổ làng Nguyên Xá, từ những năm bốn mươi, thế kỷ I, đầu công nguyên, nhân dân làng Khả Lao Thôn (tức làng Đan Nê, Yên Thọ) có nhiều nghĩa sĩ khi nghe Hai Bà Trưng khởi nghĩa, đã rước theo linh vị thần Đồng Cổ ở núi Khả Lao đi tụ nghĩa với nghĩa quân Hai Bà Trưng ở Mê Linh. Khi đến làng Nguyên Xá, họ dừng chân tại đó và dựng miếu Đồng Cổ để phụng thờ. Khi nghiên cứu về đền Đồng Cổ ở Nguyên Xá, tiến sĩ Bùi Xuân Đính viết “Như ta đã biết, miếu Đồng Cổ thờ thần Trống Đồng - một biểu tượng của văn minh Đông Sơn của người Việt cổ có ở phường Hồ Khẩu (nay là phường Bưởi, quận Tây Hồ). Hàng năm, vào ngày mùng 4 tháng Tư, quan quân triều đình về đây tế và làm lễ ăn thề sự trung hiếu. Còn miếu Đồng Cổ ở Nguyên Xá gắn với truyền thuyết, một lần, vua Lý từ Thăng Long đi kinh lý ra phía Tây, đến làng Nguyên Xá, voi của vua bỗng dưng bị ngã, ngà cắm xuống đất. Vua sai các quan vào miếu làm lễ cầu mới biết miếu thờ thần Đồng Cổ rất thiêng, bèn lệnh từ năm sau, ngay sau khi tế và làm lễ ở miếu Đồng Cổ (phường Hồ Khẩu), vua và triều thần lên miếu Nguyên Xá làm lễ. Như vậy, miếu Nguyên Xá có tầm quan trọng quốc gia”.
Thứ nữa là đền Đồng Cổ ở làng Mỹ Đà, huyện Hoằng Hóa. Theo Thần tích thần Đồng Cổ làng Mỹ Đà (Hoằng Minh huyện Hoằng Hóa) thì đền cũng do vua Lý Thái Tông ban dựng để tạ ơn "Đồng Cổ Sơn Thần" có công phù trợ dẹp giặc Chiêm Thành.
Trải qua các triều đại, đền thờ thần Đồng Cổ Đan Nê vẫn được coi là đền chính. Đền Đồng Cổ là nơi diễn ra các nghi lễ của các triều đại vua chúa nước ta. Trong đền còn rất nhiều thần tích, sắc phong của các triều đại. Các vương triều Lý, Trần, Lê, Trịnh - Nguyễn vẫn duy trì các nghi thức quốc lễ tại đền Đồng Cổ ở Đan Nê (Yên Định) và đền Đồng cổ phường Bưởi (Hà Nội). Nói về sắc phong và câu đối, đền Đồng Cổ nào cũng nhận được nhiều sắc phong. Trải qua chín đời vua Lý (1010 - 1225), mười hai đời vua Trần (1225 - 1400) là hai thời thịnh vượng, mỗi một vị vua phong bao nhiêu sắc cho thần Đồng Cổ. Thời Hậu Lê cũng thế. Chỉ riêng thời Lê Sơ (1428 - 1527) Lê Thái Tông, Lê Thánh Tông cũng ban cho thần Đồng Cổ nhiều sắc phong. Các triều đã phong cho Thần đến 62 duệ hiệu (tên đẹp) như: Dực chính, thuận hòa, Thông tế, Dũng Liệt, Khâm triết... Riêng thời Lê Trung Hưng còn giữ được mấy chục đạo sắc phong. Theo Linh tích núi Tam Thai của Lam Kiều Nguyễn Dật Sảng, đền Đồng Cổ, Đan Nê nhận được hai mươi tám sắc phong của vua và hàng chục đạo chỉ của chúa Trịnh. Sắc phong ngày mùng 2 tháng 6 năm Hoằng Định thứ 2 có nội dung rất nhiều duệ hiệu “Chủ minh chiêu cảm, linh ứng, bảo hựu, dực chính, thuận hòa, thông tế, dũng liệt, hiểu hựu, quảng đức, chương tín, mặc vận, khuông hóa, phổ huệ, tỉnh nạn, định quốc, hoằng phúc, tuy hưu, trinh nghị, mậu công, hộ dân, trạch vận, thi tuệ, chí nhân, phổ bác, uy minh, khâm triết, mặc nghiêm, hoành lễ, thuần nghĩa, đoan túc, cung ý, diển khách, bố đức đại vương”. Trong gần 30 đạo sắc phong thời Lê và thời Nguyễn còn lưu giữ ở Mỹ Đà ngày nay đều ca ngợi, đánh giá cao và sâu sắc ý nghĩa thiêng liêng của thần Đồng Cổ: “Ngài là bậc Thánh thần về văn võ, có lòng trung chính, tinh thần”;“Ngài là sự tinh túy của núi sông, chung đúc của trời đất, mênh mông khắp nơi, đức độ tràn đầy”; “Ngài là bậc núi sông chung đúc, trời đất sản sinh, cảm thông biến hóa, đặc điệu huyền diệu”... (theo sắc phong thời Lê và Nguyễn)... Về công trạng của Thần Đồng Cổ, đã được triều đình phong kiến ghi rõ trong các sắc phong là “...do công phù trợ Hoàng gia trường cửu, kế nối vương nghiệp ở trong Chính phủ, tôn phù tông xã, củng cố hồng đồ... được Vua tiến phong Vương vị, hằng năm có lễ lạc, phong phẩm trật... lại được tặng thêm các chữ báu là “Hựu Quốc”, “Long Tuấn”, “Tú Ngưng”, “Dực Bảo”, “Trung Hưng”, “Bảo Hựu”, “Xương Vương”, “Diên Hựu”. Đến thời Nguyễn, đền Đồng Cổ được tám sắc phong, với nội dung chính là “Trung đẳng thần anh thanh minh chiếu đôn tín Đồng Cổ Sơn chủ minh”. Có sắc phong còn ghi rõ “Chuẩn cho xã Đan Nê Thượng, huyện Yên Định, thờ phụng như trước để che chở cho lê dân của ta”.
Từ xa xưa đến nay, cứ vào rằm tháng Ba âm lịch hàng năm, nhân dân làng Đan Nê nói riêng, Yên Thọ nói chung lại náo nức tổ chức Lễ hội đền Đồng Cổ. Trước rằm một ngày, dân làng lên đền xin rước Ngài về đình Phúc giữa làng để bảy mươi dòng họ tế lễ.
 3.jpg
Trống đồng được nhập linh ở đền Đồng Cổ phục vụ cho Năm Du lịch Quốc gia 2015 - Thanh Hóa.
Năm 2010, Nhà nước ta tổ chức kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà Nội, một đoàn cán bộ cấp Nhà nước đã dẫn đầu một đoàn xe chở giàn trống đồng từ Hà Nội về Đồng Cổ Đan Nê để làm lễ xin nhập linh rồi mới rước về Thăng Long khai hội. Lễ hội Lam Kinh cũng thế. Trước ngày hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi, bao giờ Hội Cổ vật - Di sản Thanh Hóa cùng đoàn chủ tế cũng rước toàn bộ trống đồng về đây làm lễ nhập linh rồi mới rước về Lam Kinh. Gần đây nhất là tổ chức Lễ hội Năm Du lịch Quốc gia 2015 - Thanh Hóa, các tỉnh có những di sản lịch sử - văn hóa thế giới, lãnh đạo UBND tỉnh Thanh Hóa, Trưởng Ban tổ chức lễ hội, cùng một đoàn nghệ nhân đem hàng trăm chiếc trống đồng lên đền Đồng Cổ làm lễ xin nhập linh khí về mới khai hội. Đến khi kết thúc Năm Du lịch Quốc gia lại đem giàn trống lên tạ lễ. Đầu Xuân 2016, hàng trăm chiếc trống đồng được Hội Cổ vật Thanh Hóa rước lên đền Đồng Cổ làm lễ xin nhập linh khí trước khi đem trao tặng cho đất Phật Trần Nhân Tông Yên Tử. Đó là một nét đẹp lâu bền truyền thống uống nước nhớ nguồn, chiều sâu văn hóa, tâm thức, tâm linh người Việt đã trở thành tài sản vô giá cho mọi thời đại. Đền Đồng Cổ, Lễ hội đền Đồng Cổ, hội thề Đồng Cổ cũng là biểu tượng thuyết phục nhất về một đất nước mang lịch sử các Vua Hùng bốn nghìn năm còn minh chứng tận bây giờ.
Nguyễn Minh Khiêm

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét