- Truyện Tư Mã Hai Đào là một tác phẩm truyện thơ được viết bằng chữ Thái. Ai viết ra và viết ra từ bao giờ vẫn còn là dấu hỏi. Tác phẩm có từ hàng trăm năm nay, được viết theo thể thơ Thái ở dạng Khặp. Tuy là tác phẩm chữ viết nhưng bản thân nó mang theo tính dân gian rất rõ.
Tác phẩm bằng chữ Thái này do Hà Nam Ninh sưu tầm và dịch ra tiếng Việt, chưa in ấn và xuất bản. Riêng truyện thơ này ở Quan Sơn do Phạm Xuân Cừ, Phạm Bá Thược dịch đã được trích in trong Địa chí Quan Sơn - Thanh Hóa -2016.
Tư Mã Hai Đào kể lại bằng truyện Thơ chống lại sự xâm phạm đất đai của giặc ngoại xâm để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, an toàn bờ cõi của người dân ở vùng biên cương mà cụ thể ở đây là của đồng bào miền núi Thanh Hóa. Trong đó, nhân vật điển hình là người anh hùng Hai Đào. Tuy không dài và được dịch ra tiếng Việt chỉ vẻn vẹn gần 200 câu. Nhưng đây là tác phẩm bằng thơ có tính sử thi với kết cấu chặt chẽ, xây dựng được nhân vật mang tính sử thi hào hùng.
Đứng về mặt kết cấu tác phẩm dân gian này cũng rất khác, rất mới. Không giống với các tác phẩm truyện cổ tích, dân gian khác kể sự tích người anh hùng từ lúc trẻ, lớn lên đánh giặc, rồi lập được công trạng, dân nhớ ơn lập đền thờ. Ở đây mở đầu bằng nói tới đền thờ trước. Kết cấu khác thường mà vẫn rất hợp lý. Bởi với người hiện đại cái đập vào trước mắt là đền thờ, thờ ai, công tích gì mà thờ. Từ đó mới lần theo dấu vết người anh hùng.
Mở đầu tác phẩm giới thiệu về ngôi đền thờ Hai Đào người có công đánh giặc, lập bản Mường chiêu dân khai khẩn đất đai, giữ gìn biên cương, tạo dựng kỷ cương phép nước nơi biên viễn: “Khoảnh khắc này ta nhắc tới chuyện trước đây/ Tại Chiềng Công, Xốp Sim, Tén Tắn bát ngát/ Người giữ đất từ đây trở xuống dưới Kinh”.
Tác phẩm giới thiệu khái quát vị thần được thờ ở đền. Vị thần có công giữ gìn bờ cõi trở thành “Thần thiêng sông núi” và thần được “Hai mươi thần nhà trời hộ vệ”. Cho nên ai đi qua cũng phải cung kính, nể vì “Quan đi qua xuống võng, người đi qua xuống ngựa, đi bộ lột nón ra đằng sau”. “Ai cũng cúi đầu tôn nghiêm khi qua đền Tư Mã”.
Từ đây tác phẩm đi vào kể sự tích người anh hùng gắn với lịch sử đất nước ở một thời kỳ nhất định. Tác phẩm cho thấy khi ấy giữa nước láng giềng và Việt có sự va chạm về biên cương lãnh thổ: Lính hàng trăm vạn, khí sát hung hăng/ Ngựa và voi có hơn một vạn/ Ầm ầm voi ngà trắng thân to.
Để tiến được nhanh, họ phá rừng, xẻ núi để ngựa voi sánh bước, quân đi nhanh chóng. Khi họ đã chỉnh đốn được binh nhung thì họ sai sứ giả đi trước ra điều kiện tối hậu đe dọa, thách thức bắt quân Việt phải đầu hàng.
Nhưng quân Việt “không chịu nhún” và bất khuất trả lời: Ta còn nhiều dáo mác gươm đao/ Quyết định chặn dòng sông không cho quân láng giềng tới.
Trước sự bất khuất của quân Việt, tướng tiên phong của đối phương báo về nhà Vua với những lời khinh địch và kích động lòng ham chiến của các tướng, nên họ ra quân rầm rộ, hùng hổ với nhiều cánh quân tiến đánh quân Việt. Đàn voi chiến được sử dụng như một đội quân thiện chiến hùng mạnh: Nườm nượp voi nghễu nghện qua đường/ Tiếng chuông voi ầm ầm vang rộn rã/ Đội lính chọn ba nghìn đi trước/ Lớp lớp hàng bước tiếp đi lên (…) Dòng sông Mã đỏ ngầu như thuốc nhuộm/ Xác ngổn ngang như cây đổ trên nương.
Con đường tìm nơi trú thân của Hai Đào cũng như bao chàng trai nghèo ở đất Mường là tìm đến nhà lang. Tục ngữ Mường có câu: Khát nước xuống suối/ Đói bụng vào nhà lang.
Hai Đào phải vào làm đầy tớ nhà lang Mường Khô: Áo rách lưng trần nhiều bữa nhịn ăn/ Xin vào làm đầy tớ lang Khô.
Khác với các đầy tớ khác, Hai Đào là người có chí, thông minh, lại ham học, thêm vào đó lại gặp may được đi theo lang đạo Mường Khô khi về hầu Vua và được “long nhan” chiếu đến: Lúc lên kinh tạo cũng cho theo/ Vua trông thấy cho hỏi han căn vặn.
Tác phẩm không nói vua hỏi những gì và chàng trả lời ra sao, chỉ biết rằng sau cuộc “căn vặn” ấy Hai Đào được vua cho: Giữ lại kinh học văn võ thành tài.
Tác phẩm cũng không cho biết Hai Đào học giỏi như thế nào, nhưng ta biết sau khi học, chàng trai trở thành Tư Mã và sau này dân gian thường gọi là Tư Mã Hai Đào như một cụm từ tôn vinh ông và nhớ công ơn của ông.
Học đã trở thành tài, có tình yêu quê hương bản mường. Nhưng quê hương tạm thời giặc đang chiếm đóng. Nghĩ về quê hương Hai Đào không khỏi đau lòng “Nhìn về quê cũ lòng đau, cay đắng”. Và Hai Đào xin Đức vua về quê hương đuổi giặc, cứu nước. Nhìn Hai Đào rõ ra một vị tướng tài cao với hình dạng khác thường; nên vua thêm tin tưởng: Nhìn tướng to cao, râu rậm mắt sâu/ Vua tin tưởng giao cho làm tướng.
Và đồng thời cũng giao cho binh mã, khí giới, quyền chỉ huy: Giao cho binh mã súng gươm, dáo mác/ Phát cho tạo năm chục ngựa hồng mao.
Hai Đào sốt ruột hăng hái xin đi trước. Việc đó động viên được lang đạo, dân các mường các huyện xông lên đánh giặc. Một khí thế ra trận giải phóng bờ cõi khỏi kẻ chiếm đóng một cách đầy khí thế. Đến đây tác phẩm đã phác vẽ nên một vị tướng trẻ Hai Đào cầm quân ra trận một cách hào hùng:
Hai Đào nhảy lên lưng voi ngà vàng
Cờ phất tung chỉ vàng rực rỡ
Súng uy hiếp, dáo gươm lấp lánh như sao
Dao quắm, câu liêm cán dài tăm tắp
Tác phẩm không chỉ tạo dựng nên một hình tượng nghệ thuật của vị tướng trẻ với tướng mạo phi thường tràn đầy dũng khí hào hùng mà còn thể hiện được đây là một vị tướng đầy mưu lược. Khi ra trận không chỉ có kiêu hùng mà còn phải là một nhà thao lược. Hai Đào đã chọn những người thật tâm phúc, người bạn ở quê hương là Ót Dọ, Ót Đanh.
Hai chàng Ót Dọ, Ót Đanh đã khôn khéo ngụy trang dấu tích cho đến khi thực hiện được những nhiệm vụ được giao đó là đánh lừa lấy được bảo bối của đối phương. Bảo bối này cũng rất huyền bí được dựa theo một kiểu mô típ của các bản trường ca, sử thi đã có. Mô típ này gần giống với cái lẩy nỏ thần của Vua An Dương Vương. Ót Dọ và Ót Đanh đã làm cho đối phương tin, không còn đề phòng thì:
Hai người đi lại dò xét sự tình
Lấy được cồng thiêng, lặn sông, rẽ núi
Mang về dâng chủ tướng Hai Đào
Và kỳ lạ thay khi vật thiêng này được tấu lên:
Vua mừng quá được vật quý thiêng
Đánh thử một dùi, quân ta hừng hực
Được vật quý vật thiêng như một sức mạnh kỳ diệu, vua quan quân sĩ phấn chấn rạo rực xông lên đuổi giặc với một khí thế mới:
Quân Mường, Kinh xông lên ào ào như lũ
Voi lớn đạp rào, san lũy tiến vào
Gươm dáo khua vang, súng uy hiếp si la(?)
Quân đối phương tin vào bảo bối, lúc này đi tìm thì không còn nữa. Chủ tướng Hai Đào bèn cho dóng cồng bảo bối thu được, làm cho đối phương: Nghe thấy chân tay bủn rủn/ Chưa kịp rút dao đã phải chạy lui.
Và rồi máu lại đổ, xác phơi trên nội, trên đường. Tất nhiên vua hai bên phải ngồi lại bàn. Rồi cái gì phải đến sẽ đến: Rừng đất Việt ngã về Việt tăm tắp/ Cây đất nước làng giềng nghiêng về phía ấy lao xao.
Đất nước thanh bình, Hai Đào người anh hùng chiến thắng trở về đất mường Khô, làng Đào. Không lâu sau, vua lại giao cho quan Tư Mã trở lại, xây dựng, củng cố bảo vệ biên cương để đất nước thanh bình mãi mãi.
Hai người bạn tâm phúc là Ót Dọ, Ót Đanh cũng được cử đi bảo vệ biên cương trên đất mường Chanh, mường Lý, mường Lát.
Còn ngài Hai Đào dựng dinh ở Tén Tằn. Mường Lát nơi đó là con sông Mã qua Sơn La, qua Lào chạy vào đất Việt trên đất Mường Lát: Ngài Tư Mã đóng ở chiềng Công, Xốp Sim, Tén Tằn đất rộng/ Ngài dựng đồn bên cạnh ở bờ sông.
Từ đây Tư Mã Hai Đào thay mặt nhà vua thực thi quyền năng quản lý đất nước ở vùng biên cương rộng lớn và quan trọng. Tác phẩm nhắc nhiều đến việc nộp thuế và cống nạp các sản vật của nhiều mường là biểu hiện sự quy phục, sự củng cố uy thanh của triều đình trên một vùng biên cương xa xôi. Cuối tác phẩm cũng hé lộ các mường ở biên cương được củng cố và mở mang ra ở các mường khác, đó là Mường Chu San: Ngài đến mường này gây dựng mường Chu San/ Mở ra mường Chu San từ đấy.
Ở đây chúng tôi rất chú ý từ “Chu” ở tiếng Mường từ Chu chỉ người chúa trùm ở một vùng, đồng thời cũng chỉ thủ phủ của một vùng. Từ chỉ thủ phủ một vùng, người Thái dùng từ Chiêng. Yếu tố ngữ Thái này về sau người Mường cũng dùng. Nhưng từ Chu là từ cổ của Mường. Từ Chu San ở đây ta bắt gặp yếu tố Mường trên đất Thái, bởi ngài Hai Đào quê ở vùng mường Khô nhưng giờ đây sống và coi giữ bờ cõi Tổ quốc trên vùng đất người Thái anh em.
Truyện Tư Mã Hai Đào là một tác phẩm dân gian Thái, dung lượng không lớn, nhưng lại thể hiện được một cách khá chân thực cuộc đấu tranh giữ gìn biên cương của Tổ quốc của nhân dân các dân tộc ở miền núi Thanh Hóa. Tác phẩm đậm chất sử thi với nhiều hình tượng kỳ vĩ, cao lớn. Đặc biệt thể hiện hình tượng người anh hùng Hai Đào có ý chí hoài bão lớn, dũng cảm chiến đấu bảo vệ quê hương. Tác phẩ này cùng với ngôi đền thờ Tư Mã Hai Đào ở Tén Tằn Mường Lát là hai di tích, di sản văn hóa quan trọng ở vùng biên cương. Sau cùng chúng tôi có ý kiến đề nghị cho in ấn xuất bản cuốn Truyện Tư Mã Hai Đào và huyện Mường Lát cần phải khôi phục lại đền thờ Tư Mã Hai Đào ở Tén Tằn như đã có trước đây.
Cao Sơn Hải
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét