Chuyển đến nội dung chính

Ở nơi, hai vợ chồng chỉ có một cái quần...

"Ngày xưa, cuộc sống người Đàng Hạ rất khó khăn. Họ gần biển nhưng không biết đánh cá, chỉ mải lên rừng kiếm củi đổi cơm.

Nhiều nhà, hai vợ chồng chỉ có một cái quần, hễ chồng đi thì vợ ở nhà phải quấn lá cây...", ông Trần Trò, 87 tuổi, kể chuyện.
Chúng tôi đến thăm xóm nhỏ Xuân Đừng, bên cạnh vịnh Vân Phong (xã Vạn Thạnh, H. Vạn Ninh, Khánh Hòa) lúc trời đã đứng bóng. Ở đây, nhà cửa đơn sơ, giản dị, dân cư thưa thớt. Vào sâu bên trong, dưới tán cây điều, một ông lão đang ngồi lặng lẽ ...
Gần 90 tuổi còn chèo thúng ra biển
Ông thấp người, có nước da đen, tóc quăn đã bạc trắng, mày rậm, mũi cao. Ông cứ ngồi như thế, hai tay chống lên cây gậy, mắt dõi nhìn về phía biển.
Ông đột ngột đứng lên đi thật nhanh ra mép nước, với tay kéo chiếc thúng rồi leo lên. Tay ông chèo thúng đi thẳng đến chiếc thuyền đang neo phía xa xa ...
Một lát sau ông quay về ngồi lại chỗ cũ. Hơi thở ông vẫn đều đặn và không lộ chút vẻ mệt nhọc nào. Chúng tôi hỏi ông, ông bơi ra đó làm gì ? Ông nói, tôi ngồi đây để theo dõi có ghe nào mua nước không.
Tôi có khoan một giếng nước ngọt để bán cho các ghe cần lấy nước. Lúc nãy tôi bơi thúng ra để thu tiền và gom ống.
Ông Trần Trò (áo xanh) người Đàng Hạ và ông Võ Thành Trung, Trưởng xóm Xuân Đừng.
Ông Trần Trò (áo xanh) người Đàng Hạ và ông Võ Thành Trung, Trưởng xóm Xuân Đừng.
Ông là Trần Trò, 87 tuổi. Ông gốc người Đàng Hạ, một tộc người thiểu số sinh sống nhiều đời ở xóm Xuân Đừng này.
Ông cho biết, tuy là người Đàng Hạ nhưng trải qua quá nhiều đời đến nay ông không còn biết gốc tích của dân tộc mình như thế nào. Ngay cả đến tiếng nói, ông cũng không còn nhớ nổi và bây giờ chỉ sử dụng tiếng Kinh để giao tiếp.
Ông kể, ngày xưa, người Đàng Hạ ở gần biển nhưng không biết làm biển. Họ thường lên núi làm nương rẫy không đủ ăn nên thiếu đói triền miên.
Trai tráng người Đàng Hạ phải vào rừng săn bắn thú rừng, chặt củi làm than. Sau đó, họ mang củi, than ra chợ bán, đổi lấy gạo ăn. Cuộc sống của họ vô cùng khó khăn.
Nhiều nhà hai vợ chồng chỉ có một cái quần, hễ chồng đi thì vợ ở nhà phải quấn lá cây. Họ không có phong tục làm đám cưới, đám tang. Vào đúng đêm 30 Tết, trai gái người Đàng Hạ yêu nhau thì dắt về nhà ở chung.
"May sao, nhà nước có chính sách giúp đỡ hướng dẫn người Đàng Hạ cách làm ăn. Đời ông tôi, cha tôi đã biết đi biển đánh cá. Cả tuổi thanh niên của tôi cũng sống bằng nghề này", ông nói.
87 tuổi, ông Trần Trò vẫn bơi thúng ra bè.
87 tuổi, ông Trần Trò vẫn bơi thúng ra bè.
Ông Võ Thành Trung, trưởng xóm Xuân Đừng, kể lại: "Nguồn gốc người Đàng Hạ chỉ còn là truyền thuyết. Hiện không còn một dấu tích, một di vật nào chứng minh cho sự hiện diện của họ.
Tuy nhiên theo các nhà khảo cổ, các nhà nghiên cứu dân tộc học, có 2 giả thiết có thể xưa kia người Đàng Hạ là những ngư dân Indonesia trên đường hành nghề đánh bắt hải sản gặp cơn bão giữa khơi xô đẩy, trôi dạt vào những đảo nhỏ ở Vạn Thạnh.
Sau nhiều ngày lang thang, họ đã tìm thấy nước ngọt ở Xuân Đừng. Họ dựng chòi, hái rau quả và sinh cơ lập nghiệp ở đó. Cũng có giả thiết cho rằng họ vốn là một nhóm người dân tộc thiểu số nào đó ở miền núi tỉnh Bình Định. Chiến tranh loạn lạc đã khiến cho họ phiêu bạt đến đây".
Dù với giả thiết nào thì ông Trần Trò, trước mắt chúng tôi vẫn được bà con nơi đây xác nhận ông là người Đàng Hạ.
Ông đã sống, đã trải qua vui buồn trọn một đời người với bà con nơi đây...
Moi cát có nước ngọt
Theo lời ông Trung, hiện tại Xuân Đừng chỉ còn 7 hộ người dân tộc thiểu số với 47 nhân khẩu.
Số người này đang được nhà nước đặc biệt quan tâm giúp đỡ bằng nhiều cách như cất nhà, cấp 6 tháng ăn, cấp tôm giống để nuôi.
Con em của họ được cho vào trường tiểu học. Thế nhưng vì dân trí còn quá thấp - 100% mù chữ - những cố gắng của chính quyền cũng không đạt được thành quả như mong muốn.
Tại trường tiểu học, chỉ vỏn vẹn 3 em theo học với một thầy giáo. Có hôm thầy phải nghỉ vì các em bận lo mưu sinh...
Sát mép biển nhưng chỉ cần moi là có nước ngọt phun ra
Uống nước ngọt từ dưới biển phun lên.
Uống nước ngọt từ dưới biển phun lên.
Đời sống người Đàng Hạ ở Xuân Đừng là như thế. Trước đây, họ thường đợi đến lúc nước ròng bãi biển trơ cát, chỉ cần moi một lỗ nhỏ là có nước ngọt phun ra. Cứ thế họ gánh về nhà dùng.
Hiện tượng này chỉ có ở bờ biển Xuân Đừng dọc theo vịnh Vân Phong. Mấy năm gần đây, nhờ có điện nên đã xuất hiện nhiều giếng khoan. Mạch nước ngầm ở đây rất dồi dào. Người dân nơi đây đã biết tận dụng đưa nước vào tưới tiêu trong nông nghiệp.
Cả xóm Xuân Đừng có 40 hộ dân với hơn 200 nhân khẩu nhưng đi một vòng quanh xóm, vắng tanh. Ông Trần Trò cho biết bà con nơi đây làm đủ nghề. Đi lưới, đi câu, đốt than, làm rẫy.
Họ quần quật suốt ngày vật lộn với miếng cơm manh áo. Trẻ em thì không màng chuyện đến trường. Chúng được thuê mướn làm những công việc vừa sức. Mỗi ngày có thể kiếm được vài chục ngàn góp thêm cho thu nhập của gia đình ...
Làm sao để được 100% trẻ ở Xuân Đừng đến trường vẫn là niềm mong mỏi của nhiều người.
Đến một lúc nào đó, hi vọng trẻ em không bị cuốn vào cuộc mưu sinh , trả chúng về với tuổi thơ với con chữ thì mới thấy được tương lai.
Người Hạ ở đây vẫn còn lưu truyền câu chuyện truyền khẩu rằng: Khi vua Gia Long trên đường bôn ba qua đây, thật ngẫu nhiên, khi không còn lương thực, thực phẩm thì bỗng nhiển mặt biển xuất hiện khá nhiều loại cá nhỏ, vua Gia Long cùng đoàn tùy tùng ăn thay cơm nên từ đó loại cá này được gọi là cá cơm.
Trên bờ biển Xuân Đừng chỗ nào cũng xuất hiện nước ngọt, vua Gia Long cho là điềm lành nên mới ban sắc miễn thuế suốt đời và đặt họ cho người Hạ. Câu chuyện này vẫn còn truyền lại đến hôm nay.
Người Hạ ở Khánh Hòa được người Việt gọi là người Đàng Hạ và chính họ cũng tự nhận mình là người Đàng Hạ.
Cách gọi người Đàng Hạ hay người Hạ Châu còn biểu hiện đặc điểm cư trú khá đặc biệt của tộc người này.
Họ thường sinh sống ở những vị trí khuất nẻo và thấp dưới chân các hòn đảo và bán đảo.
Điều này cũng phần nào lý giải vì sao cho đến nay, đời sống của người Hạ tại thôn Xuân Đừng thuộc bán đảo Vạn Thạnh huyện Vạn Ninh tỉnh Khánh Hòa vẫn còn hết sức khó khăn nếu không muốn nói còn quá lạc hậu và cách biệt với bên ngoài.
Trần Thanh Hưng (VTV Phú Yên)

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Làng nghề chày thớt Phú Long

Làng nghề chày thớt Phú Long ở khu phố Hòa Long, phường Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương đã tồn tại và phát triển từ hơn nửa thế kỷ qua. Đến nay, cái chày, tấm thớt Phú Long không những được ưa chuộng trên thị trường trong nước mà đã vươn xa ra thị trường các nước như: Mỹ, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản…
Lái Thiêu xưa vốn là vùng đất hoang sơ, có nhiều rừng nên nghề mộc nơi đây phát triển rất sớm nhờ nguồn nguyên liệu gỗ phong phú. Theo những người có kinh nghiệm làm chày, thớt ở Phú Long, người sáng lập ra làng nghề này là ông Hai Thiệt. Ban đầu, từ những khúc gỗ thừa của các xưởng mộc trong làng, ông mang về để tận dụng làm thớt. Sẵn nguồn nguyên liệu, lại nắm bắt nhu cầu của bà con trong vùng, ông Hai Thiệt làm thớt để bán, rồi truyền nghề lại cho con cháu sau này. Làng nghề dần được hình thành từ thời điểm những năm 1960 của thế kỷ trước và cũng để ghi công ông Hai Thiệt, người làng sau đó gọi ông là Hai Thớt.

Hiện làng nghề chày thớt Phú Long có hơn 20 cơ sở lớn, nhỏ làm việc …

Nghề đắp phù điêu ở Thạch Xá

Là vùng đất nổi tiếng với những nghề thủ công truyền thống, xã Thạch Xá (huyện Thạch Thất, Hà Nội) còn được biết đến là nơi có những người thợ đắp phù điêu tài hoa. Những người thợ Thạch Xá được nhiều người biết đến qua công việc phục chế, tân tạo nhiều công trình văn hóa tâm linh ở Việt Nam. Theo nghệ nhân Nguyễn Văn Tuấn, một trong số người giữ gìn và phát triển nghề đắp phù điêu của Thạch Xá thì nghề đắp phù điêu có lịch sử cách đây khoảng 200 năm. Là người theo bố học nghề từ năm 13 tuổi, nghệ nhân Nguyễn Văn Tuấn với tài năng và kinh nghiệm hơn 40 năm đã trực tiếp thiết kế, phục chế, tôn tạo hàng trăm tác phẩm tại các công trình di tích lịch sử, văn hóa tâm linh được Nhà nước xếp hạng. Trong đó, tiêu biểu là phục chế đầu đao (chùa Tây Phương, Thạch Thất), đắp nổi Rồng chầu mặt nguyệt (chùa Thầy, Quốc Oai), phục dựng con giống cổ chùa Sóc Sơn, xây cột trụ và đắp hoa văn con giống tại chùa Hòe Nhai, một trong những di tích kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội...

Xơ giấy dó (còn gọi …

Nuôi gà thảo mộc ở Định Quán

Nuôi gà thảo mộc, hay còn gọi là thảo dược, khác với những mô hình nuôi khác ở chỗ người nuôi bổ sung vào khẩu phần thức ăn nhiều loại thảo dược tốt có lợi cho sức khỏe của gà, góp phần thay thế hoàn toàn các loại kháng sinh và chất kích thích tố tăng trọng thường sử dụng trong quy trình nuôi gà bình thường. Nuôi gà thảo mộc là mô hình chăn nuôi kiểu mới không sử dụng kháng sinh, giúp cho thịt gà có hương vị thơm ngon, đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng. Bà Cao Thị Ten (ấp 2, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán) là người tiên phong trong việc nuôi gà thảo mộc ở tỉnh Đồng Nai.

Từ lâu, ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm đã hướng tới nền chăn nuôi sạch, bền vững và xu hướng này trở nên khá phổ biến trên thế giới. Nắm bắt được xu thế đó và nhận biết nhu cầu thị trường luôn ưu tiên sử dụng sản phẩm sạch, chất lượng, từ năm 2011, bà Cao Thị Ten đã tiến hành nuôi thử nghiệm lứa gà thảo mộc đầu tiên.


Trang trại nuôi gà thảo mộc của bà Cao Thị Ten (ấp 2, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai).


Cây…