Thứ Hai, 19 tháng 11, 2012

Xác chết tỏa hương lạ và bí ẩn một ngôi chùa


Có một ngôi chùa với hệ thống hang động ở Hải Dương, chứa những kho báu thực sự. Đó không chỉ là kho báu khảo cổ, kho báu truyền thuyết, kho báu tinh thần, mà còn là kho báu cổ vật có giá trị.

Kính mời độc giả cùng PV thâm nhập ngôi chùa kỳ lạ, nổi tiếng, với màu sắc huyền thoại lung linh, đó là chùa Thánh Quang (còn gọi là chùa Nhẫm Dương, thuộc làng Nhẫm Dương, Duy Tân, Kinh Môn, Hải Dương).

 Xác chết tỏa hương lạ

Nhà báo Phạm Chức (Đài PTTH Hải Dương), dẫn tôi đi vòng vèo quanh các rông núi nham nhở để tìm chùa Thánh Quang. Đứng từ xa nhìn lại, những dãy núi một màu trắng xóa, mù mịt. Hàng chục doanh nghiệp đua nhau phá núi đào đá đem nghiền xi măng. Chỉ còn mộc hốc núi, như một nhúm màu xanh, thuộc thôn Nhẫm Dương, ấy là chùa Thánh Quang.
Chùa Thánh Quang

Gặp lại nhà báo Phạm Chức, sư thầy Thích Đàm Mơ vui vẻ, tiếp đón nhiệt tình. Nhà báo Phạm Chức là người từng bỏ nhiều công sức cùng với thầy Mơ giữ lại được rông núi này, bảo vệ ngôi chùa là di tích cấp quốc gia. Nếu không có sự nhiệt tình của hai con người ấy, có lẽ cả ngôi chùa đã chui vào lò nấu xi măng.

Thầy Mơ là trụ trì của chùa Nhẫm Dương, đồng thời là Trưởng ban đại diện Giáo hội Phật giáo huyện Kim Môn. Gắn bó với ngôi chùa từ ngày còn nhỏ xíu, nên sư thầy là một pho sách về ngôi cổ tự này. Huyền thoại về Thánh Quang sư thầy kể cả ngày không hết.
Sư thầy Thích Đàm Mơ nổi tiếng là người nhân từ khi bà bỏ tiền mua lại những chú khỉ từ bọn buôn bán, chăm sóc, thả chúng về núi

Sư thầy Thích Đàm mơ dẫn chúng tôi vòng ra phía sau chính điện mới dựng lại, trèo nên dốc núi quanh co. Ngay sườn núi, lộ ra một hang động. Cửa hang được xây dựng bằng gạch, như một cái cổng nhỏ. Trên cổng ghi: Hang Thánh Hóa.

Sở dĩ, hang động có tên lạ như thế, là vì trong hang động này, một vị sư tổ, được tôn là Thánh, đã hóa về cõi niết bàn. Dấu tích vị thánh này hóa vẫn còn đến ngày hôm nay. Chuyện sư hóa có nhiều tình tiết ly kỳ, liêu trai, mà đến nay, các cụ già trong vùng vẫn kể.

Thánh Quang vốn là ngôi chùa lớn, được xây dựng từ thời Trần. Tuy nhiên, nhà Trần sụp đổ, ngôi chùa cũng đổ nát theo. Chỉ đến thế kỷ 17, phái Tào Động của sư tổ Thủy Nguyệt phục dựng, ngôi chùa mới lại hưng thịnh.
Góc núi còn chút màu xanh do thầy Mơ đấu tranh giữ được

Theo văn bia ghi lại trong chùa, để nhất tổ sư Thủy Nguyệt vốn người họ Đặng, quê Sơn Nam, sinh năm 1637, đời vua Lê Thần Tông. Sau nhiều năm xuất gia, bôn ba khắp nước học đạo, sư vẫn chưa tìm được con đường giác ngộ. Năm 30 tuổi, sư cùng vài đệ tử quyết tâm du hành phương Bắc. Ngài đã nhận hòa thượng Thượng Đức tu hành trên núi Phượng Hoàng làm thầy.

Sau thời gian học đạo, ngài đã giác ngộ. Ngài được thầy ban pháp hiệu Thông Giác Đạo Nam thiền sư. Ngài trở về nước giáo hóa muôn dân, phát triển Phật pháp. Tông Tào Động ở Việt Nam bắt đầu thịnh hành. Phật tử đến nghe ngài giáo hóa năm ba câu mà phát tâm quy y. Có người chỉ nghe 10 pháp mà bỏ tục xuất gia, hóa độ tùy duyên.
Ngày nào thầy Mơ cũng tuần dọc núi để trông nom đàn khỉ, xua đuổi những người phá núi

Ngài đi giảng đạo ở khắp nơi, từ Côn Sơn nước biếc đến Yên Tử tọa thiền. Ngài giảng luật ở Quỳnh Lâm và cuối cùng là trụ trì ở một ngôi chùa dưới Hạ Long. Không chỉ giảng đạo ở chùa, ngài đến các vùng thôn dã, núi non để giảng đạo, thấm nhuần ân đức cho muôn dân. Những nơi ngài qua đều đầm ấm vui tươi, như cỏ gặp mùa xuân, tiếng pháp nhiệm màu.

Một hôm, sư tổ đang ngồi tựa ghế, trông thấy chim xanh bay tới, liền giác ngộ ngâm bài thơ: “Hoa xuân nở hết lại sương thu/ Mây nổi cuộc đời phải chắc đâu/ Ra thẳng ngoài trời cho thỏa chí/ Càn khôn, đây phó mặc người sau”.

Ngâm thơ xong, ngài nói với thiện hữu rằng: “Tuổi tôi nay đã già cả, năm tháng kéo dài, nay chính là lúc thanh bình yên ổn, tôi muốn cùng Ngài lên trên núi Niết Bàn”.
Bức tượng sư tổ Thủy Nguyệt mới tìm thấy trong hang

Bảo tháp cất giữ xá lị của sư tổ Thủy Nguyệt

Sau đó, ngài gọi đệ tử dặn: “Nay ta lên núi Nhẫm chơi, nếu 7 ngày không thấy về thì các ngươi tìm chỗ nào có mùi thơm, thì ta ở đấy”.

Đám đệ tử biết ngài sắp hóa, nhưng không dám khóc, cũng không dám ngước mắt nhìn theo, sợ làm trở ngại việc lớn của tổ.

7 ngày sau, không thấy sư tổ về, các đệ tử mới cùng nhau tới núi Nhẫm. Bỗng gió thổi ào ào, mùi thơm lạ như hương trầm xộc thẳng vào mũi. Các đệ tử cùng vạch rừng lên núi tìm tông tích. Cứ theo hướng mùi thơm đi, thì dẫn đến một hang động. Thấy tổ ngồi kiết già trên một tảng đá.

Hang Thánh Hóa

Các đệ tử cùng nhau xoa, day khắp từ đầu đến chân. Thân thể sư tổ vẫn còn ấm, mềm mại như người sống, nhưng xét tới hơi thở thì đã tịch hẳn rồi.

Ngài hóa vào năm Chính Hòa thứ 20, nên hiệu Hy Tông, tức ngày 6-3 năm Giáp Thân (1704), thọ 68 tuổi.

Học trò tắm thi thể sư tổ xong, để vào khám rước về, chiên trống vang trời, chàng phan bảo cái rợp đất. Khắp nơi cúng tiến gỗ thơm làm đàn thiêu. Tuy nhiên, bao nhiêu lực sĩ không thể nào khiêng được khám lên đàn đốt. Hương thơm khắp nơi quyện về, mọi người không biết làm sao, nên cứ ngồi quanh khám.

Nhiều người tò mò, mở khám ra xem, nhiều ngày mà sư tổ vẫn ngồi trong thế tọa thiền, sắc tướng như vẫn sống.

Những pho tượng lạ trong hang Thánh Hóa.

Thấy chuyện kỳ lạ, nghĩ là hoang đường lòe bịp dân chúng, nên triều đình nhà Lê sai quan quân gươm giáo rợp trời đi dẹp. Nhưng khi đến gần khám, thấy trên khám có khí thiêng lẫm liệt, hương thơm sực mũi, thì không dám xâm phạm. Bấy giờ, có ông Bình quản dâng thơ rằng: “Đạo đức cao tăng khác hẳn phàm/ Trải qua ba tháng vẫn còn thơm/ Oai thiêng xin giúp cho toàn cõi/ Giặc hết dân yên cả bốn phương”.

Ngâm thơ xong, lễ tạ, sai người đến đất Chí Linh đặt mua cỗ khám bằng sành, đặt trong một cây tháp ở Nhẫm Dương, cách hang Thánh Hóa không xa lắm.

Sư thầy Thích Đàm Mơ dẫn chúng tôi vào hang Thánh Hóa, chỉ nơi tổ Thủy Nguyệt ngồi kiết già và hóa. Phía trần hang có một vệt lõm vào núi, đúng kích thước đầu người. Phía đáy hang có một vết lõm hình bàn chân người. Huyền thoại kể rằng, khi sư Thủy Nguyệt đắc đạo, ngài đã thúc đầu, đạp chân vào núi đá khiến cả quả núi rung chuyển.

Khai mở hang động chứa vô số cổ vật ở Hải Dương

Không ngờ, khi mở rộng diện tích đào bới, thì phát hiện rất nhiều cổ vật, gồm đủ các loại bát hương, lư hương đá xanh, chum, chóe, bát đĩa, bình cổ, đồ sắt, đồ đồng, đồ gốm.

Mặc dù câu chuyện hành đạo rồi hóa của sư tổ Thủy Nguyệt phái Tào Động mang nhiều hơi hướng huyền thoại, huyễn hoặc, nhưng càng ngày, những phát hiện khảo cổ ở chùa Thánh Quang (Duy Tân, Kinh Môn, Hải Dương) càng khẳng định những huyền thoại là có thực.

Sư thầy Thích Đàm Mơ dẫn tôi vào chánh điện chỉ một pho tượng lạ, rất cổ. Đó chính là pho tượng sư tổ Thủy Nguyệt, bằng đá nguyên khối, mà thầy cùng các đệ tử mới đào được khi khai quật hang động.
Bức tượng sư tổ Thủy Nguyệt bằng đá xanh khai quật được ở hang Thánh Hóa
Đó là một pho tượng đá xanh nguyên khối được tạc rất cầu kỳ, đường nét mềm mại, uyển chuyển. Sư tổ ngồi tọa thiền trên đài sen. Ngoài tượng sư tổ Thủy Nguyệt, còn vô số pho tượng đá xanh tuyệt đẹp khác nữa.

Tôi hỏi bảo tháp, nơi cất giữ cốt sư tổ Thủy Nguyệt như trong huyền thoại, sư thầy Thích Diệu Mơ dẫn tôi ra chái chánh điện. Bảo tháp là tòa tháp đá xanh tuyệt đẹp nằm ngay chái chùa.

Theo sư thầy, Tháp Tổ đã bị trộm đào bới nhiều lần. Bọn trộm đã đào rỗng cả ruột tháp để lấy trộm đồ cổ. Cách đây hơn 10 năm, sau một đêm mưa gió, nhà sư trở dậy, thấy Tháp Tổ nghiêng hẳn sang một bên, có nguy cơ đổ.
Tháp chứa xá lị của sư tổ Thủy Nguyệt

Bọn trộm đã đục đá, phá tung tòa tháp. Chúng đào một đường hầm dưới chân tháp để tìm của quý dưới đáy, khiến tháp lún nghiêng. Chúng cạy mấy tầng tháp để tìm đồ cổ.

Chiếc hũ đồng mà nhà sư vẫn thấy qua khe hở một tầng tháp đã biến mất. Bọn trộm đổ một số thứ ở trong hũ vung vãi dưới nền đất. Nhà sư nhặt lên xem, bóp thấy cứng. Dùng đá ghè không vỡ mới biết đó là xá lị của tổ. Nhà sư nhặt được 9 viên.

Sư thầy cho mở nốt cửa tháp mà bọn trộm chưa phá. Bên trong tháp vẫn còn hũ gốm lớn. Hũ gốm to đến nỗi phải phá tháp mới lấy ra được. Trong hũ gốm là hũ đồng. Nhà sư đặt xá lị tổ vào hũ đồng, rồi cho người đổ xi măng bít kín, giữ tháp tổ như ngày hôm nay.
Hang Thánh hóa.

Sư thầy Thích Đàm Mơ là người gắn bó với chùa Thánh Quang từ nhỏ. Cụ nội Mơ là người xuất gia, hương khói ngôi chùa. Thời Pháp, ngôi chùa bị tiêu thổ kháng chiến. Hòa thượng Vô Vi phải dựng tạm một ngôi nhà tre để thờ tự sư tổ. Chùa Thánh Quang thời gian dài bị người đời lãng quên.

Có duyên với Phật môn, nên hồi 10 tuổi cô bé Mơ đã vào chùa ở. Vừa đọc kinh vừa học chữ. Năm lớp 4, gia đình xin chùa cho Mơ về nhà đi học. Học hết lớp 7 thì Mơ vào chùa hẳn.

Khi đó, ngôi chùa nhỏ Nhẫm Dương nằm dưới chân núi, hoang vu khủng khiếp, dưới đất là rắn rết, trong rừng là khỉ cáo, chẳng có dân ở. Hòa thượng Vô Vi dặn sư Mơ: “Chú cứ ở đây tu hành, rồi sau này cố gắng xây dựng lại chốn tổ”. Nói rồi, ông giao lại chùa cho nhà sư, về chùa Muống (Quang Khánh tự) ở huyện Kim Thành trụ trì.
Bên trong hang Thánh Hóa
Cách đây hơn chục năm, thấy sức yếu, Hòa thượng Vô Vi tìm về chốn tổ. Ông dặn nhà sư Thích Diệu Mơ: “Bây giờ là lúc cần thỉnh tổ về. Bác phải trông nom, săn sóc chốn tổ cho tốt nhé”.

Nói rồi, Hòa thượng Vô Vi dẫn nhà sư Thích Diệu Mơ đến hang Thánh Hóa sau chùa. Ông bảo: “Thời Pháp, đất nước loạn lạc, chiến tranh, cướp bóc liên miên, nên nhà chùa và một số Phật tử tin cẩn đã chôn cất tượng sư tổ và những đồ vật quý trong hang này. Lành vỡ thế nào thì cũng đào lên”.

Bao nhiêu năm trụ trì ngôi chùa, lúc đó, nhà sư Thích Diệu Mơ mới biết đến hang đá chứa tài sản của ngôi chùa 700 năm tuổi mà bà trụ trì. Kể cũng lạ, xưa kia, ngôi chùa to là thế, do chính vua Trần cho xây dựng, mà bao năm nhà sư Mơ trụ trì, thứ còn lại chỉ là túp lều tranh lúp xúp, lúc nào cũng như sắp đổ.
Rất nhiều tiền cổ tìm được trong hang và quanh chùa
Nhà sư Thích Diệu Mơ cùng một số Phật tử thân tín bắt đầu công cuộc khai quật hang Thánh Hóa. Khi đó, nhiều ngách của hang Thánh Hóa bị lấp kín bằng đá. Gỡ lớp đá tảng bịt kín một ngách hang, thì hiện ra lớp đất.

Nói là hang, nhưng cái ngách này chỉ bé như hang chuột, người không chui vừa. Quan sát kỹ, thì có thể thấy rằng, đất lấp ngách hang được đào từ nơi khác. Rõ ràng, người xưa đã múc đất ở nơi khác đến lấp hang, vì quanh miệng hang toàn là đá, không moi đâu ra đất.

Cuộc đào bới diễn ra mấy ngày liền, moi ra vô số đất, đá. Khi đến độ sâu chừng 3m, thì thấy tượng sư tổ Thủy Nguyệt bằng đá xanh. Nhà sư Thích Diệu Mơ nhớ lại: “Khi đó, nhà chùa nghĩ rằng, tìm thấy sư tổ là mừng lắm rồi, nên cũng không nghĩ đến chuyện đào bới tìm cổ vật. Thế nhưng, càng đào thì thấy trong hang chứa vô số cổ vật quý”.
Sư thầy Thích Diệu Mơ và kho cổ vật thu lượm được
Nhiều pho tượng bị vỡ trong quá trình khai quật

Theo sư thầy, để thỉnh được sư tổ ra, thì phải moi đất, đào rộng lòng hang. Không ngờ, khi mở rộng diện tích đào bới, thì phát hiện rất nhiều cổ vật, gồm đủ các loại bát hương, lư hương đá xanh, chum, chóe, bát đĩa, bình cổ, đồ sắt, đồ đồng, đồ gốm nung thời Trần, rồi rất nhiều công cụ lao động, trang sức bằng đá trong lòng hang…

Riêng tiền cổ thì chứa đầy các chum, chóe, gồm đủ các loại tiền, có niên đại từ đầu công nguyên cho đến tận thời Nguyễn. Có chum tiền đã kết vào thành một cục, đập cũng không rời.

Phát hiện trong hang có rất nhiều đồ cổ, nhà sư Thích Diệu Mơ cùng các Phật tử tiếp tục đào bới các ngách hang khác. Mọi người đều sững sờ khi có quá nhiều đồ cổ cất giấu trong hang.
Pho tượng có hình "người thạch sùng" bám sau lưng

Chính quá trình đào bới nền hang, các ngách hang, nhà sư Thích Diệu Mơ cùng các Phật tử đã tìm được vô vàn xương cốt hóa thạch, của cả động vật lẫn người. Nhà sư đã cẩn trọng cất giữ những thứ hóa thạch này trong bao, thùng, chum, chóe, không bỏ đi dù một mẩu xương, một chiếc răng.

Thấy có quá nhiều xương cốt, sư thầy đã thông báo cho ông Tăng Bá Hoành, khi đó là Giám đốc Bảo tàng Hải Dương. Ông Hoành đã lập tức tìm về và công bố phát hiện cực kỳ giá trị với ngành khảo cổ nước nhà, ấy là phát hiện xương và răng vượn người Pôn-gô.

Ngoài ra, còn tới mấy chục xương các loài động vật quý hiếm khác nữa, như voi, hổ, báo, tê giác, gấu… Nhà khảo cổ Tăng Bá Hoành về chùa Nhẫm Dương, thấy hang Thánh Hóa là di chỉ khảo cổ cực kỳ quý hiếm và ông đã làm một việc kỳ lạ, ấy là, đề nghị nhà chùa dừng cuộc khai quật, lấp các điểm đào bới dở dang lại.

Theo ông Hoành, đây là di chỉ cực kỳ quý hiếm, chỉ nên khai quật khi đủ nhân lực, vật lực, phương tiện. Ông muốn giữ di chỉ khảo cổ này cho thế hệ sau. Từ bấy, nhà chùa không khai quật nữa, mà bảo tồn nguyên trạng hang Thánh Hóa. Dù đã bị khai quật, đào bới khá nhiều, nhưng theo ông Hoành, Hang Thánh Hóa vẫn là một kho báu thực sự của ngành khảo cổ nước nhà.
Đống tiền cổ vô giá và bí ẩn nơi giấu tượng đồng đen

Đây là pho tượng toàn thân rất lớn, được làm bằng chất liệu đồng đen. Pho tượng là tài sản quý nhất, linh nhất suốt mấy trăm năm của chùa. 

Sau một buổi ngắm nghía, chụp hàng trăm kiểu ảnh về các món cổ vật, chứa ngập hai căn phòng nhà ông H., Phật tử thân thiết với thầy Thích Diệu Mơ, chúng tôi lên xe rời ngồi làng hẻo lánh bên một quả núi đang bị bắn mìn ùng oàng để nghiền xi-măng.

Những tưởng, được chiêm ngưỡng kho cổ vật đó đã là nhiều rồi, nào ngờ thầy Thích Diệu Mơ (trụ trì chùa Thánh Quang, Kinh Môn, Hải Dương) bảo bà còn cất giữ cổ vật ở nơi khác nữa.
Cây thị 700 tuổi ở chùa Thánh Quang

Sư thầy Thích Diệu Mơ tiếp tục dẫn chúng tôi đến một ngôi nhà bí mật nữa trong huyện Kinh Môn. Theo nhà sư, đây cũng là nhà của một Phật tử và nhà sư chuyển đồ cổ đến nhà Phật tử này gửi cho an toàn. Ngôi chùa Thánh Quang cửa rả tông hống, lại chỉ có nhà sư cùng mấy Phật tử già yếu, không trông coi được.

Xe chạy vòng vèo qua mấy đường làng, thì dừng trước một ngôi nhà kín đáo, giữa một khu vườn um tùm cây cối, nhưng bụi xi măng phủ trắng xóa. Cách làng không xa, mấy nhà máy xi măng nhả khói thành lớp mây trắng trên trời.

Sau hồi chuông, thì một người đàn bà ra mở cổng. Người phụ nữ này mở chiếc tủ khóa kín trong phòng khách, tìm chìa, rồi dẫn chúng tôi xuống tầng hầm.
Đồ cổ chất kín tầng hầm.
Tôi cứ thắc mắc mãi, không biết chủ nhân ngôi nhà này xây hầm làm gì? Chẳng lẽ để tránh bom? Khi cánh cửa sắt của tầng hầm mở ra, tôi lại một lần nữa choáng ngợp, với cơ man nào là đồ cổ. Cả một căn phòng chứa ăm ắp cổ vật.

Cổ vật gồm đủ các loại, từ đồ đá đến đồ đồng, đồ sắt, đồ gốm, sứ. Vô số nồi niêu, xô chậu chứa các món cổ vật nhỏ xếp kín mặt sàn. Những chiếc chum, chĩnh, chóe cổ cũng chứa vô vàn cổ vật bên trong cái bụng rỗng to tướng của nó.

Vì là kho chứa cổ vật, không phải nơi trưng bày, nên không gian được tận dụng tối đa. Chúng tôi phải lựa chân từng bước, mới lọt được vào được kho cổ vật này.
Bình gốm cổ rất đẹp.
Quả thực, tôi không đủ sức để thống kê xem căn hầm của nhà này có bao nhiêu món cổ vật và không đủ sức để tìm hiểu xem món cổ vật nào quý nhất trong gian phòng. Nhà báo Phạm Chức nói đùa: “Nếu bây giờ đất nước mình vẫn tiêu những loại tiền từ cả ngàn năm trước, thì nhà chùa có đủ tiền xây vài ngôi chùa lớn”.

Bà chủ gọi ông chồng vừa thức dậy sau giấc ngủ trưa vào tầng hầm. Chủ nhà chào nhà sư và chúng tôi, rồi chui sâu vào tầng hầm, khệ nệ bê ra một chiếc chậu bằng đồng, vần ra một chum sành chứa có ngọn tiền cổ.

Quả thực, cả đời làm báo của tôi, chứng kiến vô số nhà sưu tập tiền cổ, nhưng chưa thấy ở đâu có nhiều tiền cổ như trong căn phòng này. Theo lời Phật tử giữ đồ cổ cho chùa, thì lượng tiền cổ của nhà chùa nhiều đến nối phải tính bằng kg, chứ không thể đếm được.
Rất nhiều tiền cổ.

Sau này, gặp ông Tăng Bá Hoành (nguyên Giám đốc Bảo tàng Hải Dương), hỏi chuyện đống tiền cổ khổng lồ nhà sư Thích Diệu Mơ giữ, ông Hoành khẳng định hiếm có ai sở hữu nhiều tiền cổ như bà Mơ. Thậm chí, các bảo tàng ở Việt Nam cũng không nhiều bằng.

Hồi về chùa Thánh Quang nghiên cứu, nhà sư Thích Diệu Mơ lấy ống bơ xúc đại cho ông một bọc để nghiên cứu. Xem xét bọc tiền cổ xúc trong đống tiền khổng lồ của nhà sư Thích Diệu Mơ, ông Hoành đếm được tới 36 loại khác nhau. Tất cả số tiền ông Hoành phân loại đều từ thời Bắc thuộc, cách nay 1.000 đến 2.000 năm, đều có giá trị khảo cổ, giá trị trưng bày rất cao.

Tôi nhẩm tính, chẳng cần bán lượng tiền cổ này với giá tiền triệu, chỉ bán vài chục, vài trăm ngàn đồng một đồng xu, đã thu về nhiều tỷ đồng.
Đồ cổ đủ loại.
Rời căn biệt thự bí ẩn giữa ngôi làng um tùm cây cối, chúng tôi trở lại chùa Thánh Quang. Nhà sư bảo: “Mọi người vào chùa thường không để ý, chứ thực ra, trong chùa tôi cũng bày vô số cổ vật. Tuy nhiên, cổ vật ở chùa không có niên đại sâu và giá trị cũng không cao”.

Theo chỉ dẫn của nhà sư, tôi mới nhận thấy khắp chùa la liệt đồ cổ. Vòng quanh chùa bà xếp vô số cối đá, cối giã gạo bằng đá, những chiếc thống đá mà mỹ nữ xưa dùng để tắm rất đẹp, trạm trổ long phượng, những bài thơ chữ Hán.

Bên trong chùa nhà sư bày rất nhiều tượng cổ, gồm cả tượng đá, tượng gốm và tượng đất. Đặc biệt quý là những chiếc chum, chóe, kiệu khổng lồ xếp hàng dài trong chùa. Những chiếc kiệu có tuổi vài trăm năm, trang trí hoa văn, họa tiết rất đẹp, được giới sưu tầm đồ cổ đánh giá cao, săn lùng ráo riết.
Một trong số rất nhiều thống đá cổ.
Tại chính điện của chùa Thánh Quang, sư thầy Thích Diệu Mơ cũng trưng bày vô số đồ cổ. Nhà sư đặt một chiếc tủ kính, bên trong bày những mẫu vật hóa thạch khai quật được ở chùa cùng với một số đồ đá, đồ đồng, gốm. Tiền cổ cũng được đựng đầy một chậu.

Theo sư thầy Thích Diệu Mơ, tất cả số cổ vật mà bà cất giữ đều là của nhà chùa. Hầu như các cổ vật được khai quật trong các hang động quanh chùa Thánh Quang. Trải nhiều thời kỳ biến động, trụ trì và nhân dân đã cất giấu trong hang động. Thời nay, đất nước yên bình, sư thầy mới khai quật, gom lại.

Đứng bên pho tượng đá xanh tạc sư tổ Thủy Nguyệt, nhà sư Thích Diệu Mơ chợt bần thần khi nghĩ đến pho tượng Phật tổ Thích Ca Mâu Ni. Theo truyền lại, đây là pho tượng toàn thân rất lớn, được làm bằng chất liệu đồng đen. Pho tượng là tài sản quý nhất, linh nhất suốt mấy trăm năm của chùa Thánh Quang.
Chó đá.

Vật dụng bằng đá của nhà nông.
Hồi chống Pháp, chiến tranh loạn lạc, trộm cắp liên miên, nhà chùa lại sợ mất, nên đã quyết định chôn giấu pho tượng quý này. Công việc cất giấu pho tượng được sư cụ trụ trì chùa giao cho một người duy nhất ở làng Trại Xanh, cách làng Nhẫm Dương không xa, thuộc xã Duy Tân (Kinh Môn, Hải Dương).

Người này sau khi chôn cất pho tượng, đã đứng trước ban thờ Phật hứa không được phép tiết lộ với ai về pho tượng và nơi cất giấu. Nhưng rồi, vài năm sau, người này đột tử, mang theo nơi cất giấu pho tượng xuống suối vàng. Vậy là mọi thông tin về pho tượng đồng đen đã bị thất lạc. Kể cả Hòa thượng Vô Vi cũng không biết pho tượng được chôn giấu ở đâu.

Tuy nhiên, nhà sư Thích Diệu Mơ tin rằng, một ngày nào đó, khi đủ duyên, tượng Phật tổ Thích Ca sẽ được tìm về.
Ngoài ra, bia đá cũng ghi chép về chiếc khánh đá, chuông đồng của chùa Nhẫm Dương lớn nhất nhì vùng Đông Bắc. Nhưng các cụ cất giấu hai báu vật này ở đâu, thì vẫn còn là một bí ẩn.

Trong suốt câu chuyện với tôi, nhà sư Thích Diệu Mơ cứ nhắc đi nhắc lại rằng, toàn bộ số cổ vật mà nhà sư đang cất giữ, là của nhân dân, của đất nước, của nhà chùa, chứ không phải của riêng nhà sư. Đã có rất nhiều cá nhân, doanh nghiệp, khi đến chùa, đặt vấn đề mua một số món đồ, nhưng nhà sư nhất quyết từ chối.

Nhà sư mong ước có được một ngôi nhà truyền thống, dựng ngay tại khuôn viên chùa, để trưng bày tất cả cổ vật, hóa thạch, từ cách đây triệu năm, cho đến ngày nay, để toàn thể nhân dân được chiêm ngưỡng thoải mái.
Chùa Thánh Quang nằm dưới chân dãy núi Nhẫm Dương (xã Duy Tân, Kinh Môn, Hải Dương). Đây là ngôi chùa lớn, được xây dựng từ thời Trần. Đến thế kỷ XVII, chùa là nơi tu hành của thủy tổ thiền phái Tào Động do sư Thủy Nguyệt trụ trì. Điều đặc biệt là sau chùa có hệ thống hang động đá vôi, gồm 26 hang lớn nhỏ, là nơi người tiền sử sinh sống. Riêng hang Thánh Hóa và hang Tối phát hiện rất nhiều hiện vật khảo cổ. Với ý nghĩa lịch sử, khảo cổ quan trọng, Khu di tích đã được xếp hạng cấp quốc gia theo Quyết định số 15/QĐ- BVHTT ngày 14/4/2003 của Bộ Văn hóa - Thông tin.
(Theo VTC News)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét