Khu rừng mang tên đại tướng
TT - Tương truyền đó là rừng cấm của người Mường bản Nhọt (xã Gia Phù, huyện Phù Yên, Sơn La), là nơi ở của thần linh được người dân canh giữ cẩn thận.
Chiến tranh kết thúc, hàng rào tâm linh bao bọc khu rừng đã không còn, nhưng huyền thoại về một vị tướng bằng xương bằng thịt lập căn cứ trong rừng đã thế chỗ hoàn hảo.
| Vị chủ tịch “ở rừng” trước tấm biển chỉ dẫn vào khu rừng đại tướng Võ Nguyên Giáp - Ảnh: V.T |
Vào xã Gia Phù hỏi rừng đại tướng, người dân chẳng ai không biết. “Rừng ông Giáp à? Ở ngay đầu bản đấy!”. Khắp một vùng đồi núi trập trùng, không đâu là không có bước chân khai hoang của con người. Những khu rừng chỉ còn là những rừng tạp, cây cỏ lùm lùm quá đầu người nhưng “rừng ông Giáp” vẫn rậm rạp, thâm u như thời cha ông của người Mường, người Thái bản Nhọt còn lũ lượt kéo nhau vào cúng rừng đầu năm.
Cái hầm của tướng Giáp
Cụ Đinh Văn Óng, 69 tuổi, người già hiếm hoi từ thời Đại tướng Võ Nguyên Giáp trú ẩn trong khu rừng cấm bản Nhọt còn sống tới bây giờ. “Những người bản Nhọt sống thời ấy chết hết cả rồi, chẳng còn ai biết chuyện ông Giáp đâu”, cụ Óng nói như để chúng tôi khỏi mất công tìm kiếm thêm. Đến cả như cụ Óng năm ấy mới 12 tuổi mà giờ đã ngấp nghé 70 rồi.
Lúc ấy vào khoảng năm 1954, cụ Óng còn nhỏ tuổi nên chỉ được giao đi phụ tải gạo cho lính Cụ Hồ, không được tận mắt chứng kiến căn cứ trong rừng bản Nhọt ngày đó. Nhưng những gì cụ biết cụ nhớ nằm lòng: “Năm 1954 ấy, sau khi đánh Pháp ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Yên Bái xong, ông Giáp đưa quân vào Yên Châu, Sơn La. Cứ đồn nhỏ đánh trước, đồn lớn đánh sau. Đầu tiên là bản Chai, rồi đến đồn Bản Yên, Bản Muống. Đến lúc đánh đồn Bản Mo, là đồn lớn của địch, ông phải dừng lại ở con suối Tắc Tè trong rừng cấm bản Nhọt để chỉ huy. Chỉ có cái ông Giáp ở lại đấy bao lâu thì tôi không nhớ được”.
Cụ Óng bảo cái rừng bản Nhọt vốn là rừng cấm, dân bản bao đời chẳng dám chặt cây, một năm chỉ một lần kéo nhau vào rừng làm lễ cúng thần rừng đầu năm. Trong rừng cây cối rậm rạp, um tùm, có thể ẩn náu mà không bị phát hiện. Hồi đó, cụ Óng cũng chỉ nghe dân quân bảo nhau là tướng Giáp đang ở trong rừng cấm thôi, còn cái chỗ ông Giáp trú chân, sau này cụ mới có dịp trông thấy. Độ vài năm sau khi chiến tranh kết thúc, một lần đi săn thấy cái hầm nên cụ tò mò vào xem.
“Hầm có che một tấm sắt trước cửa. Hai bên hầm đào rất nhiều hố để bộ đội bảo vệ. Hầm cũng không rộng lắm, chỉ to bằng cái bàn này thôi” - cụ chỉ vào cái bàn đang ngồi, bề ngang gần 2m, dài khoảng 2,5m. Lúc lần mò trong hầm cụ còn nhặt được một con dao và cây cuốc kim bộ đội để lại.
Cụ Óng vẫn còn nhớ rõ mồn một cái cảnh thanh niên dân công đi hàng đoàn vận tải gạo cho bộ đội, mỗi người cầm một ống tre trong có nhét giẻ tẩm dầu, đèn đuốc đỏ rừng rực con đường trước bản. “Ông Giáp thắng trận ở Điện Biên Phủ, lính Pháp bị quân ta bắt làm tù binh cũng bị giải đi đàn đàn lũ lũ qua con đường này” - cụ bảo.
Trước chiến tranh, năm nào dân mấy xã cũng tập trung lên rừng làm lễ cầu mưa thuận gió hòa, làm ăn thuận lợi. Họ mang lợn, mang trâu, mang bò lên rừng ăn uống cả ngày linh đình lắm. Những năm chiến tranh, hầu hết thanh niên trong bản đều đi lính, dân bản dần lãng quên câu chuyện về những vị thần linh ở trong rừng, không còn làm lễ cúng thần rừng đầu năm. Thần rừng chẳng còn hiện diện trong tâm thức của người Mường, người Thái nữa. Nhưng khu rừng vẫn là nơi thành kính thiêng liêng được dân làng ra sức bảo vệ bởi huyền thoại về vị tướng Võ Nguyên Giáp thấm đẫm khu rừng. Từ đó họ gọi luôn khu rừng thiêng là rừng Võ Nguyên Giáp.
Chủ tịch ở rừng
| Con đường nhỏ len lỏi dẫn vào rừng đã quá quen thuộc với ông Tiến suốt chục năm tuần rừng - Ảnh: V.T. |
Ngôi nhà tre nứa dựng sát bên bờ suối, ngay đó là những gốc chò chỉ ba người ôm không xuể của rừng Võ Nguyên Giáp. Cách không xa ngôi nhà là cái bảng lớn đề “Rừng Đại tướng Võ Nguyên Giáp”. Một người tóc lấm tấm bạc đang cầm con dao quắm lúi húi dọn cỏ ngay đấy. Chú xe ôm chỉ phía ấy bảo chúng tôi: “Người giữ rừng ông Giáp đấy”.
Đó là ông Đinh Quyết Tiến, 56 tuổi, đã “ở rừng” 15 năm. Chúng tôi ngồi ngay bìa rừng hỏi chuyện giữ rừng, tuần rừng chán chê rồi tò mò đi thăm thú ngôi nhà, xem mấy cái bằng khen ghi tên ông. Chợt vỡ lẽ. Hóa ra ông Tiến chỉ mới đầu tháng này còn là chủ tịch xã Gia Phù, vừa về hưu chưa đầy một tháng. “Cả chục năm làm chủ tịch ông cũng ở rừng thế này à?” - tôi kinh ngạc. “Ừ, thì phải ở đây mới giữ rừng được chứ!” - ông điềm nhiên trả lời.
Ở đây, cạnh “rừng ông Giáp” chỉ có độc căn nhà này thôi, còn làng bản đều ở xa phía dưới. Ông bảo từ ngày nhận coi “rừng ông Giáp” vợ chồng ông dọn lên đây ở luôn, nhà trong bản chỉ có con cái ở. Suốt thời gian ấy ông vẫn làm cán bộ xã. Ông bà đào một cái ao nhỏ cạnh suối nuôi cá, thả rau, trồng mấy luống bầu bí, nuôi mấy bầy gà vịt. Nước cũng dẫn từ khe trên “rừng ông Giáp” theo đường ống về nhà. Chỉ cần chở gạo từ bản vào là đủ cho những bữa ăn đơn sơ của vợ chồng ông. Cái ống tre dẫn nước từ rừng về cứ nhả nước quanh năm suốt tháng. Ông vục tay hứng nước uống rồi bảo: “Nước từ “rừng ông Giáp” đấy, sạch lắm, chả cần đun nấu gì. Khát nước, vài bụm nước là đã khát”.
Ông Tiến sinh ra sau thời chống Pháp, đi bộ đội trong kháng chiến chống Mỹ tám năm rồi về lại bản canh rừng tới tận bây giờ. Ông bảo rừng này ông Giáp đã ở để chỉ huy đánh đồn bản Mo. Ông thấy mình cần gìn giữ nó như một niềm tự hào thiêng liêng của bản làng.
Suốt 15 năm qua, công việc của ông là tuần rừng, canh rừng. Vợ chồng ông là một trong bốn hộ canh “rừng ông Giáp” với số tiền chưa đầy chục triệu đồng một năm. Số tiền công quá ít ỏi cho cả bốn hộ. Nhưng không vì thế mà ông lơ là nhiệm vụ canh rừng. Cái ao nuôi cá, mấy luống rau là vợ chồng ông chịu khó tăng gia để bớt đi phần nào khó khăn. Những hộ khác đều ở trong bản, chỉ thỉnh thoảng đi tuần, còn ông cứ khoảng hai ngày lại đi tuần một lần, mùa khô thì phải tuần hằng ngày để đề phòng cháy rừng. Khu rừng mênh mông rộng tới 200ha nên mỗi lần đi cũng mất cả nửa ngày trời.
“Cứ chỗ nào nhiều gỗ là phải đi tuần luôn cháu ạ. Rừng này đến cả cái cây bằng cổ chân cũng không được chặt”. Ông biết dân bản Nhọt chẳng ai vào rừng chặt cây nhưng lo là lo những người Mông ở bản xa, không biết chuyện vào phá rừng. Ông nhớ đận cháy rừng năm ngoái. Đám đốt rẫy của người Mông, gió thổi to quá liếm cả vào “rừng ông Giáp”. Ở dưới trông lên thấy khói bốc um trong rừng ông liền gọi điện ngay xuống huyện, hô hoán dân làng đang làm đồng gần đấy. Hôm ấy dân bản, lính biên phòng trên huyện cả mấy trăm người kéo xuống để cứu “rừng ông Giáp”. Đám cháy được dập tắt sớm nên rừng vẫn yên lành. Thế mới biết ở đây người ta quý “rừng ông Giáp” lắm.
Ông chủ tịch “ở rừng” bảo với chúng tôi rằng ông mới về hưu vẫn còn đủ sức để giữ rừng. “Chắc cũng giữ được chục năm nữa đấy. Ở đây lâu quá thành quen. Thôi thì đến khi nào chân không đi nổi nữa mình xin nghỉ chưa muộn”.
Rừng tình yêu
TT - Ở quãng đường ấy, một đầu là trung tâm thị trấn sầm uất, một đầu là khu trường học rộn ràng, quán xá san sát. Nhưng điều lạ lùng là sát bên đường lại có một khu rừng rậm mà tuổi của nó dễ hơn bất cứ bản làng Ê Đê nào nơi đây.
.
| Cây sung già với những sống rễ dài to tướng là chỗ leo trèo ưa thích của những đứa trẻ buôn Ea Mấp những buổi lên rừng hái nhãn, hái chay - Ảnh: Vũ Thủy |
Bản ôm lấy rừng
Khu rừng nằm trong lòng thị trấn Ea Pốk, huyện Cư M’Ga, Đắk Lắk, cách thành phố Buôn Ma Thuột chỉ hơn chục cây số. Hai buôn Ea Mấp và Cư H’Lăm trù phú của người Ê Đê ôm trọn khu rừng. Đưa tôi vào buôn Ea Mấp, H’Giang - cô gái người Ê Đê - bảo rằng đây là buôn giàu nhất huyện Cư M’Ga. Hai bên đường những ngôi nhà xây khang trang, mái đỏ san sát.
Truyền thuyết Ê Đê kể rằng nàng H’Hoan và chàng Y Đhin yêu nhau say đắm nhưng mang cùng một họ Êban nên bị chia lìa. Khi chết đi, hồn họ hóa vào cánh rừng. Rồi chẳng biết từ bao giờ, trai gái Ê Đê yêu nhau thường hay dắt nhau lên rừng tâm tình, thề non hẹn biển mong tình yêu được bền lâu.
Ngồi trong ngôi nhà to rộng, hiện đại trên bộ xalông gỗ sang trọng và chiếc quạt máy, lòng tôi không khỏi bán tín bán nghi về một khu rừng nguyên sinh đầy những điều huyền hoặc mà các già làng nhắc tới lại ở cách mình không xa. Những thành kính, thiêng liêng ngập tràn trong lời kể, trong đáy mắt của các cụ và của cả H’Giang, cô gái Ê Đê trẻ trung đi chiếc xe ga thời thượng ngồi cạnh chúng tôi.
Aê Bút, cụ già người Ê Đê đã 89 tuổi, tóc bạc phơ, tai đã lãng không còn nghe rõ nữa. Chỉ có nghe H’Giang nói tiếng Ê Đê tiếng được tiếng mất nhưng cụ đoán được đôi chút. Đôi mắt mờ đục của cụ hướng về khu rừng phía xa xa bảo rằng đó là cánh rừng thiêng nhất của người Ê Đê ở Cư M’Ga. Tiếng Ê Đê, Cư là núi, còn H’Lăm có nghĩa là tội loạn luân hoặc chỉ một người con gái bị vùi lấp. Lúc cụ sinh ra, khu rừng đã ở đó, như một khoảnh xanh yên lành của buôn làng nhưng cũng đầy ắp những điều kỳ bí đáng sợ.
Rời nhà già Aê Bút, chúng tôi nửa muốn vào rừng, nửa lại như chùng chình. Người dẫn đường vào rừng Cư H’Lăm của chúng tôi là anh chàng Ê Đê tên Lâm với mái tóc xoăn và làn da như mật ong hăm hở đi trước mở đường. Lâm bảo hôm qua cậu mới vào rừng tìm cây nhãn rừng và cả quả chay mà trẻ con Ê Đê vẫn thường ăn không biết chán. Lối vào rậm rịt, dây rừng giăng mắc khắp nơi khiến chúng tôi mò mẫm mãi mới lên được đến chóp rừng. Chúng tôi dọ dẫm lần theo con đường Lâm đi trước đã dẹp bớt cành lá lòa xòa, vậy mà không ít lần trượt trên những lằn rễ cây ngã lăn chiêng. Gai rừng thi nhau cào cấu.
Cu Hiếu 14 tuổi, đứa trẻ người Kinh hay theo Lâm vào rừng, nằng nặc đòi đi cùng chúng tôi mấy lần hét toáng giữa cánh rừng ảm đạm trong cơn mưa khi những con rắn nhỏ màu vàng chanh, sọc xanh đáng sợ cuốn lên chân cậu. Những con rắn ấy bò lổm ngổm khắp nơi trong rừng khiến chúng tôi lạnh người, càng cố căng mắt nhìn xuống nền đất rừng đầy lá cây mục để tránh giẫm lên chúng.
Anh Nguyễn Văn Minh, trưởng Ban Tuyên giáo huyện ủy Cư M’Ga, cho biết: “Rừng Cư H’Lăm là rừng phòng hộ thuộc quyền quản lý của Công ty Cà phê Ea Pốk (thị trấn Ea Pốk, huyện Cư M’Ga, Đắk Lắk). Người Ê Đê ở đây rất quý rừng và có ý thức bảo vệ rừng. Họ chẳng bao giờ vào chặt phá trong khu rừng thiêng. Ở trên nương rẫy hay hai bên suối, người Ê Đê cũng thường giữ lại những gốc cây to để giữ nước cho ruộng đồng, sông suối”.
Theo anh Trần Trung Ánh - nhân viên phòng kế hoạch - kỹ thuật của Công ty Cà phê Ea Pốk, rừng Cư H’Lăm rộng 18,48ha, thực vật trong rừng chủ yếu là sấu, ké, bằng lăng, sao. Công ty chịu trách nhiệm quản lý và giao đất cho dân trồng cà phê, sắn ở vùng tiếp giáp khu rừng. Ngày 24-9-2009, UBND tỉnh Đắk Lắk đã ra quyết định công nhận Cư H’Lăm là “Di tích danh lam thắng cảnh” của tỉnh.
|
Người Ê Đê coi cánh rừng thiêng như sinh mạng của mình. Thế nên mảnh đất này người Kinh lên lập nghiệp mấy chục năm, bao nhiêu quả đồi quanh đó đã trọc lốc thì rừng Cư H’Lăm vẫn xanh tươi.
Cụ Y Ruê Mlô kể năm ngoái bão vừa qua thì có mấy chiếc xe cải tiến của Công ty Cà phê Ea Pốk - đơn vị được chính quyền giao quản lý khu rừng - chở đầy những thân cây lớn. Nghi là cây trên rừng Cư H’Lăm bị chặt, dân làng bủa đến bao vây. Người công ty giải thích mưa bão cây rừng bị đổ nên họ dọn rừng, thấy cây to thì đem ra. Nhưng dân làng không tin, họ kéo người của công ty lên tận trên huyện để làm cho rõ ràng mới yên tâm. Cứ thế, lớp này nằm xuống, lớp khác sinh ra, những cụ già người Ê Đê vẫn nhắc nhở con cháu mình: “Buôn làng còn thì rừng Cư H’Lăm còn”.
Lời nguyền rừng Cư H’Lăm
Truyền thuyết Ê Đê kể rằng H’Hoan là cô gái xinh đẹp nhất buôn, đôi mắt sáng như sao trên trời, làn da trắng như cây chuối bóc ba lớp vỏ. Trai làng ai cũng muốn lấy nàng làm vợ. Nhưng trái tim nàng H’Hoan xinh đẹp đã trao cho Y Đhin, chàng trai Ê Đê cường tráng, gan dạ. Họ yêu nhau say đắm nhưng bị buôn làng ra sức ngăn cản vì mang cùng họ Êban. Truyền thống người Ê Đê không cho người cùng họ quen nhau, đó là tội loạn luân. H’Hoan và Y Đhin bị buôn làng trừng phạt, phải ăn trong những cái máng lợn và phải cúng con lợn trắng để già làng cầu xin thần linh tha tội.
Nhưng trong buổi cúng, con lợn trắng được cạo lông sạch sẽ nằm trên bàn cúng bỗng nhiên sống lại, chạy khắp nơi. Lợn trắng chạy đến đâu buôn làng sụp đến đấy. Chỉ có người họ Niê ở ngoài rìa bản nên còn sống và kể lại câu chuyện này. Còn chỗ buôn làng sụp xuống ấy nay là một cái đầm lầy lớn ngay sau khu rừng. Người làng bảo Y Đhin và nàng H’Hoan trải qua kiếp nạn đã hóa vào khu rừng gần đó khiến khu rừng trở nên linh thiêng. Quanh rừng hướng nào cũng là làng bản nhưng ai vào rừng nhắc đến tên H’Hoan và Y Đhin sẽ lạc lối. Người nào chặt cây về làm nhà thì nhà sẽ bốc cháy. Từ ấy không ai dám chặt cây trên rừng nữa.
Gặp già Ma Xí, 69 tuổi, tôi đem những điều kỳ lạ ấy nói với ông. “Những chuyện ấy giờ còn xảy ra không ạ?”. Nghe tôi hỏi, giọng già Ma Xí chợt có chút gay gắt: “Sao mà không còn chứ. Tôi bây giờ đi rừng ngày nào cũng phải nhắc cho mình nhớ, không thì vẫn bị luôn đấy”. Già Ma Xí kể rằng rừng bình thường chẳng thấy có bao nhiêu vắt, nhưng nếu hôm nào đó ông vào rừng trông thấy con vắt mà cứ la “vắt vắt” thì nó túa đến đông vô số kể. Trong rừng có loại cây dân làng hay chặt về làm chày vì rất cứng, dùng bao lâu cũng không mục, nhưng trước lúc vào rừng mà định bụng sẽ đi chặt cây ấy thì tìm cả ngày cũng không gặp. Cả đời ông không biết đã bao nhiêu lần bị như thế.
Những câu chuyện kể về rừng Cư H’Lăm trẻ con Ê Đê sinh ra lại được người lớn kể lại, dặn dò. Thế nên màu xanh trên rừng Cư H’Lăm cũng mãi trường tồn như tình yêu của H’Hoan và Y Đhin nhờ những câu chuyện bí ẩn ấy. Mùa bằng lăng tím rừng thành mùa chờ đợi của trai gái Ê Đê, đếm mùa bằng lăng trên rừng Cư H’Lăm để nhắc chuyện hẹn hò. Giữa cảnh rừng xinh đẹp, dưới những bóng cây cổ thụ, lời yêu của chàng trai cô gái Ê Đê như được chắp thêm đôi cánh. Họ cùng cầu nguyện cho tình yêu cũng sắt son như tình yêu của nàng H’Hoan và Y Đhin.
Rừng... hòa giải
TT - Vào rừng cãi nhau. Cãi xong rồi thì bao nhiêu hiềm khích sẽ được hóa giải. Nhờ vậy mà bản làng của người La Chí ở Bản Phùng (huyện Hoàng Su Phì, Hà Giang) luôn thuận hòa, yên vui.
.
| Thầy cúng Diêu Phù kể về “miếu cãi” trong khu rừng thiêng ngay phía trên ngôi nhà sàn của cụ - Ảnh: Vũ Thủy |
“Tòa án” giữa rừng già
Bản Phùng là một trong những xã xa nhất về phía tây huyện Hoàng Su Phì (Hà Giang). Đường lên Bản Phùng như con rắn vắt sườn dãy núi Tây Côn Lĩnh, một bên là núi đá dựng đứng, phía dưới là vực sâu hoang thẳm.
Sau mấy chục cây số đường cứ dốc lên mãi chẳng thấy xuống, bản làng La Chí hiện ra đẹp như cảnh thần tiên. Ruộng bậc thang đang vào mùa gặt chín vàng các sườn núi. Những ngôi nhà sàn nhỏ bé đứng bên những cánh đồng vàng óng. Phó bí thư Đảng ủy xã Long Văn Cương quần áo tề chỉnh đã chờ sẵn. Hôm nay anh là người đưa đường cho chúng tôi đi thăm “miếu cãi” trong khu rừng thiêng của người La Chí. Anh chỉ về phía cao nhất của Bản Phùng, nơi có một vệt xanh thẫm: “Rừng thiêng của người La Chí đấy. Miếu thiêng nằm trong đó”. Lại tiếp tục đi lên.
“Miếu cãi” nằm sâu giữa rừng, cạnh một gốc cây to cổ thụ, gần ngôi đền cúng thần rừng. Khu rừng rậm rì những gốc cây to và vắng lặng. Nhà thấy cúng của bản nằm ngay chân rừng. Ngồi bên cái bếp nhà sàn đỏ lửa, rít một hơi thuốc lào từ điếu cày, thầy cúng Diêu Phù kể cho chúng tôi nghe về phong tục có từ ngàn xưa của người La Chí.
Từ thời ông cha xưa để lại, cái miếu nhỏ xíu xiu trong rừng ấy lại là “tòa án” to nhất của dân Bản Phùng. Những ân oán, thù hận, những nghi vấn, ngờ hoặc lẫn nhau của dân bản đều được đưa ra “xét xử” ở đây. Chuyện kể lại rằng: hễ ai có xích mích hay gây mất lòng, thù hận nhau hoặc nhà nào trộm cắp con trâu, con gà của nhau mà không có bằng chứng, tang vật, cứ tranh cãi dùng dằng thì cùng dắt tay nhau vào rừng để thần rừng phân xử.
Mỗi bên đều phải chuẩn bị lễ vật cúng thần rừng để giải oan, mổ con lợn, làm thịt con gà rồi vào rừng. Tám thầy cúng của bản sẽ đứng ra làm lễ mời thần rừng đến phân xử đúng sai. “Phiên xử” linh thiêng và hết sức đặc biệt giữa rừng tiếp tục khi các thầy cúng cho phép mỗi người trình bày oan khuất của mình cho thần rừng nghe, cho thầy cúng biết và người làng tường tận. Có sự chứng kiến của thần rừng nên chẳng ai dám nói dối. Làm lễ xong thì mở tiệc ngay giữa rừng đãi bà con dân bản, sau đó ai về nhà nấy. Bước ra khỏi rừng những mâu thuẫn, hiềm khích coi như “xí xóa”, không bên nào được nhắc lại nữa. Không ít người trước khi vào rừng còn chối bay chối biến những hành vi sai trái của mình, nhưng bước vào miếu thiêng, sợ thần linh trừng phạt họ nhận lỗi rồi bồi thường thiệt hại cho “bên nguyên”.
Theo quan niệm của người La Chí, tổ tiên họ là Hoàng Dìn Thùng. Thân thể ông là dãy núi đất trùng điệp trên đó các bản làng La Chí sinh tụ. Phần đầu của ông sinh ra người anh cả ở Bản Díu, người con thứ hai sinh ra từ bụng là Bản Phùng, còn người con út sinh ra ở chân là Bản Máy, Bản Pắng. Họ đều là anh em một nhà và có chung 10 cánh rừng thiêng. Anh Long Văn Cương, phó bí thư Đảng ủy xã Bản Phùng, cũng là người La Chí. Anh cho biết tục lệ linh thiêng ấy của ông cha vẫn tồn tại cho đến hôm nay, lễ giải oan không còn nhiều như xưa nhưng nó mang giá trị tinh thần rất lớn, khiến anh em La Chí trung thực, hòa thuận và đoàn kết với nhau hơn.
|
Không biết những “miếu cãi” của người dân có từ bao giờ. Trong cuốn biên niên sử duy nhất của người La Chí không thấy nhắc đến, những người già nhất ở Bản Phùng cũng không thể nào tường tận, họ chỉ biết được rằng khi họ sinh ra tục lệ đã có rồi!
Mẹ cả của những cánh rừng sau núi
Người La Chí Bản Phùng với gần 500 hộ gia đình nằm trải dài một bên sườn núi, còn khu rừng thiêng nằm ngay chỗ cao nhất của bản, trên đỉnh Lủng Cẩu.
Dân làng La Chí sống dựa vào những cánh rừng thiêng. Thầy cúng Diêu Phù kể rằng nếu mùa màng bị sâu hại, trâu bò, con người mang dịch bệnh họ nghĩ ngay đến việc đã làm mạo phạm thần linh. Già bản sẽ bói để xem phải cúng ở rừng nào. Sâu bọ phá mùa màng cúng rừng này nhưng trâu bò chết lại cúng ở rừng khác... Từ ông thầy cúng già cho đến đứa trẻ ở Bản Phùng đều “coi rừng như mẹ cả”. Và người La Chí sống chết cũng phải bảo vệ mẹ rừng.
Người già trong bản kể lại rằng hồi ấy chiến tranh diễn biến ác liệt, thằng giặc Pháp từ mạn Lào Cai, Yên Bái tràn sang Bản Phùng. Chúng đốt rừng, ùa vào nhà chém giết bà con dân bản, bắt trâu bò, gà vịt làm thịt bừa phứa linh đình suốt nhiều ngày. Rồi trong đám giặc ấy có nhiều tên hóa dại điên cuồng, sau chết gục bên cạnh con suối nhỏ dưới chân bản.
Từ đấy, dân Bản Phùng bảo vệ “mẹ rừng” như cơ thể của mình. Vậy nên mới có chuyện suốt dãy núi Hoàng Dìn Thùng, nơi người La Chí sinh sống, có những cánh rừng rậm chằng chịt đủ các loại cây dù xung quanh đồi trọc bao la. Trong rừng, những cây chò, cây sanh, cây lim rêu mọc quanh thân mấy người ôm vẫn còn tồn tại cho đến ngày hôm nay.
Anh Triệu Tiến Quang, bí thư Huyện đoàn Hoàng Su Phì, bảo rằng rừng thiêng và tục cúng thần rừng hầu như tồn tại ở tất cả dân tộc anh em xứ Hà Giang này. Với người La Chí, rừng là nơi vô cùng tôn kính, nơi trang nghiêm để “tám hồn chín vía” cha ông trú ngụ. Cứ mồng 2 tết hằng năm, họ Long, họ Vương, họ Ly, họ Tận sẽ đại diện cho bà con vào rừng mổ trâu, mổ lợn, mổ gà cùng đôi cái bánh chưng vào miếu giữa rừng sâu để “diện kiến” thần linh. Những người La Chí ở Bản Díu, Bản Pắng, Bản Máy bên kia những quả núi cũng được báo tin đến dự.
Trong suốt hành trình đi tìm những câu chuyện rừng, không chỉ ở những bản làng La Chí, chúng tôi còn bắt gặp ở xã Thèn Chu Phìn, xã Tụ Nhân (Hoàng Su Phì, Hà Giang) những khu rừng cấm còn nguyên dáng dấp của sự hoang sơ nguyên vẹn.
Điểm chung nhất ở những nơi này là tự thân người dân bản không bao giờ đụng đến rừng. “Ở Bản Phùng, hầu như không mấy khi người dân dám vào rừng, đền thờ cũng không bước vào” - cụ Diêu Phù nói như đe chúng tôi. Ai chặt cây rừng bị bắt gặp sẽ bị dân làng phạt vạ, mổ trâu, mổ lợn cúng thần rừng. Từ sự tôn trọng rừng ấy mà trong những bản làng xa tít này, người ta vẫn có thể thấy được hình dáng ẩn dật của những cánh rừng hoang sơ và cô độc.
Người Bản Phùng chẳng còn ai biết những cánh rừng thiêng có từ bao giờ. Nhưng tục mổ trâu cúng thần rừng mồng 2 tết của người La Chí vẫn diễn ra hằng năm. Và cái “bảo tàng sọ trâu” của họ cũng chẳng ai đếm được đã mấy trăm chiếc.
Nhà sọ trâu nằm ngay chân rừng cãi. Từ nhà thầy cúng Diêu Phù, chúng tôi băng qua mấy thửa ruộng bậc thang đến một ngôi nhà bên cạnh cây mận chua trĩu quả. Nhà rộng chừng chục mét vuông, không có cửa, không có tường, chỉ có gỗ rừng làm cột kèo và mấy tấm fibro ximăng để che đậy mưa nắng. Ngang trên những cột kèo ấy là nhiều sọ trâu được xếp cẩn thận và ngay ngắn. Mỗi lần cúng thần rừng, dân bản sẽ làm thịt trâu đem vào rừng cúng. Sọ trâu đem về treo lên một cây tre khô đằng sau nhà sọ trâu. Khi nào cây tre này đổ gãy thì dân làng lại tiếp tục mổ trâu để cúng thần. Còn đầu trâu bị rơi xuống đất kia sẽ được đem vào “bảo tàng” của dân tộc chính là ngôi nhà sọ trâu. Sọ trâu theo năm tháng cũng hư nát dần mòn.
Bản Phùng đẹp ngây ngất như một bức tranh với những sườn ruộng bậc thang bao la, hùng vĩ. Người La Chí bắc ống tre dài cả chục, cả trăm mét dẫn nước từ trên khe núi xuống tưới tiêu ruộng đồng. Tổ tiên của họ chọn những cánh rừng thiêng cũng chính là những cánh rừng đầu nguồn. Nhờ những khu “rừng cãi”, rừng thiêng mà nguồn nước cuối cùng cho đồng ruộng của người La Chí được bảo vệ.
Nỗi buồn “tu xửa, pá heo”
TT - Chỉ một buổi sáng cơn lũ kéo qua, ruộng nương, đồng bãi bản Mòng (xã Hua La, TP Sơn La) tan tác. Những cánh rừng thiêng không còn để che chở bản làng nữa. Người già than khóc: “Trời phạt. Làng làm mất nhiều rừng quá nên phì pá (ma rừng) nổi giận trừng phạt”.
.
Con suối Nậm La trước bản đỏ quạch, có chỗ trơ sỏi đá - Ảnh: Vũ Thủy
|
Trong câu chuyện về rừng, ông chủ tịch Mặt trận Tổ quốc bản Mòng - Quàng Hôm thường mở đầu câu nói của mình bằng từ “hồi đó”. “Hồi đó” của ông là từ những năm 1980 trở về trước. Ông nói chuyện, giọng buồn tênh. Tôi nghe như có hai bản Mòng trong câu chuyện của ông.
“Hồi đó” ở bản Mòng
“Hồi đó tu xửa, pá heo của bản Mòng toàn những cây cổ thụ to lắm”. Đó là bản Mòng đã xa tít mấy chục năm trước trong trí nhớ của Quàng Hôm. Rừng nằm ở đầu bản hay cuối bản thì gọi là tu xửa và rừng để chôn cất người chết gọi là pá heo. Họ bảo chỗ nào có đất, có nguồn nước thì có chủ, có ma và những gốc cây to chính là nơi ma rừng trú ngụ. Người Thái sợ ma rừng, họ không dám động chạm vào những gốc cây ấy chứ đừng nói đến chuyện chặt phá.
Người Thái chết đi, người thân phải tìm một gốc cây trong rừng mà chôn họ. Cúng ma gọi hồn một tháng, sau đó họ không bao giờ làm kinh động đến phần mộ của người quá cố nữa. Người nào làm đổ cây cối xung quanh vào mộ sẽ bị dân làng phạt vạ. Còn trên rừng tu xửa, mỗi dịp xuân về bản làng lại nhộn nhịp làm lễ cúng, ba ngày không cho người nơi khác vào bản, cả bản không đi làm chỉ ở nhà chơi. Trong tâm thức, họ luôn có một nỗi sợ, một niềm thành kính với từng gốc cây trong những khu rừng thiêng. Họ sống cùng với rừng lại vừa sợ rừng.
“Hồi đó con suối Nậm La chảy trước bản cứ cách vài chục mét lại có vũng nước trong. Dọc hai bên suối có những cây tự nhiên, những cây cổ thụ tỏa bóng xuống đẹp đẽ vô cùng”, Quàng Hôm như đang mơ màng về một xứ thần tiên. Bên những vũng nước trong ấy, chiều chiều đám trẻ chăn trâu đưa trâu về lại nhảy ùm xuống vẫy vùng trong làn nước trong trẻo, mát lành. Trẻ con ngày ấy không đứa nào không biết bơi. Đầu bản cuối bản đều có những gốc sấu tán to mấy người ôm không xuể.
Đến tận lúc đi chiến trận, Quàng Hôm vẫn mang theo hình ảnh đẹp đẽ ấy của bản làng để thao thức mỗi đêm hành quân. Nhưng rồi có dạo dân làng cứ đua nhau làm nhà gỗ. Nhà càng to càng đẹp. Thanh niên mới lớn trong bản chẳng còn sợ con ma rừng nữa. Chẳng mấy chốc những cây lớn trong rừng bị chúng chia nhau chặt không còn một cây. Pá heo, tu xửa đều tan nát. Quàng Hôm còn nhớ rõ về một cây đa cổ thụ đường kính hơn 2m. Đến cả cái giống đa vốn chẳng lấy gỗ bao giờ dân làng cũng không buông. Họ xúm vào chặt mấy ngày mới đổ, chia gỗ ra làm nhà. Quàng Hôm kể đến đó dừng lại rít điếu thuốc lào. Trong làn khói thuốc, ánh mắt ông buồn thảm: “Tiếc ghê lắm”.
Thiên nhiên trừng phạt
Dân làng đã phá sạch cây rừng nhưng lúc đó dòng Nậm La trước bản vẫn còn những vũng nước trong xanh và những tán cây xanh mát. Dân bản không chặt. Họ vẫn còn cần những cái cây ấy che chỗ tắm giặt. Trẻ con vẫn còn có chỗ bơi lội. Coi như vẫn còn một niềm an ủi với những người bản còn nhớ cảnh rừng như Quàng Hôm. Nhưng cả dòng suối dường như cũng biết đau nỗi đau cây rừng, giận nỗi giận cây rừng.
Không lâu sau đợt phá tu xửa, pá heo rầm rộ của dân bản Mòng, thảm họa khủng khiếp giáng xuống. Ngày 26-7-1991 trời mưa như trút nước, đến sáng 27 lũ về. Lũ ầm ầm đổ qua con suối Nậm La trước bản. Cũng may là sáng sớm nên chưa ai ra suối, xuống đồng nhưng trận lũ ấy Hua La vẫn có ba người chết trôi. Nghe tiếng lũ rầm rập, Quàng Hôm cũng chạy ra xem.
Giữa dòng nước đục ngầu đang gầm gào đổ xuống, những cây cổ thụ ngổn ngang đã được chặt đẽo chẳng biết từ đâu trôi về. Có những thân cây mắc kẹt ở những hòn đá to đường kính tới mét rưỡi. Dân làng nhìn lũ kinh sợ bảo rằng do trời làm hại. Dòng lũ giận dữ, hung hãn tràn tới, hoa màu, ruộng đồng chỉ còn là những bãi bùn lầy lội.
Cụ Lèo Văn Sáng 85 tuổi và cụ Quàng Văn Piến 87 tuổi, những người già còn sót lại trong bản, là những người cuối cùng vẫn còn tin vào thần linh. Họ bảo đợt lũ là do trời phạt. Mất nhiều rừng nên phì pá (con ma rừng) mới nổi giận trừng phạt.
Sau trận ấy, dòng suối Nậm La chỉ còn là một dòng chảy yếu ớt, đỏ ngầu, chẳng còn vũng nước trong xanh cũng chẳng còn cây cối tỏa bóng. Nhiều đoạn suối cạn khô trơ sỏi đá, dân đào vàng dựng lán trại đào đãi càng khiến dòng suối thêm thê thảm. Từ đó, cứ cách mấy năm bản Mòng lại bị lũ quét qua. Về sau Quàng Hôm và dân bản đi trồng lại rừng, những cơn lũ quét mới hiền dịu bớt.
Quàng Hôm đi học nhiều, làm cán bộ xã. Cũng chẳng biết rừng có thiêng hay không nhưng ông biết lũ là do không còn rừng. Cha ông người Thái có lý của họ khi tôn thờ rừng pá heo, rừng tu xửa ở hai đầu bản, để giữ cái nguồn nước, giữ cho mùa màng, nhà cửa không bị những cơn mưa lớn cuốn đi. Niềm thành kính của họ với rừng bắt nguồn từ mong muốn được bảo vệ. Tổ tiên của ông khôn ngoan, nhìn xa trông rộng hơn người Thái bây giờ!
Sau cơn lũ, nhìn cảnh làng tan hoang, Quàng Hôm cùng phụ lão trong bản xuống phòng lâm nghiệp xin giống cây chẩu, cây sấu, cây lát về trồng lại ở bản. Quàng Hôm chỉ tay ra khu rừng sấu, rừng lát trồng mới ngay sau nhà. Rừng cây giờ đã khép tán hết rồi và được giao cho hội phụ lão quản lý, chăm sóc kỹ lưỡng, không ai được chặt phá, kiếm củi, hằng năm chỉ tổ chức dọn phát bớt những cây nhỏ phía dưới. Ông bảo trước mắt gây rừng để bảo vệ nguồn nước, sau này nếu có khai thác cũng chỉ cắt tỉa chứ nhất định không cho chặt.
Trồng được kha khá rừng rồi, Quàng Hôm vẫn buồn. Ông bảo vẫn có rất nhiều người bản được tuyên truyền ra rả mà vẫn còn phát rừng ở bản này bản kia. Đất ngày càng chật, người ngày càng đông, quản lý đất không chặt chẽ, người ta tranh thủ để lấy đất, chiếm đất. Hầu như lớp già quan niệm rừng có thần linh canh giữ đều đã đi hết. “Người ta trồng rừng là do chủ trương của Nhà nước, gắn lợi ích cá nhân của họ, họ mới trồng, chứ ý thức trồng rừng để cải tạo tự nhiên thì hiếm lắm”.
Ông bảo có những lần ông được vào tận vùng sâu vùng xa của người Thái vùng sông Mã, thấy người ta vẫn còn những khu rừng tu xửa, pá heo nguyên sinh. “Trông rừng của họ, nghĩ mà tiếc cho người dân tộc Thái bản mình”. Ngày trước, rừng ở bản Mòng còn rộng hơn, nhiều cây to hơn thế.
.
Thần thoại bị mất
Người làng vẫn truyền tai nhau câu chuyện về con thuồng luồng, chủ vũng nước trong - chỗ suối Nậm La, suối Tong gặp nhau rộng hơn nghìn mét vuông.
Vào năm nọ cứ đêm về là có một chàng trai trẻ, rất bảnh trai đi tán tỉnh một cô gái xinh đẹp ở bản Nẹ. Trai gái Thái ngày xưa thường ngồi đầu sàn nói chuyện với nhau, cô gái ngồi dệt vải, xe sợi, bố mẹ không được nhìn mặt. Thế rồi chàng trai cô gái yêu nhau lúc nào không hay. Một lần chàng trai rủ cô gái đi thăm nhà. Cô gái đồng ý đi nhưng sợ bố mẹ dậy không thấy con sẽ lo lắng nên mới lấy cuộn dây sợi vừa đi vừa kéo theo. Đến sáng sớm bố mẹ cô gái gọi mãi chẳng thấy con gái đâu mới lần theo sợi chỉ. Sợi chỉ dẫn họ xuống thẳng vũng nước trong. Đến lúc này họ mới chắc mười mươi chàng trai trẻ đẹp đến tán tỉnh con gái họ hằng đêm là thuồng luồng, chủ vũng nước hóa thành. Thuồng luồng thấy cô gái xinh đẹp đã tìm cách tán tỉnh và bắt cô về làm vợ. Từ đó vũng nước trong trở lên rất linh thiêng.
Thế nhưng cái vũng nước trong nổi tiếng khắp vùng ấy giờ chỉ còn là bãi cát bồi trơ trọi sau cơn lũ khủng khiếp năm 1991. Và thần thoại về con thuồng luồng - chủ vũng nước xinh đẹp - cũng chẳng mấy người còn nhắc đến.
|
Rừng thiêng bản Cậy
TT - Dân làng thờ thần rừng, chủ rừng trong những ngôi đền thiêng giữa rừng. Đền thiêng lẳng lặng nằm dưới tán rừng già, sẵn sàng trừng phạt kẻ nào thiếu lễ nghĩa với rừng, với luật tục của làng. Rừng thiêng là nỗi sợ hãi của người Nùng bản Cậy.
| Lối vào đền thiêng - Ảnh: Vũ Thủy |
Thần rừng trừng phạt
Thầy cúng Vương Hữu Chương nhìn chúng tôi cất lời buồn bã: “Năm trước, Vàng Pồ Hiên làm thầy cúng rừng đã trót ăn thịt chó, thần rừng phát hiện đã phạt làm cho Pồ Hiên hóa dại”.
Ở bản Cậy, người thầy cúng khi vào lễ thần rừng phải mặc trang phục truyền thống của người Nùng. Đêm trước khi làm lễ, thầy cúng phải tắm bằng nước lá bưởi và giữ cho mình chay tịnh, nhất là không được ăn thịt chó trong vòng ba ngày.
Trưởng thôn Hoàng Tiến Sỹ, người từ đầu đã can ngăn chúng tôi không nên đòi đến thăm rừng thiêng, trầm ngâm nhớ lại: “Năm nào không cúng thần thì sâu bọ sẽ phá hoại hết mùa màng”. Vài năm trước, mưa lớn khắp vùng, đồi núi bị mưa xói, cây cối như cành củi cuốn tròn theo dòng lũ lớn. Đồi núi trơ ra đất đỏ như con người để hở hết da thịt. Nhìn mà xót xa, đau đớn. Khi ấy dân bản đói kém, không làm lễ cúng thần rừng, đến khi vào vụ, sâu bọ không rõ ở đâu kéo về phá hoại hết. Từ đó trở đi, dù được mùa hay đói kém, dân bản vẫn bảo nhau đến dịp thì vào rừng làm lễ cúng thần.
Khi chúng tôi đề nghị vào thăm rừng ma, anh Tiến Sỹ, trưởng thôn bản Cậy, xua tay lắc đầu quầy quậy: “Không phải ngày cúng thì không được phép vào rừng đâu”. Chỉ đến khi thầy cúng hứa sẽ đi theo cúng xin phép thần linh mở cửa rừng đón chúng tôi, anh mới dám dẫn đường cho chúng tôi vào đền. Con đường mòn tuyệt nhiên không thấy dấu chân hay bóng dáng con người, chỉ có tiếng chim rừng lảnh lót. Đi chừng vài trăm mét thấy một gốc cây to, theo chân trưởng bản chúng tôi tiếp tục vạch lá, đi xuyên qua những rễ cây già rêu mọc chừng thấm mệt mới thấy ngôi đền thiêng hiện ra.
Đền được xây cất trên một mảnh đất bằng phẳng, trước đây là một ngôi nhà trình tường bằng đất nện, lợp mái tranh nhưng nay được xây lại và lợp ngói kiên cố hơn. Bên trong đền đặt một dãy bàn dài, ở trên là sáu bát hương lớn. Thầy cúng già mắt đã mờ nhưng đôi chân thoăn thoắt đã đứng đợi sẵn. Ông chăm chú đốt lửa châm bó nhang đen ngoài cửa đền rồi dẫn chúng tôi vào. Ông lầm rầm khấn vái. Tôi chẳng hiểu ông nói gì chỉ nghe loáng thoáng mấy từ “thanh niên miền Nam”.
Thầy cúng xin phép thần rừng xong xuôi mới yên tâm kể cho chúng tôi nghe về tục lệ cúng rừng. Lễ cúng thần rừng diễn ra vào tháng 2 và tháng 6 hằng năm, cúng tháng 2 được coi như lễ khởi đầu năm mới, khởi đầu mùa vụ mới. Cúng thần dịp này là mong thần linh phù hộ cho mùa màng tốt tươi, dân làng có hạt thóc, hạt ngô, quả bầu, quả bí làm cái ăn, cái giống. Còn cúng tháng 6 là lễ cúng kết thúc mùa vụ, như một cách tạ ơn thần rừng đã bảo vệ mùa màng, đã cho ngô, cho thóc để dân bản ấm no.
Cứ ba năm lại có một lễ cúng lớn. Lễ vật đem tế cho thần rừng là một con trâu, một con lợn và bốn con gà. Lễ cúng này thì tất cả mọi người trong bản sẽ tụ tập lại quanh đền, cùng mổ trâu, mổ lợn, gà để dâng cúng thần, rồi sau đó cùng nhau ăn uống linh đình, chúc tụng nhau cho tới khi trời tối. Kết thúc lễ lớn, mọi người lục tục kéo nhau về nhà, nhưng không ai được phép mang bất cứ thứ gì thừa ra khỏi rừng, đồ ăn không hết sẽ để lại ngay tại rừng, nếu không sẽ bị thần rừng trừng phạt.
Câu nói “rừng trừng phạt” được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong câu chuyện của thầy cúng già. Nhưng với trưởng thôn Tiến Sỹ thì “nhờ ngôi đền thiêng mà cây rừng không bị chặt phá”. Bởi người Nùng bản Cậy tin rằng rừng là nơi các vị thần trú ngụ, dân không được phép vào rừng chặt phá. Nhà ai trót dại vào rừng bẻ cành măng, ngọn trúc thì bị thần rừng phạt, dân bản phát hiện phải nộp thóc, góp gạo cho làng để làm lễ cúng thần. “Hầu như chưa có trường hợp chặt phá cây rừng nào xảy ra ở bản cả” - trưởng thôn đứng giữa rừng già tự hào khẳng định lại với chúng tôi.
| Thầy cúng Vương Hữu Chương thắp hương trong ngôi đền tối tăm - Ảnh: Vũ Thủy |
Nguồn cội đền thiêng
Nhà già bản Vàng Pồ Thiền nằm vắt ngang một vạt đồi xanh mướt. Cây mận, cây đào lúc lỉu quả ở chái nhà chào đón khách. Pồ Thiền đã 94 tuổi nhưng đôi chân chưa biết mỏi. Trưởng thôn kể: Pồ Thiền vẫn thường đi bộ gần 10km đường rừng xuống chợ Su Phì mua quả dưa, con cá đãi con cháu mỗi khi có dịp. Tiếng chó sủa váng cả mấy quả đồi, Pồ Thiền từ trong mùng lục tục bước ra thềm ngó người lạ. Đôi tai cụ đã hỏng, nghe câu được câu không, tiếng Kinh không sõi, trưởng thôn Hoàng Tiến Sỹ trở thành người phiên dịch bất đắc dĩ cho chúng tôi.
Từ trong trí nhớ mờ mịt của mình cụ kể chuyện như suối chảy: Tục cúng thần rừng bắt nguồn từ một chàng thanh niên vạm vỡ mang tên Vàng Pồ Tưởng. Pồ Tưởng là người dân bản, ngay từ khi Pồ Thiền mới chập chững, Pồ Tưởng đã là chàng thanh niên mới lớn; Pồ Tưởng tướng vạm vỡ, dẻo dai như cây mây, cây gai trong rừng.
Dân làng chăm chỉ khai nương, mở đất mà mùa màng vẫn bị sâu bọ phá hoại, bà con không có miếng ăn vào bụng. Nghe người ta kể ở bên kia ngọn núi mang tên Hoàng Dìn Thùng có vị thần rừng thiêng liêng bảo vệ mùa màng quanh năm, Pồ Tưởng quyết men theo rừng rậm, leo ngược về phía ngọn núi ấy để rước linh hồn thần rừng về phù hộ dân làng.
Sau khi lấy được hồn thần về, Pồ Tưởng định lập đền thờ ở con dốc nhỏ giữa thôn để cúng thần. Để làm lễ cúng thần, Pồ Tưởng đi bắt một con trâu to về làm thịt. Nhưng dắt mãi con trâu không chịu đi đến chân dốc, rồi bỗng dưng dây thừng tuột mũi, con trâu chạy liền một mạch vào giữa rừng sâu nằm xuống ở một bãi đất trống bằng phẳng, cây cối bao bọc xung quanh. Pồ Tưởng thấy vậy nghĩ rằng nơi con trâu nằm chính là nơi thần rừng muốn dựng đền để thờ phụng. Ngay lập tức, Pồ Tưởng cho lập đền thờ thần rừng chỗ con trâu to đã nằm.
Từ đó đến nay, đã hơn 100 năm tồn tại, mặc cho thời gian trầm tích, chiến tranh tàn phá, ngôi đền thiêng và khu rừng già ở bản Cậy vẫn sừng sững, quanh năm bảo vệ mùa màng. Và những cánh rừng ở đây cũng mãi trường tồn, như tấm lưng to bằng vách núi cho người Nùng dựa dẫm muôn đời.
Từ đó, những mong ước về sự sung túc cũng như những chuyện trừng phạt của thần rừng bắt đầu hình thành và lan ra từ ngôi đền thiêng. Đền thiêng đang bảo vệ cho sự tồn tại đơn độc của những người Nùng giữa núi này bằng sức mạnh của những câu chuyện ẩn giấu bên trong nó và tình yêu của người làng dành cho những ngày lễ lạt quen thuộc.
Chúng tôi rời bản Cậy khi sương mù chen kín trên những ngọn thông. Rừng ở đây bình yên quá, như chưa bao giờ phải sống trong cơn sợ hãi tuyệt vọng bởi những nhát cưa của lâm tặc hoành hành. Đền thiêng vẫn sẽ tiếp tục làm nhiệm vụ gìn giữ cánh rừng bản Cậy này.
Làng đi, rừng ở lại
TT - Hôm hay tin chính quyền TP Đà Nẵng ban hành quyết định giải tỏa trắng ở xã Hòa Liên (huyện Hòa Vang) để làm khu đô thị mới Quan Nam - Thủy Tú, dân làng Trung Sơn nhốn nháo.
.
Không phải họ phản ứng chuyện Nhà nước thu hồi đất đai, nhà cửa đang ở hay đền bù không thỏa đáng mà là chuyện... cánh rừng.
| Anh Võ Chí Tiến bên khu giếng cổ của làng - Ảnh: ĐĂNG NAM |
Ngay lập tức các bô lão trong làng ngồi viết tâm thư: “Sẵn sàng nhường đất để Nhà nước làm khu đô thị, nhưng tha thiết mong chính quyền giữ lại cánh rừng cho con cháu”.
Biết ơn... rừng
Con đường làng Trung Sơn (xã Hòa Liên) bây giờ xe ben vào ra tấp nập để làm khu đô thị mới. Cánh đồng, làng mạc chủ đầu tư đã cho san ủi lấp hết rồi. Đất đổ đã cao quá đầu người. Cả vạn người dân Trung Sơn cũng đang hối hả như những dòng xe ra vào làng vậy, họ chuẩn bị cho ngày dời cả làng về nơi ở mới. Lòng dân ngày sắp rời xa nơi chôn nhau cắt rốn bồi hồi, ngậm ngùi lắm. Họ đi, bỏ lại sau lưng mọi thứ gần gũi nhất, mai mốt đây thôi tất cả sẽ vùi vào lòng đất. Nhưng có điều ai cũng mừng là cánh rừng được giữ lại, vẹn nguyên.
Anh Võ Chí Tiến, một người dân Trung Sơn, dẫn chúng tôi bước lên từng thềm cấp của đình làng nằm trong rừng Trung Sơn. Chỉ cách đó vài trăm mét, ngoài kia tiếng máy nổ xình xịch, xe cộ san ủi đất rền vang. Thế mà phía bên trong sân đình, đám trẻ con tụ tập hồn nhiên chơi bắn bi dưới gốc đa mát rượi.
Anh Tiến nói với vẻ tự hào: “Ngôi đình và cánh rừng là linh hồn của cả làng này đó. Tuổi thơ của con em Trung Sơn lớn lên dưới cánh rừng này. Bây giờ thì yên tâm, chắc chắn đã giữ được đình, được rừng rồi”.
Vừa nói, anh Tiến dẫn chúng tôi len qua triền dốc vào bên trong khu rừng. Con đường nhỏ chỉ một người đi lọt xuyên rừng đầy dấu chân, cát mịn. Hầm bí mật một thời nuôi giấu, là đầu não của các trận đánh nổi tiếng vẫn còn nhiều dấu tích rải rác khắp cánh rừng. Hai bên là hàng chục loại cây nguyên sinh như giẻ, chùm bù, sao ta, lò to... Càng đi vào sâu trong rừng, không gian bình yên đến lạ thường. Tiếng chim kêu, tiếng cu gáy vang cả góc rừng. Anh Tiến cho biết vào những buổi chập choạng tối, nhất là mùa đông, từng đàn chim cò, bồ nông... về đậu kín cả cánh rừng.
Ông Hà Thúc Hoa (84 tuổi), sống bên mép rừng từ ngày cha sinh mẹ đẻ, nói dân làng Trung Sơn biết ơn khu rừng này nhiều lắm. Thiên nhiên đã ban tặng cho người dân Trung Sơn thảm thực vật phong phú này. Nhờ có cánh rừng mới giữ được nguồn nước ngọt dồi dào, trong mát, tuôn trào không bao giờ cạn. Giếng nước nơi đây không những nuôi sống, tắm mát cho dân làng bao đời mà còn cung cấp nước uống cho dân cư các làng lân cận như xóm Nà, Thổ Trại, Phái Sáu. Rừng tỏa bóng mát yêu thương cho con cháu nương tựa.
Còn cụ tộc trưởng tộc dòng họ Hà Thúc (một dòng họ sống lâu đời ở làng Trung Sơn), ông Hà Thúc Duyên (88 tuổi) nói ông là người trải qua hai cuộc chiến nên ông thấu hiểu được giá trị của khu rừng này. “Ngày kháng chiến chống Mỹ vào thời điểm khốc liệt nhất, rừng Trung Sơn là nơi che giấu, căn cứ làm bàn đạp đánh đồn Mỹ ở Thanh Vinh. Một thời gian sau Mỹ biết được “bí mật” từ khu rừng này nên tìm cách nhổ bỏ.
Nhiều chiến dịch “xóa sổ” Trung Sơn đã được phát đi từ các căn cứ của Mỹ đồn trú quanh đó. Nhưng tất cả đều dừng lại ở bìa rừng vì người Trung Sơn từ già đến trẻ đều một lòng quyết “nằm dưới bánh xe xích” ngăn bước quân thù. Không đốt, phá được rừng, lính Mỹ đành rút về căn cứ.
“Cả làng này khi ấy chưa đến vài trăm hộ vậy mà đã có gần 100 liệt sĩ và mẹ VN anh hùng là chú biết sao rồi” - cụ Duyên nói giọng đầy hãnh diện.
| Đình làng Trung Sơn nằm cạnh bìa rừng - Ảnh: ĐĂNG NAM |
Xin giữ rừng cho cháu con
Anh Tiến dẫn chúng tôi xuyên qua cánh rừng đến một cái giếng cổ nằm ở cuối làng. Giếng hình chữ nhật, được áp bằng các tảng đá xanh rì, linh thiêng. Trên thành đá người dân dùng để mài dao mòn nhẵn. Giếng nước trong đến độ đứng trên thành giếng nhìn xuống thấy rõ đáy.
Tộc trưởng Duyên tâm sự: “Theo sách sử, giếng làng có từ thời Chăm. Cha ông tôi kể vào mùa cạn kiệt nhất nhưng giếng chưa bao giờ cạn nước. Tôi vẫn nhớ như in ngày mới lớn, năm đó hạn hán khốc liệt lắm. Các vùng xung quanh như Vân Dương, Thanh Vinh sông, hồ không còn giọt nước cho trâu bò uống thì giếng làng tôi nước vẫn đầy vơi. Mùa khô năm ấy, người lớn làng bên thì mang thùng, can qua xin nước về uống, bạn bè nhỏ tuổi chúng tôi ở làng bên chiều chiều tập trung qua đây xin tắm nhờ. Còn các bà, các chị thì ngày ngày gánh nước về tận khu Hòa Khánh, Xuân Thiều để đổi lấy gạo đem về đưa vào rừng nuôi quân. Hồi đó trong những buổi hội làng, họp đình, các cụ cao niên đều răn dạy con cháu rằng “rừng đã giữ nước ngọt cho làng thì làng phải biết giữ rừng mà sống. Giữ được rừng là nuôi được quân, là giữ được nước. Ở làng này bất cứ đứa trẻ nào lớn lên cũng được răn dạy như vậy”.
Cụ Duyên nói sau ngày giải phóng, truyền thống giữ rừng vẫn được tiếp nối. Các thế hệ con cháu đều được cha mẹ dạy phải biết giữ rừng. Còn làng cũng ra hương ước bảo vệ rừng. Cánh rừng như một vật báu thiêng liêng bất khả xâm phạm. Không ai được vào rừng chặt củi, bắt thú, bắn chim. Thanh niên thì lập từng nhóm bảo vệ chống cháy rừng. Nếu phát hiện ai chặt rừng sẽ bị làng phạt. Còn anh Tiến cho biết dân làng ai cũng có ý thức bảo vệ nhưng mới đây rừng đã bị người lạ tới xâm phạm.
“Họ thấy trong khu rừng này nhiều cát trắng nên đem xe tới đào xúc vào ban đêm. Mấy hôm liền thấy “mất cát” dân không biết ai xúc nên rình bắt thủ phạm. Thế là các cụ giao cho đám thanh niên mai phục, đêm đó bắt tận tay cả người và xe của một nhóm người làng bên đem về ủy ban xã để xử lý” - anh Tiến tâm sự.
Cụ Duyên nói thêm: “Cả làng Trung Sơn từ đứa trẻ nhỏ đến ông già bạc tóc sống chịu ơn khu rừng này. Vì thế ngày hay tin (năm 2007) TP có quyết định thu hồi, xóa luôn cánh rừng, hàng chục vị cao niên trong làng đứng ra viết bức tâm thư gửi lãnh đạo cao nhất của TP xin giữ lại cánh rừng cho con cháu. Hồi đó, chúng tôi nói với TP rằng chúng tôi đi đâu cũng được, Nhà nước thu hồi đất đai giải tỏa chúng tôi đều đồng ý. Nhưng cánh rừng xin giữ lại cho chúng tôi, mất rừng này là trắng tay, mất hết từ truyền thống văn hóa”.
Còn ông Hoa tâm sự: “Hồi đó lúc nghe tin TP thu hồi đất, lấy luôn cả khu rừng, dân làng mất ăn mất ngủ. Chủ trương thu hồi đất để phát triển TP thì chúng tôi, những người cả đời cống hiến cho cách mạng, chấp hành. Dân Trung Sơn sẵn sàng giao lại đất đai, ruộng vườn nhưng không đồng ý giao cánh rừng này. Bởi phá rừng đồng nghĩa với chết và sẽ đánh mất truyền thống lịch sử”.
Bức tâm thư gửi đi cả tháng nhưng chưa thấy phản hồi, dân làng Trung Sơn như ngồi trên đống lửa. Để rồi hôm nhận được văn bản của TP cho giữ lại rừng, mọi người mừng khôn xiết. Ông Hoa nói giữ được rừng đã vui, nhưng cá nhân ông còn có thêm niềm vui khác. TP đã đồng ý cho giữ lại rừng. Vì căn nhà ông ở cạnh mép rừng nên khi giải tỏa không đụng tới, thế là ông được sống trọn cuộc đời bên rừng.
Không dừng lại ở bức tâm thư giữ rừng, các cụ già còn kiến nghị TP cho dân được tái định cư ở khu vực gần với khu rừng để tiện việc sinh hoạt hội hè ở đình làng lại có điều kiện bảo vệ.
Trước nguyện vọng tha thiết của người dân, chính quyền Đà Nẵng đã cho giữ lại khu rừng, mở rộng vành đai thêm 4ha nữa để tôn tạo biến thành điểm di tích văn hóa.
Giấc ngủ dưới tán rừng
TT - Ở đây, người sống vẫn sống dưới những tàng cây che bóng, người chết được đưa vào rừng để linh hồn trú ngụ dưới những tán cây to. Hễ có ai chết, người ta đem vào rừng hỏa táng rồi chôn cất. Linh hồn sẽ yên nghỉ trong cánh rừng.
| Nơi hỏa táng Quàng In trong rừng ma với con ngựa và cái ô sặc sỡ - Ảnh: Vũ Thủy |
Sống rừng nuôi, chết rừng chôn
Bản Tà Vài (xã Chiềng Hặc, huyện Yên Châu, Sơn La) nằm ngay quốc lộ lớn, xe cộ chạy rầm rập cả ngày đêm. Nhưng người Thái bản Tà Vài vẫn sống như thời còn là Hua Tát, Huổi Lắc - tên gọi xưa cũ của bản làng. Hươn khàng (kiểu nhà sàn của người Thái đen) thấp thoáng dưới những bóng cây, ánh nắng chiếu qua kẽ lá không đủ làm sáng con đường đất sỏi ngoằn ngoèo. Làn sương mờ phủ lấy bản nhỏ khiến chúng tôi nhớ đến những nàng Pùa, nàng Bua trong 12 tích truyện về bản Hua Tát của Nguyễn Huy Thiệp. Và khu rừng ma mấy trăm năm của người Thái bản Tà Vài, nơi linh hồn tổ tiên đời đời trú ngụ vẫn lặng lẽ nằm trước bản như một chốn linh thiêng.
Với mỗi người Thái, rừng là nơi nuôi dưỡng họ. Dòng suối mát họ tắm, củ mài, ngọn măng, con cá, con lợn cho đến cả cái cột dựng nhà... đều là của rừng. Đến khi họ qua đời rừng lại đón về. Người Thái có câu: Tai pá phăng, nhăng pá liệng (Sống rừng nuôi, chết rừng chôn) cũng là từ đó mà ra.
Trời mới tảng sáng, ông già Đào Quang Tố - một thầy giáo người Kinh đã sống ở Chiềng Hặc ngót nửa thế kỷ - dẫn chúng tôi vào rừng ma. Trước đó, ông cứ dặn dò mãi: “Nếu nhà báo sợ thì đừng nên vào”. Bởi theo lời ông kể, dân bản không ai dám bước chân vào khu rừng ma này, từ người già cho đến thanh niên trai tráng.
Cửa rừng chỉ là con đường nhỏ bị mưa xói lở. Bước chân qua cổng rừng, ngay lập tức một cảm giác ớn lạnh chạy dọc sống lưng chúng tôi. Những cây rừng chằng chịt phủ lên nhau thả rễ xuống đất như bộ râu người già. Lâu lâu lại thấy một khoảnh đất được phát quang, tro than nhuộm đen đất rừng, cạnh đó là mỏm đất trồi lên. Ông Tố thì thầm: “Tất cả người chết ở Tà Vài đều được đem vào đây, sau đó thiêu xác cho cháy hết rồi chôn luôn bên cạnh gốc cây”. Cả cánh rừng không có tiếng chim chóc hay động vật, chỉ có tiếng cành củi mục gãy lọc cọc dưới chân người lạ. Mùi củi gỗ cháy còn vương lại trong sương đêm.
Đến một mô đất còn mới tinh, lễ vật gần như còn nguyên vẹn sau cơn mưa đêm, ông Tố nhắc: “Mộ Quàng In đấy”.
Mộ Quàng In nằm giữa một khoảng đất rộng, đầu mộ hướng về phía cổng rừng. Xung quanh nhiều mảnh gỗ khô cháy dang dở nằm ngổn ngang. Một bát cơm vương vãi xung quanh mộ của In. Bên trên mộ là một cây sào chống, treo bên trên cây sào ấy chính là một con ngựa bằng gỗ có cánh, con ngựa được “mặc” phục trang với đủ loại màu sắc: đen, trắng, đỏ, vàng... Bên trên con ngựa là cái ô dùng để che mưa nắng. Cụ Quàng Văn Xướng, người già trong bản, nói rằng: “Con ngựa có cánh để cho linh hồn có thể bay về bản thăm người thân của mình”.
Ông Quàng Phiêng, người già trong bản, kể: “Quàng In chỉ mới 20 tuổi, lúc xưa khi ngấp nghé mười sáu, mười bảy In đã đi lấy chồng. Hôm đó In dắt trâu vào rừng chăn như mọi khi nhưng đến tối không ai thấy cô dắt trâu về cột cạnh gốc duối bên hiên. Anh chồng Quàng Sinh bỏ hai đứa con lại, men theo đường mòn vào rừng kiếm In nhưng không thấy. Sớm mai có con chim lợn lượn quanh đầu nhà, đậu vào cây duối cột trâu hét lên vài tiếng kêu éc éc lạnh lẽo. Quàng Sinh biết In đã chết. Hai ngày sau, dân bản tìm thấy In trong rừng, người In dúm dó như mớ rau vò kỹ, máu mũi chảy ra đen đặc. Thầy cúng nhìn In bảo: In bị bò rừng đâm chết.
“Hồn nó vào rừng ngủ”
| Phụ nữ Tà Vài ngồi thêu áo trước sân nhà sàn - Ảnh: Vũ Thủy |
Lật giở trong ký ức đã úa màu thời gian, ông Đào Quang Tố bảo: ông không biết và chưa từng nghe kể về nguồn gốc của rừng ma với tục đốt xác giữa rừng của người Thái đen ở Hua Tát. Chỉ biết rằng những người già chết đi như cây rừng sụm gốc xuống, trước khi chết họ đều dặn dò con cháu: “Đưa tao về với rừng”.
Theo tục của người Thái ở đây, người chết chỉ được giữ trong nhà một ngày, đến đêm người nhà mời thầy cúng đến làm lễ tiễn linh hồn về với rừng xanh. Nhà nào có người chết phải mổ một con trâu hoặc một con bò to để cúng cho người chết và đãi dân làng. Đến sáng hôm sau, dân bản sẽ tụ tập về quanh nhà người xấu số, mỗi người đều phải chuẩn bị một thứ đem góp cùng với 10.000 đồng. Người góp cành củi khô, người góp vài bát gạo, người góp con gà, con chim bắt được trên rừng... Sau khi được thầy cúng cho phép, tất cả cùng kéo nhau vào rừng, phát quang một khu vực đất trống, chất củi thành đống to rồi đặt quan tài lên trên châm lửa đốt. Dân làng sẽ đứng quanh đống lửa chờ cho đến khi lửa tàn, nhặt cốt của người chết đem bỏ vào chiếc chum nhỏ rồi chôn ngay bên cạnh. Người nhà sẽ dựng cột treo con ngựa và cái ô để cúng tế làm “phương tiện” cho người quá cố đi lại.
Kể từ đó linh hồn người chết sẽ về với rừng và không có ngày giỗ để tưởng nhớ hay đến thăm mỗi dịp giỗ chạp nữa. Hỏi Quàng Phiêng tại sao không cúng bái hay vào rừng thăm mộ, Quàng Phiêng móm mém cười nói: “Hồn nó về rừng để ngủ đấy, vào thăm nó là đánh thức nó dậy, nó sẽ tức giận và trừng phạt làm cho ốm đau”.
Bởi thế mới có chuyện người Thái ở Tà Vài từ trẻ con đến người già không ai dám mon men vào rừng ma linh thiêng. Bởi thế, cánh rừng xanh thẳm nằm cạnh quốc lộ 6 ầm ào xe chạy vẫn còn gần như nguyên thủy, mà không bị chặt phá cho đến tận ngày hôm nay.
Nhưng như thế không có nghĩa là người chết sẽ bị lãng quên. Những khau cút nhà sàn (hai mảnh ván đóng chéo nóc nhà) vẫn là cánh cửa cho linh hồn tổ tiên về với con cháu.
Ông Đào Quang Tố đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về dân tộc Thái ở Yên Châu, Sơn La. Ông cho biết dân tộc Thái đen sinh sống vùng Sơn La rất coi trọng vùng đất làm nghĩa địa, gọi là Pa Hèo (hoặc Pá Heo, có nghĩa là rừng ma). Vùng đất này thậm chí còn được chọn và ưu tiên hơn người sống đang ở.
Phần lớn khu rừng được chọn làm Pa Hèo là những vùng rừng già, bằng phẳng, có độ ẩm, có nhiều cây cổ thụ. Đặc biệt không một ai được vào khu vực đó chặt hạ một cây dù là nhỏ nhất đem về nhà dùng. Chính vì vậy lúc nào Pa Hèo cũng um tùm, rậm rạp, huyền bí, vắng lặng...Khi đưa thi hài người chết đến Pa Hèo, người dân tộc Thái đen rất quan tâm đến việc chọn nơi nghỉ: vừa có chỗ cho người đưa đám nghỉ ngơi, vừa có chỗ đẹp mắt thích hợp cho linh hồn yên nghỉ. Thi hài phải đặt trên một cái giường tre do bốn người con rể khiêng, nếu thiếu con rể thì lấy cháu rể khiêng.
|
VŨ THỦY - DŨNG TUẤN
------------------------------------
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét