"Hòn đảo" hoang vắng, không bóng người xuất hiện, cây cối xanh um tùm, không khí mát dịu. Bà chúa Hoàng nghĩ đây chính là địa thế tốt để dừng chân lập cơ, sau đó bà kết hôn với người họ Nguyễn, "Cồn Hến" chính do hai vợ chồng họ Nguyễn lập nên ngày nay.
"Cồn Hến" nhìn từ xa giống như một quả tim. Ảnh: Lê Tập
Bí mật… "Cồn Hến"Từ bao đời nay, sông Hương đã trở thành một thắng cảnh nổi tiếng của Huế, người ta ví sông Hương như dải lụa mềm mại tô điểm cho vẻ đẹp hiền hòa của xứ Huế mộng mơ. Không những thế nơi đây còn gắn với sự tích về chuyện tình của hai dòng dõi vua chúa đã khai sinh ra "Hòn đảo" hình trái tim giữa dòng Hương Giang thơ mộng.
Ngược dòng thời gian, chúng tôi lần theo lời kể của các cụ cao niên ở đây. "Cồn Hến xuất hiện từ lâu lắm rồi, chúng tôi cũng không rõ lắm, chỉ cùng nghe truyền miệng, còn nguồn gốc chính xác thì phải tìm đến viện Bảo tàng Thừa Thiên - Huế mới có tư liệu", cụ Hiền, 85 tuổi sinh sống ở "Cồn Hến" cho biết.
Theo cuốn sách Ô Châu Cận Lục của Dương Văn An, soạn thảo vào năm 1555 (ở thời kỳ Lê - Mạc, Quyển sách mà Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú dùng để tham khảo khi biên soạn vùng đất Thừa Thiên - Huế. Trong đó có nhắc đến. "Cồn Hến" được coi là một cù lao xinh đẹp nằm ở hạ lưu sông Linh Giang, sông này do hai nhánh sông Đan Điền và Kim Trà hợp lưu, sông rộng , quanh co hữu tình. Phía Tây có chùa Sùng Hóa, lại có bia Hoằng Phước, còn Như Nha, Thự, Hiến, Ty, Phủ Huyện, Vệ sở đều được nối liền đối nhau hai bên bờ tả hữu).
Theo truyền khẩu, "Cồn Hến" lúc khai sinh có tên gọi là "Cồn Soi" (Cồn nổi) hay là "xứ cồn cạn", nằm ở trong ba địa thế: Gian Hến (đất lâu năm có đền, chùa) - Trung gian (đất ngụ cư) - Bồi thành (do đất bồi nên , gọi là "Cồn Hến" bây giờ). Xưa kia, do biến đổi khí hậu, thiên tai bão lụt triền miên,... trải qua hàng trăm năm, sự bồi đắp, kiến tạo của thiên nhiên đã hình thành nên "Cồn Hến" nằm giữa dòng Hương Giang bây giờ. Xưa kia "Cồn Hến" cây cối mọc um tùm, muông thú kéo nhau về trú ngụ, sinh sôi nảy nở. Bỗng một ngày bà chúa Hoàng (người ở xã Diên Đại, huyện Phú Vang), du ngoạn trên sông Hương thì phát hiện giữa sông có một cồn cát tuyệt đẹp. Bà đã ghé chân lên thăm, nhận thấy ở đây có vị thế thuận lợi, sau đó bà quay trở lại thăm nhiều lần. Rồi bà kết hôn với một người họ Nguyễn, thời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1725 - 1738) xây dựng lên phủ chúa ở Phú Xuân, và hai vợ chồng đã quyết định đến dựng chòi trên cồn cát này. Cho đến đầu niên hiệu Gia Long (1802 - 1820) đất kinh thành được mở rộng, 8 xã nằm trong diện di chuyển được nhà vua cấp tiền mua hoặc trưng đất lập xã mới. "Cồn Hến" được chọn là nơi tái định cư dân xã Phú Xuân. Lần đầu tiên trong lịch sử những hộ dân của họ Trần, Lê và Nguyễn chuyển đến sống xen kẽ ở "Cồn Hến".
Từ thượng nguồn hướng về cửa sông, Cồn Dã Viên xuất hiện đầu tiên, tiếp theo là "Cồn Hến" được tạo thành thế Hữu Bạc Hổ (Cồn Dạ Viên) và Tả Thanh Long "Cồn Hến" chầu về kinh thành.
Sau khi sinh sống ở "Cồn Hến", ngư dân thường ghé tròng (ghe) đi soi cá về trú ngụ,… Nơi đây xuất hiện nghề soi cá ban đêm, người ta soi cá bằng cách dùng những cành thông khô bó lại đốt thành lửa và chế thêm 1 cái đọt (cái chĩa 3 mũi nhọn làm bằng thép) để đâm cá,… đó là cách duy nhất để họ sinh tồn trên "Cồn Hến".
Cụ Hiền kể về nguồn gốc "Cồn Hến".
Đặc sản … tiến vuaNhắc đến "Cồn Hến" người đời vẫn nghĩ đến 2 thứ đặc sản nổi tiếng là hến và bắp (ngô), thường dùng tiến lên nhà vua mỗi dịp lễ, Tết,...
Đời vua Thiệu Trị, hến được người dân bán quanh nội thành và trở thành một món ăn được nhiều người ưa thích. Để vua có bữa ăn ngon miệng, một hôm có vị đầu bếp đã chế biến một món ăn khác lạ dâng vua. Khi dâng lên, vua Thiệu Trị nếm thử, khen ngon nên đã hỏi về lai lịch món hến bắt nguồn từ đâu... Sau đó, hến trở thành món ăn khoái khẩu không thể thiếu hàng ngày của các bậc vua chúa. Khi biết việc cào, bắt hến là một công việc vô cùng cực nhọc, nhà vua đã có chỉ dụ miễn thuế cho nghề bắt hến.
"Cồn Hến" nổi tiếng ngay trong chính cái tên của nó "cồn của loài hến", với diện tích gần 23ha, "Cồn Hến" được bao quanh là sông Hương, bốn mùa cây cối xanh tốt, khí hậu ẩm mát. Người dân qua lại "Cồn Hến" bằng phương tiện là đò, còn cầu chỉ dành cho người đi bộ và các phương tiện xe đạp và xe máy. Đặc biệt chưa có bất kỳ một chiếc ô tô nào đậu trên "Cồn Hến".
Hến ở sông Hương có nhiều loài, nhưng nơi đây có một loài hến đặc biệt, thân nhỏ, kích cỡ chỉ bằng viên bi, có mùi thơm dễ chịu, ruột hến ăn rất dẻo và dai, hương vị đậm đà,… nước luộc hến có tác dụng thanh nhiệt, chữa được một số bệnh. Hến có thể chế biến thành các món: cơm hến, bún hến, hến xào,... thịt hến xào lên thêm gia vị ruốc, tương ớt, tiêu, nước mắm, tỏi, gừng, bì lợn rang phồng, đậu phụng rang, muối mè. Cơm hoặc bún phải để nguội khi ăn đem trộn đều có pha thêm một chút nước hến. Để có một tô cơm hoặc bún ngon, mang hương vị "rất Huế" thì hết sức công phu, nguyên liệu lên đến 14 thứ.
Dụng cụ để bắt hến là cào, được làm bằng tre, có hai loại: Cào sưa và cào dày (có kết cấu giống nhau). Cào sưa dùng để bắt hến to, cào dày dùng để bắt hến nhỏ. Một cái cào có khoảng 180 - 200 răng, răng cào được vót nhọn, đan bằng hình cung rẻ quạt, có 2 mặt, 1 mặt dài khoảng 1m, mặt kia dài khoảng 50 phân.
Ngoài hến thì "Cồn Hến" còn có một đặc sản giá trị, đó là ở phía đuôi cồn, người ta trồng được loại bắp (ngô) rất đặc biệt, bắp rất to, các hạt đều bằng nhau, màu trắng, dẻo mềm và có vị thơm rất đặc trưng. Chính vì thế, người dân "Cồn Hến" thường dâng lên vua chúa hai đặc sản này.
Ông Nguyễn Văn Gặp, 61 tuổi cho biết: "Chúng tôi rất tự hào là con cháu của nhà Nguyễn. Được sống và làm ăn ở "Cồn Hến" là niềm hạnh phúc và hãnh diện. Chúng tôi đang có gắng hết sức để giữ lấy nghề làm hến và bắp, một phần là để nuôi sống bản thân đồng thời cũng để giáo dục cho thế hệ sau giữ lấy nghề không để cho nghề thất truyền".
Lê Tập
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét