Chuyển đến nội dung chính

Khu 'rừng cấm' ở Tương Dương

Người đàn ông 62 tuổi thoăn thoắt bước qua những mỏm đá, ánh mắt hướng vào khu rừng như đang đếm từng gốc cây.

Cánh rừng săng lẻ không chỉ là biểu tượng du lịch của Tương Dương, mà còn đại diện cho tinh thần, ý chí giữ rừng không biết mệt mỏi của người Thái.
Hương ước truyền miệng
Chúng tôi gặp ông Vi Dương Cảnh trong lúc vị cựu chiến binh này đang cuốc bộ dọc con đường mòn bao quanh cánh rừng săng lẻ ở bản Quang Thịnh (xã Tam Đình, huyện Tương Dương). Người đàn ông 62 tuổi thoăn thoắt bước qua những mỏm đá, ánh mắt hướng vào cánh rừng như đang đếm từng gốc cây.
Ông Cảnh hiện là 1 trong 11 hộ dân được giao bảo vệ rừng săng lẻ, mặc dù cánh rừng này do Hạt Kiểm lâm huyện Tương Dương quản lý hơn 20 năm nay.
“Một mình kiểm lâm giữ rất khó, phải có dân bản cùng tham gia. 11 hộ luân phiên, mỗi ngày 2 người có nhiệm vụ tuần tra. Nếu phát hiện điều gì bất thường sẽ trình báo ngay cho lực lượng kiểm lâm”, ông Cảnh nói và cho biết thêm, tổ bảo vệ rừng này được thành lập từ năm 2016, lựa chọn từ những người uy tín, có tâm huyết với rừng nhất ở bản Quang Thịnh.
Không chỉ với rừng săng lẻ, họ còn có nhiệm vụ bảo vệ hơn 170 ha vùng đệm của cánh rừng mà họ vẫn gọi là “rừng cấm” này.
Khu rừng cấm ở Tương Dương - Ảnh 1.
Ông Vi Dương Cảnh, 1 trong 11 hộ hiện nay được giao nhiệm vụ giữ rừng. Ảnh: Tiến Hùng
Riêng cánh rừng săng lẻ hơn 70 ha nhiều năm nay không chỉ trở thành biểu tượng du lịch của huyện Tương Dương, mà còn là đại diện cho tinh thần, ý chí giữ rừng không biết mệt mỏi của bản làng người Thái ở đây.
“Bây giờ nó chuẩn bị trở thành khu du lịch sinh thái rồi. Nhưng ít ai biết rằng, để giữ được nó đối với người dân là cả một cuộc chiến dai dẳng với lâm tặc”, ông Cảnh kể. Ngôi nhà ông Cảnh nằm ngay sát Quốc lộ 7, sát sau nhà là những cây săng lẻ cổ thụ cao chót vót.
Nói về công lao giữ cánh rừng này, người ta thường hay nhắc đến cụ Vi Chính Nghĩa - nguyên Phó Trưởng ban Dân tộc tỉnh Nghệ An. Cụ Nghĩa vừa mất cách đây 2 năm ở tuổi 87. Tuy nhiên, ông Cảnh và các bậc cao niên ở đây cho biết, cụ Nghĩa chỉ là một trong những người con của bản Quang Thịnh tiếp nối truyền thống giữ rừng săng lẻ đã có từ nhiều đời nay.
“Cụ Nghĩa là chú ruột của tôi. Trước khi cụ lập chòi giữa rừng để quản lý, bản này cũng đã có hương ước bảo vệ nó. Chúng tôi xem đó như rừng cấm, rừng thiêng vậy”, ông Cảnh nói.
Theo ông Vi Võ Tuấn - Trưởng bản Quang Thịnh, trước đây xung quanh khu vực này có rất nhiều săng lẻ, mọc chủ yếu thưa thớt, sau đó bị dân làng đốn hạ để lấy đất làm rẫy, dựng nhà.
“Chỉ riêng cánh rừng hiện tại là đặc biệt, vì nó mọc dày đặc, san sát nên cây cao chót vót, thẳng tắp, nhìn rất đẹp. Ở đây vốn được xem là “chảo lửa Đông Dương” vì nắng nóng cao điểm vào mùa hè, nhưng cứ vào rừng là khí hậu lại mát rười rượi. Vì thế nên từ xa xưa, cha ông chúng tôi đã có hương ước truyền miệng phải giữ được cánh rừng”, ông Tuấn nói.
Theo kiểm đếm hiện nay, mỗi ha có đến 240.000 cây săng lẻ loại lớn. Cánh rừng hơn 70ha tương đương gần 17 triệu cây chen chúc nhau, mỗi cây cao từ 30 - 40m. Có những cây, 3 người ôm không xuể. “Bây giờ mới làm con đường tuần tra bao bọc cánh rừng, còn trước đây ranh giới của nó là các khe suối.
Dân ở đây muốn làm nhà cũng không ai dám vào cánh rừng đó để chặt mà chấp nhận đi xa. Ai cũng ý thức được lời răn dạy của người đi trước. Vả lại, vào rừng chặt cây nếu bị dân làng phát hiện sẽ bị phạt rất nặng”, ông Tuấn nói thêm.
“Hộ vệ” của rừng
Năm 1964, “báu vật” của người dân bản Quang Thịnh đứng trước nguy cơ bị xóa sổ. Lúc này, Lâm trường Tương Dương xin UBND tỉnh Nghệ An khai thác rừng săng lẻ. Lập tức, Vi Chính Nghĩa, một người con của bản đang làm Bí thư Huyện ủy gửi đơn xin giữ lại cánh rừng này và được tỉnh chấp thuận.
Đến năm 1989, bản Quang Thịnh chính thức có hương ước bằng văn bản với những điều cấm để bảo vệ cánh rừng. Theo đó, người dân trong bản không được chặt hạ săng lẻ với bất kỳ lý do nào, không được chăn thả gia súc vào rừng.
“Nếu muốn đốn gỗ làm nhà, người dân phải trình qua bản xem xét. Rồi bản sẽ chỉ định chặt bao nhiêu gỗ, chặt ở cánh rừng nào thì mới được chặt. Ngoại trừ rừng săng lẻ hiện nay thì không được đụng vào”, ông Vi Dương Cảnh nói. Ngoài ra, người dân trong bản cũng có trách nhiệm thường xuyên tổ chức vào rừng dọn dẹp, phát quang những cây dây leo bám vào săng lẻ.
Ông Cảnh cho hay, có lần một người dân trong bản trong lúc thiếu gỗ làm nhà, đã lén lút vào rừng chặt một cây săng lẻ kéo về. Vụ việc bị dân làng phát giác, hộ này sau đó phải bán trâu để nộp phạt.
Hương ước đã bảo vệ được cánh rừng không bị dân làng chặt hạ làm nhà, lấy đất làm rẫy, lâm trường cũng không thể khai thác vì tỉnh đã cho phép huyện giữ lại. Nhưng với lâm tặc từ địa phương khác, cánh rừng săng lẻ như một “miếng mồi ngon”.
Quốc lộ 7 chạy xuyên qua cánh rừng hơn 1km, chỉ cần ít phút, lâm tặc có thể đốn hạ những cây cổ thụ ven đường chất lên xe, “cao chạy xa bay”. Căng thẳng nhất là giai đoạn đầu những năm 90 của thế kỷ trước, khi mà hầu hết cánh rừng xung quanh đã bị tàn phá thành những đồi trọc thì rừng săng lẻ là nỗi thèm khát của biết bao lâm tặc.
Khu rừng lúc này đã thuộc sự quản lý của Hạt Kiểm lâm huyện Tương Dương. Trước sự nhòm ngó của lâm tặc, Hạt quyết định giao ông Cảnh làm chòi giữa rừng để bảo vệ. “Tôi vào đó bảo vệ nhưng chỉ được một thời gian, tình trạng lâm tặc lén lút chặt phá còn xảy ra”, ông Vi Dương Cảnh nhớ lại. Hạt Kiểm lâm huyện sau đó phải “cầu viện” cụ Vi Chính Nghĩa. Lúc này cụ Nghĩa đã nghỉ hưu, về quê ở bản Quang Thịnh sinh sống.
“Cụ Nghĩa sau đó xin huyện một khoảng đất nhỏ giữa rừng săng lẻ, cạnh Quốc lộ 7 để dựng chòi canh, đưa luôn cả vợ ra đó sinh sống. Cụ rất khỏe, ngày nào cũng cuốc bộ trong rừng để tuần tra. Là người rất có uy tín ở địa phương, thời gian đầu có một vài trường hợp vi phạm bị cụ phát hiện trình báo cho kiểm lâm xử phạt rất nặng nên lâm tặc dường như “khiếp vía” cụ, không dám bén mảng tới khu rừng”, ông Cảnh nhớ lại.
Từ đó đến nay, cánh rừng săng lẻ dường như vẫn còn nguyên vẹn. Năm 2008, lúc này cụ Nghĩa đã “chùn chân, mỏi gối”, khó khăn trong việc tuần tra nên cụ xin nghỉ, giao việc bảo vệ rừng cho một người khác uy tín trong bản.
Năm 2012, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã tặng Huân chương Lao động hạng Nhì vì những thành tích xuất sắc trong công tác, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cho cụ Vi Chính Nghĩa.
Trưởng bản Quang Thịnh cho hay, sau khi cụ Nghĩa mất, ngôi nhà giữa rừng của vợ chồng cụ vẫn được giữ nguyên mặc dù không có ai ở. Nhớ đến công lao của cụ, dân làng vẫn thường xuyên tới đây lo hương khói.

Theo Tiến Hùng (Báo Nghệ An)

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Làng nghề chày thớt Phú Long

Làng nghề chày thớt Phú Long ở khu phố Hòa Long, phường Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương đã tồn tại và phát triển từ hơn nửa thế kỷ qua. Đến nay, cái chày, tấm thớt Phú Long không những được ưa chuộng trên thị trường trong nước mà đã vươn xa ra thị trường các nước như: Mỹ, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản…
Lái Thiêu xưa vốn là vùng đất hoang sơ, có nhiều rừng nên nghề mộc nơi đây phát triển rất sớm nhờ nguồn nguyên liệu gỗ phong phú. Theo những người có kinh nghiệm làm chày, thớt ở Phú Long, người sáng lập ra làng nghề này là ông Hai Thiệt. Ban đầu, từ những khúc gỗ thừa của các xưởng mộc trong làng, ông mang về để tận dụng làm thớt. Sẵn nguồn nguyên liệu, lại nắm bắt nhu cầu của bà con trong vùng, ông Hai Thiệt làm thớt để bán, rồi truyền nghề lại cho con cháu sau này. Làng nghề dần được hình thành từ thời điểm những năm 1960 của thế kỷ trước và cũng để ghi công ông Hai Thiệt, người làng sau đó gọi ông là Hai Thớt.

Hiện làng nghề chày thớt Phú Long có hơn 20 cơ sở lớn, nhỏ làm việc …

Nghề đắp phù điêu ở Thạch Xá

Là vùng đất nổi tiếng với những nghề thủ công truyền thống, xã Thạch Xá (huyện Thạch Thất, Hà Nội) còn được biết đến là nơi có những người thợ đắp phù điêu tài hoa. Những người thợ Thạch Xá được nhiều người biết đến qua công việc phục chế, tân tạo nhiều công trình văn hóa tâm linh ở Việt Nam. Theo nghệ nhân Nguyễn Văn Tuấn, một trong số người giữ gìn và phát triển nghề đắp phù điêu của Thạch Xá thì nghề đắp phù điêu có lịch sử cách đây khoảng 200 năm. Là người theo bố học nghề từ năm 13 tuổi, nghệ nhân Nguyễn Văn Tuấn với tài năng và kinh nghiệm hơn 40 năm đã trực tiếp thiết kế, phục chế, tôn tạo hàng trăm tác phẩm tại các công trình di tích lịch sử, văn hóa tâm linh được Nhà nước xếp hạng. Trong đó, tiêu biểu là phục chế đầu đao (chùa Tây Phương, Thạch Thất), đắp nổi Rồng chầu mặt nguyệt (chùa Thầy, Quốc Oai), phục dựng con giống cổ chùa Sóc Sơn, xây cột trụ và đắp hoa văn con giống tại chùa Hòe Nhai, một trong những di tích kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội...

Xơ giấy dó (còn gọi …

Nuôi gà thảo mộc ở Định Quán

Nuôi gà thảo mộc, hay còn gọi là thảo dược, khác với những mô hình nuôi khác ở chỗ người nuôi bổ sung vào khẩu phần thức ăn nhiều loại thảo dược tốt có lợi cho sức khỏe của gà, góp phần thay thế hoàn toàn các loại kháng sinh và chất kích thích tố tăng trọng thường sử dụng trong quy trình nuôi gà bình thường. Nuôi gà thảo mộc là mô hình chăn nuôi kiểu mới không sử dụng kháng sinh, giúp cho thịt gà có hương vị thơm ngon, đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng. Bà Cao Thị Ten (ấp 2, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán) là người tiên phong trong việc nuôi gà thảo mộc ở tỉnh Đồng Nai.

Từ lâu, ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm đã hướng tới nền chăn nuôi sạch, bền vững và xu hướng này trở nên khá phổ biến trên thế giới. Nắm bắt được xu thế đó và nhận biết nhu cầu thị trường luôn ưu tiên sử dụng sản phẩm sạch, chất lượng, từ năm 2011, bà Cao Thị Ten đã tiến hành nuôi thử nghiệm lứa gà thảo mộc đầu tiên.


Trang trại nuôi gà thảo mộc của bà Cao Thị Ten (ấp 2, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai).


Cây…