Chuyển đến nội dung chính

"Thung lũng" sừng ngàn đô nằm giữa trung tâm Hóc Môn

Trung bình một bộ sừng thành phẩm tùy kích cỡ, có giá từ 20 triệu- 100 triệu đồng

Khi nhắc đến xã Trung Chánh (H. Hóc Môn, TPHCM), người ta nghĩ ngay đến làng nghề chế tác mỹ nghệ từ xương, sừng và móng. Thế nhưng làng nghề này đứng trước nguy cơ bị “xoá sổ” khi chỉ còn vài ba hộ bám nghề.

Để có những tác phẩm đẹp, người thợ phải chấp nhận sống chung với bụi trong quá trình làm
Để có những tác phẩm đẹp, người thợ phải chấp nhận sống chung với bụi trong quá trình làm
Tay trắng thành triệu phú
Những ngày cuối năm, chúng tôi theo chân chị Đinh Thị Thanh Tâm - Chủ tịch Hội Nông dân xã Trung Chánh đến cơ sở mỹ nghệ Tài Vinh. Đang đánh bóng chiếc sừng trâu trong công đoạn cuối, thấy có khách, anh Đỗ Thế Vinh (chủ cơ sở) phủi vội hai bàn tay vào chiếc áo: “Tôi đang chạy nước rút cho kịp đơn hàng Tết. Còn đơn hàng lúc nào, tôi tranh thủ làm lúc đó. Hy vọng con cháu sẽ có đứa chịu theo nghề; nếu không, chắc nghề này với tôi chỉ còn là hoài niệm”.
Cách đây 15 năm, vợ chồng anh Vinh từ Bình Lục, tỉnh Hà Nam vào TPHCM, không có nghề lận lưng, vợ chồng anh đi giúp việc cho một xưởng ngà sừng ở huyện Hóc Môn. Sau hai năm đổi công học nghề, đôi vợ chồng trẻ thuê một mảnh đất nhỏ ở xã Trung Chánh vừa ở, vừa làm nghề. Ban đầu chỉ là chế tác xương, sừng làm lược, trâm cài đầu, bông tai… Làm được hàng, vợ ôm mẹt lên các chợ ở trung tâm thành phố bán, còn chồng chạy xe khắp nơi “tiếp thị” sản phẩm ở các cửa hàng lưu niệm.
Không ngờ, hàng rất được chuộng, nhất là du khách nước ngoài. Rồi có nhiều người đặt hàng mỹ nghệ sừng theo yêu cầu, những đại lý hàng thủ công mỹ nghệ chợ Bến Thành, An Đông cũng trở thành mối của chị Duyên. Nhờ đó, hai vợ chồng dần ăn nên làm ra, thu nhập trung bình trên 10 triệu đồng/tháng. Chị Duyên (vợ anh Vinh nói: “Nhu cầu thị trường về hàng thủ công ngà sừng cao lắm, hàng làm ra chưa đáp ứng đủ nhu cầu”.
Chị Đỗ Thị Kim Chung thâm niên hơn hai mươi năm làm nghề kể, những năm 90, chị cũng hoang mang khi thấy nhiều người bỏ nghề, nhưng chị và gia đình vẫn quyết tìm một hướng đi mới. Ngày ấy, sừng, móng chủ yếu làm lược chải đầu, trâm cài tóc… chị mạnh dạn đầu tư sản xuất các mặt hàng mỹ nghệ Acrylic phục vụ nhu cầu làm đẹp như: vòng đeo tay, bông tai, kẹp tóc…; các công cụ cho nghề trang điểm như: chụp máy sấy tóc; đến mặt hàng trang trí nội thất: chụp đèn, bảng quảng cáo… Làm ăn có uy tín, chị ký được những hợp đồng dài hạn với các công ty mỹ nghệ lớn ở Thủ Đức, Bình Dương và tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động tại địa phương.

Anh Vinh bên các tác phẩm của mình.
Anh Vinh bên các tác phẩm của mình.
Anh Nguyễn Văn Tính (ấp Mới 2) đã có 18 năm trong nghề, cho biết, để tìm được nguyên liệu sừng móng vừa ý, anh phải xuống tận các lò ở Biên Hòa, Tây Ninh, Long An, Tiền Giang để săn lùng hàng. Chất liệu càng đẹp thì sản phẩm càng có giá trị. Trung bình một bộ sừng thành phẩm tùy kích cỡ, có giá từ 20 triệu- 100 triệu đồng. Là người chuyên cung cấp hàng sừng, móng đã qua sơ chế để các hộ gia đình chế tác, anh nhẩm tính: Tiền lời phần bán nguyên liệu khoảng sáu – bảy triệu đồng/tháng, tiền bán thành phẩm khoảng bốn - năm triệu/tháng. Tổng cộng thu nhập khoảng chục triệu đồng/tháng là không có gì khó đối với những người làm nghề chế tác ngà sừng.
Nguy cơ bệnh tật
Theo những người làm nghề, nghề xương, sừng, móng này có từ trước năm 1975, do những người di cư từ miền Bắc đưa vào.Lúc đó, nhà nào cũng làm sừng, hàng làm không kịp giao. Sản phẩm từ xương, sừng móng ở làng nghề này không thiếu thứ gì, từ những mặt hàng mỹ nghệ, đồ trang trí cao cấp cho đến đôi đũa, quân cờ tướng, mũ chụp đèn hay chiếc trâm, cái lược… Những mặt hàng chế tác được ưa chuộng nhiều nhất là rồng, công, phượng, đại bàng… rất tinh xảo. Không chỉ dùng làm quà lưu niệm, vật trang trí, trưng bày, những con giống làm từ sừng còn có giá trị sử dụng. Một con cua, con rùa làm bằng sừng nếu để trưng bày sẽ rất đẹp và sinh động, nhưng khi mở nắp bụng ra lại có chức năng là chiếc gạt tàn thuốc lá.
Trước kia, các sản phẩm mỹ nghệ chủ yếu được làm từ sừng thì nay đã có thể dùng thêm nguyên liệu là móng trâu, bò. Tuổi nghề giúp người thợ “lớn” lên về sự khéo léo, tính sáng tạo, để có mặt hàng mới, hấp dẫn khách hàng, bởi các sản phẩm được làm ra không có khuôn mẫu sẵn mà hoàn toàn thủ công và do sự sáng tạo của mỗi người. Tuổi nghề cũng giúp họ phân biệt chất liệu chế tác nên sản phẩm. Ví dụ sản phẩm làm từ sừng trâu trắng có giá trị hơn sừng trâu đen; làm từ sừng có giá trị hơn làm từ móng…Qua bàn tay khéo léo của người thợ, mọi thứ tưởng vô nghĩa đều trở nên có nghĩa, đều đẹp và sáng bóng như nhau, không thể phân biệt được đâu là sừng, đâu là móng nữa.
Dẫn tôi thăm kho sừng, xương lúc chưa chế tác,anh Vinh bộc bạch: “Tôi cũng lo sức khỏe bị ảnh hưởng nên “cách ly” nhà. Theo anh Vinh, nguyên liệu hàng thủ công mỹ nghệ ngà sừng chủ yếu là từ xương ống, sừng, móng trâu, bò; đôi khi thêm vỏ sò, ốc. Việc chế tác sừng cũng lắm công phu. Sừng, móng tươi thu mua về phải phơi khoảng một tuần cho khô. Sau đó, luộc nguyên liệu thô trong dầu sôi cho mềm, đưa vào máy ép thủy lực, cán thành những miếng sừng mỏng. Ngày trước, khi chưa có máy ép, người thợ phải dùng vồ gỗ nặng vài chục ký đập cho phẳng, hao tốn rất nhiều công sức.

Kho sừng trước khi chế tác.
Kho sừng trước khi chế tác.
Để làm ra một mặt hàng, phải qua ít nhất 30 công đoạn, từ cắt phân đoạn, luộc, ép, đến réo thành khuôn, chà nhám, điêu khắc, đánh bóng… Mỗi công đoạn đều đòi hỏi người thợ phải khéo tay, tinh mắt, chỉ cần một sơ suất nhỏ là bị lỗi phải bỏ đi. Công đoạn luộc, ép sừng rất độc hại. Người thợ phải trực tiếp ngồi bên nồi dầu sôi, chịu cái nóng bỏng rát mặt, mùi dầu, mùi hôi nồng nặc của xương để canh sao cho sản phẩm đúng độ mềm quy định. Rồi lúc mài, chế tác… bụi trắng bám đầy căn nhà, đầy mặt mũi, tóc tai người thợ; thế nhưng vì nghề, vì thu nhập khá, họ vẫn chấp nhận “sống chung” với nó.
Trao đổi với bà Thanh Tâm về việc làm cách nào để duy trì, khôi phục làng nghề, bà thở dài: “Khó lắm, vì đây là nghề cha truyền con nối, chỉ những người yêu nghề mới làm, còn nếu mở ngành thêm thì chỉ người ngoài quê vào chứ khó kêu gọi người dân vào làm lắm. Hội cũng thường xuyên tuyên truyền và nhắc nhở người làm nghề phải đeo khẩu trang để bảo vệ sức khỏe, dựng kho đựng phụ phẩm, tránh gây ô nhiễm môi trường”.
Ông Trần Trường Sơn - Phó Chủ tịch Hội Nông dân TPHCM cho biết: “Để bảo tồn và phát triển làng nghề, cần phải gắn với phát triển du lịch sinh thái, cách tiếp thị sản phẩm… Mặc dù sản phẩm từ xương, sừng, móng đã có mặt tại nhiều nước, như Hàn Quốc, Thái Lan, Nhật, Anh, Mỹ... nhưng đa số đều qua khâu trung gian là chính. Hơn nữa, sản phẩm cũng chưa xây dựng được thương hiệu làng nghề, người làm nghề cũng không mặn mà với việc liên kết, hợp tác với nhau nên để phát triển nghề xương, sừng, móng sẽ còn rất khó khăn”.
Theo Uyên Phương (Tiền Phong)

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA ĐẸP VÀ SÀNH ĐIỆU NHƯ THẾ NÀO?

Váy suông, bó sát, váy xòe… du nhập vào các đô thị miền Nam những năm 60, 70 và nhanh chóng được phụ nữ đón nhận. Nhiều người đến Sài Gòn lúc ấy đều ngạc nhiên về nét đẹp hiện đại và ăn mặc hợp mốt của những quý cô thành thị. Thời trang của phụ nữ Sài Gòn xưa Phụ nữ Sài Gòn – Đi về phía trước
Đôi mắt to sáng lấp lánh, khuôn miệng nhỏ xinh lanh lợi và đôi má bầu bĩnh là nét đẹp
đặc trưng của thiếu nữ Sài Gòn xưa. Đội thêm một chiếc mũ bê rê được ưa chuộng
thời điểm này làm tăng nét cá tính cho cô gái trẻ. Phong cách của người phụ nữ xinh đẹp trong bộ váy xòe chấm bi bồng bềnh, thắt
eo gọn cùng kiểu tóc sang trọng vẫn không hề lỗi mốt cho đến bây giờ. Nữ sinh lớp Đệ Tam (tương đương lớp 10) trường Quốc Gia Nghĩa Tử, Sài Gòn năm 1968. Áo dài nữ sinh trên đường Lê Lợi, đoạn trước Công ty xe hơi Kim Long
(bên cạnh thương xá Tax) năm 1965. Phụ nữ Sài Gòn năm 1963. Thời đó, vào mỗi chiều cuối tuần,
phụ nữ Sài Gòn thường đi dạo, bát phố trên đường Lê Lợi, Tự Do. Ảnh chụp vào tháng 12 năm 1967.

CHÂN DUNG CÁC MỸ NHÂN SÀI GÒN TRÊN BÌA TẠP CHÍ VIỆT NAM TRƯỚC 1975

Cùng nhìn lại ảnh của các “hotgirl” Sài Gòn để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng những năm tháng cũ ấy. Tạp chí “Vietnam” là ấn phẩm quốc tế được phát hành ở Sài Gòn trước năm 1975 và có rất nhiều trang bìa chụp các người đẹp nổi danh khi ấy của đất phương Nam. Có thể kể đến những cái tên như ca sĩ nổi tiếng Phạm Thị Hiếu, hotgirl Sài Gòn Nguyễn Thi Kim Anh hay nữ nghệ sĩ Bạch Lan Thanh đều góp mặt ở đây. Hãy cùng nhìn lại các mỹ nhân thời xưa để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng của những năm tháng cũ ấy. Túy Phượng Nguyễn Thị Túy Phượng – người nhận được giải thưởngtrang phục đẹp nhất tại Liên hoan nhạc Pop tổ chức tại Sài Gòn ngày 30/1/1972. Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu, cùng tuổi với các nữ tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui và nữ nghệ sĩ Bích Sơn. Ở tuổi 14, 15 Túy Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai diễn nhí nhảnh, hồn nhiên. Đến tuổi 16, 17, khi nghề nghiệp đã định hình, diễn xuất có chiều sâu, Phượng thu hút người xem tr…

Vị bánh cuốn gốc Bắc hơn nửa thế kỷ ở Sài Gòn

Dĩa bánh nóng hổi, thơm phức được tráng theo công thức truyền thống của một gia đình gốc Bắc di cư vào Sài thành từ những năm 50.

Bánh cuốn là món ăn có tiếng ở miền Bắc, đặc biệt là đất Hà thành. Từ thôn quê, thứ bánh dân dã len lỏi vào giữa phố xá, trở thành món "ruột" của người thành thị. Không rõ món ăn này du nhập vào Sài Gòn chính xác từ khi nào, tôi chỉ biết trong một con hẻm nhỏ có quán bánh cuốn do một gia đình gốc Bắc lập ra, từ khi vào Sài Gòn ngót nghét hơn 63 năm trước. Quán bánh tên Song Mộc, mở cửa chính xác vào năm 1954. Những túp lều xanh cạnh bên những tán cây tại quán Song Mộc. Ảnh: Phong Vinh. Bánh cuốn ở quán luôn nóng hổi vì người đứng bếp chỉ tráng bánh khi có khách. Lớp bánh được tráng chín tới, có độ mỏng vừa phải, mềm dai nhưng không dễ rách. Nhân bên trong không mướt như thường thấy mà hơi khô, được nêm nếm theo công thức gia truyền nên có vị khác lạ. Sau khi bánh cuốn nhân xong thì được xếp gọn ghẽ trên dĩa, rắc thêm một nhúm hành phi giòn, vàng …