(PGVN)
Chùa vẫn tìm lại và lưu giữ được những “báu vật” vô giá như bốn cột đá ở hiên chùa chính, chân trụ đá còn nguyên vẹn. Chiếc khánh đá cổ, nặng khoảng 50 người khiêng; quả chuông cổ, mấy bức bia cổ…
Tọa lạc trên sườn núi Ốc (hay còn gọi là Ốc Sơn – xã Hà Phong – huyện Hà Trung – tỉnh Thanh Hóa), chùa Long Cảm với dáng vẻ nghiêm trang, tĩnh lặng nhưng cũng không kém phần nên thơ. Từ bao đời nay, nơi đây trở thành nơi tu hành của các Ni cô; đồng thời là điểm đến của du khách gần xa và của tất cả những người có tấm lòng nơi cửa Phật.
Tương truyền, vào năm Thuận Thiên thứ 11 (1020), vua Lý Thái Tổ đi đánh Chiêm Thành, đến vùng phủ Quảng Hòa (huyện Hà Trung ngày nay) đã dừng chân trên sườn núi Ốc Sơn. Đêm đến, Vua nằm mộng thấy rồng vàng. Nghĩ là điềm lành, sau khi giành thắng lợi, về tới kinh đô, nhớ lại giấc mộng tại núi Ốc, vua đã cho dựng trên núi Ốc Sơn một ngôi chùa, lấy tên là Long Cảm (Long: rồng; Cảm: tạ ơn, trả ơn)…
Năm 1992, chùa Long Cảm được công nhận là di tích lịch sử cấp tỉnh. Ngôi chùa tọa lạc trên sườn núi Ốc, tựa lưng vào núi, ở độ cao khoảng 60m so với chân núi. Sau những bước chân thong dong trên những bậc đá rợp mát bóng cây và mùi hương thiên nhiên tinh khiết dẫn lên chùa, mở ra trước du khách và người hành hương một không gian tâm linh, thành kính và hướng thiện của đất Phật. Chùa được xây dựng quay về hướng Nam, cấu trúc liên hoàn bao gồm cổng Tam Quan, sân chùa, chùa chính, nhà thờ Mẫu, nhà thờ Tổ. Tiếp đến là nhà khách và nơi ở của sư trụ trì.
| Biển chỉ dẫn vào khu di tích chùa Long Cảm |
| Con đường dẫn vào chùa Long Cảm |
| Bậc đá dẫn lên Tam quan chùa |
Toàn bộ khuôn viên chùa trở thành một vọng đài nhô lên trên nền trời. Nhìn từ xa, mái chùa cong cong, thấp thoáng sau những tán lá xanh mát. Từ khoảng sân hẹp của ngôi chùa, phóng tầm mắt ra bốn phía thấy cả đồng ruộng, làng mạc trù phú của vùng đất Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Vĩnh Lộc, Nga Sơn; cây cầu Đò Lèn lịch sử ẩn hiện bắc ngang sông…
Bác Hoàng Thị Thược, 73 tuổi, xã Hà Lâm (huyện Hà Trung) cho hay: Nghe các cụ kể lại, trước kia, bao quanh núi Ốc là đồng ruộng mênh mông. Muốn đi lên chùa chỉ có phương tiện duy nhất là phải đi bằng thuyền qua con kênh nối từ đường lớn vào chân núi.
Từ xa xưa, giữa một bãi cây rừng, lau lách um tùm, ngôi chùa chỉ là mấy gian nhà tranh cũ kỹ, ọp ẹp… Sau nhiều lần tu sửa, đặc biệt từ những năm 2003 – 2010, được sự hỗ trợ của xã Hà Phong, sự hảo tâm công đức của khách thập phương, đóng góp của các phật tử; sự nỗ lực của nhà chùa mà đứng đầu là Ni sư trụ trì Thích Đàm Quang, Sư cô Thích Đàm Tâm, chùa đã được tôn tạo, xây dựng khang trang.
| Bốn cột đá ở hiên chùa chính |
Bác Thược một phật tử địa phương cho biết: Gia đình bác, từ thời các cụ đã thường xuyên đi lễ chùa. Bác cũng đã đến đây thắp hương, chiêm bái mấy chục năm nay.
Năm 2006, gia đình đã quy tiên về chùa để tiện việc nhang khói, lễ Phật. Cùng với đó, mỗi năm, gia đình cũng tham gia đóng góp, cung tiến xây dựng chùa hàng triệu đồng; cùng phật tử khắp nơi đóng góp nhiều ngày công trong thời gian chùa xây dựng.
Năm 2006, gia đình đã quy tiên về chùa để tiện việc nhang khói, lễ Phật. Cùng với đó, mỗi năm, gia đình cũng tham gia đóng góp, cung tiến xây dựng chùa hàng triệu đồng; cùng phật tử khắp nơi đóng góp nhiều ngày công trong thời gian chùa xây dựng.
Sư cô Thích Đàm Tâm cho biết thêm: Thời kỳ chiến tranh, nơi đây được chọn đặt ụ pháo bảo vệ cầu Đò Lèn trước sự bắn phá ác liệt của giặc Mỹ hòng cắt đứt tuyến giao thông huyết mạch nối hai miền Nam – Bắc. Từ đây, theo đường bộ khoảng 2km là tới chân cầu. Ngoài ra, các cánh cổng chùa còn được tháo dỡ dùng làm cáng thương binh. Bởi vậy, ngôi chùa không chỉ là nơi dừng chân của tăng ni, phật tử mà còn là căn cứ quân sự quan trọng trong thời kỳ chiến tranh ác liệt.
| Các ban thờ chính |
Trải qua bao biến thiên, thăng trầm của lịch sử, cùng với thời gian, sự khắc nghiệt của thời tiết, chùa bị hư hại nặng nề. Sau những lần tu sửa, cải tạo, kiến trúc ban đầu của ngôi chùa không còn nguyên trạng. Đặc biệt, chùa vẫn tìm lại và lưu giữ được những “báu vật” vô giá như bốn cột đá ở hiên chùa chính, chân trụ đá còn nguyên vẹn. Chiếc khánh đá cổ, nặng khoảng 50 người khiêng; quả chuông cổ, mấy bức bia cổ…
| Bia đá cổ |
| Vườn tháp |
| Nhà bia |
| Chiếc khánh đá cổ |
Câu chuyện của Sư cô Thích Đàm Tâm làm chúng tôi chú ý hơn đến chiếc khánh đá 50 người khiêng. Đó là vào trước những năm 1970, khi ấy chùa gần như bị xuống cấp, hư hỏng gần hết, người dân trong vùng đã khiêng khánh đá về dưới làng. Có gia đình đã đập khánh đá để nung vôi. Tuy nhiên, đập mãi mà khánh đá vẫn không vỡ. Tự nhiên, người đàn ông trong gia đình không ốm không đau mà chết. Sợ quá, gia đình nọ vội khiêng khánh đá ra mương nước của làng và bỏ lại đó. Sau nhà chùa tìm lại được và mượn bà con khiêng trở lại chùa.
Ngôi chùa còn có cây muỗm (xoài) trên 1.000 năm tuổi, cây to 2 người ôm không hết, tán lá xum xuê, tỏa bóng mát rượi sân chùa. Xung quanh thân cây, từ gốc lên tới ngọn được quấn quanh bởi chi chít cây tầm gửi. Sư cô Thích Đàm Tâm cho biết, lạ là mưa to, gió lớn, bão bùng cũng không quật ngã, làm gãy đổ được cây. Bên cạnh đó là cây ngâu tuổi đời cũng đã 500 năm tuổi. Mùa hoa ngâu, mùi hương ngâu hòa quyện với mùi trầm lan tỏa khắp không gian trầm mặc, tôn nghiêm của chùa.
| Cây Ngâu có tuổi đời 500 năm |
Hiện ngôi chùa đang xây dựng khu đại Giảng đường - Nhà khách dưới chân núi để có nơi hoằng dương chính pháp, và mở các khóa tu cho tín đồ phật tử. Bởi khu chùa chính chỉ vẻn vẹn 100m2, không có địa thế tổ chức các khóa tu và nghe giảng cho tín đồ phật tử. Tổng giá trị kinh phí xây dựng trên 6 tỷ đồng.
Nhà chùa hiện mới xây hoàn thành phần móng; dự kiến đến năm 2016 đưa công trình Giảng đường - Nhà khách vào sử dụng. Bởi vậy, chùa Long Cảm rất cần tấm lòng, sự chung tay đóng góp về tài chính của các mạnh thường quân, nhà hảo tâm cũng như tăng ni, phật tử gần xa, để công trình đại Giảng đường – Nhà khách sớm được hoàn thành và đưa vào sử dụng.
Được biết, mới đây, nhà chùa cũng đã viết bức Tâm thư kêu gọi ủng hộ, đóng góp tài chính xây dựng công trình trên. Tin rằng, khi công trình được hoàn thành, cùng với sự uy nghiêm, linh thiêng của ngôi chùa hàng nghìn năm tuổi, phong cảnh thơ mộng, hữu tình nơi đây, chùa Long Cảm sẽ đáp ứng được nhu cầu tín ngưỡng của tăng, ni, phật tử và nhân dân gần xa; trở thành điểm du lịch văn hóa tâm linh hấp dẫn của huyện Hà Trung cũng như của tỉnh Thanh Hóa.
Phương Thảo - Nguyễn Văn Tuấn

Chiếc khánh đá có tiếng kêu như chuông đồng
NGUỒN ĐỌC THÊM:http://www.phatgiaovnn.com/upload1/modules.php?name=News&op=viewst&sid=11739#ixzz3mj8JJgef
Phương Thảo - Nguyễn Văn Tuấn
Khánh đá tiếng ngân như chuông đồng
Gõ nhẹ chiếc vồ gỗ vào khánh đá cổ, những tiếng “boong, boong” thanh thoát ngân vang, như tiếng chuông đồng.
Chiếc khánh đá có tiếng kêu như chuông đồng
Chùa cổ ngàn năm trên đỉnh Cô Sơn
Ngôi chùa cổ Long Cảm nằm bên bờ bắc của dòng sông Mã xưa, nay là nhánh sông Lèn. Chùa nhỏ, cảnh trí thanh u, kiến trúc cổ kính, tọa lạc trên sườn ngọn Cô Sơn đột khởi giữa mênh mông đồng ruộng phì nhiêu của thôn Trang Các (xã Hà Phong, huyện Hà Trung, Thanh Hóa). Xưa nay, chùa đều do các ni cô trụ trì, nên cảnh trí càng thêm tươi đẹp, thanh nhã.
Sư thầy Thích Đàm Quang, người đã trụ trì tại chùa Long Cảm suốt 30 năm nay nên tường tận gốc tích về ngôi chùa. Vào năm 1.020, trên đường từ Thăng Long tuần du qua xứ Thanh, vua Lý Thái Tổ có dừng xa giá tại vùng núi này, nơi xưa kia Triệu Đà đã từng dựng thành lũy, Triệu Quang Phục từng đóng quân. Đêm nằm mộng, nhà vua linh cảm thấy thần thiêng sông núi của xứ sở này ngầm phù trợ, ban thêm sức mạnh cho mình. Cảm tạ ơn đức ấy, Lý Thái Tổ bèn sai dựng một ngôi chùa, lấy tên là Long Cảm.
Trải qua gần 10 thế kỷ, các vua của triều đại sau đều rất quan tâm đến ngôi chùa nhỏ xinh, độc đáo này. Nhiều tao nhân mặc khách coi đây là chốn đi về bái Phật cầu an, vãn cảnh, tu dưỡng tâm tính, để lại khá nhiều thơ phú. Bên trong chùa có tám pho tượng của tám vị tổ sư từng tu hành tại chùa, được coi là những tác phẩm nghệ thuật cực quý hiếm, tinh xảo. Cạnh đó là những di vật khác có tuổi đời hàng trăm năm, thậm chí ngót nghét ngàn năm, được cung tiến ngày càng nhiều hơn qua các lần tôn tạo, trùng tu. Sư thầy Thích Đàm Quang cười hồn hậu: “Biết nhà chùa còn gìn giữ được ít nhiều di vật cổ, thỉnh thoảng các chùa lớn trong tỉnh lại đến thỉnh mượn một số về chùa đấy”.
Ngồi trên sân chùa rợp bóng của cây muỗm cổ thụ, thoang thoảng mùi thơm từ cây hoa ngâu hơn 500 tuổi, chúng tôi ngắm nhìn phong cảnh đồng ruộng, thôn xóm xa xa dưới chân núi. Ấn tượng nhất trên khuôn viên này là những chiếc khánh đá cổ đang phơi sương gió ở phía góc sân chùa, hướng về phía bến đò sông Mã cũ.
Hai chiếc khánh ở chùa Long Cảm đều rất lớn, cùng có màu đá xanh xám, được treo trên các trụ to bên cạnh nhau. Điểm khác của chúng là một chiếc có những hoa văn chạm trổ hình đám mây rất tinh xảo, một chiếc thì đơn thuần là phiến đá lớn tạc hình bán nguyệt được làm phẳng. Chỗ rộng nhất của chiếc khánh cũ đo được 0,86m, chiều dài là 1,96m, dày 0,2m, chứng tỏ khi chế tác khánh, các nghệ nhân đã rất nghiêm ngặt tuân theo thước Lỗ Ban. Liền một phiến đá lớn, dày dặn, nên có lẽ mỗi chiếc khánh phải nặng vài trăm kg. Chiếc khánh đem về từ chùa Thượng còn lành lặn và to hơn chiếc kia một chút.
Sư thầy Thích Đàm Quang vui vẻ cho biết: “Chiếc khánh to và đẹp kia vốn không phải của nhà chùa đâu. Trước đây nó ở trong ngôi chùa bên làng Thượng. Mấy chục năm trước, chùa Thượng bị đổ, nhiều đồ thờ bị vỡ hỏng, có người tiếc chiếc khánh quý bèn đem giấu xuống ao bèo để bảo quản. Sau này, người đó thuê người trục vớt lên, đem về chùa này cung tiến, nên nhà chùa treo bên cạnh chiếc khánh cổ ở sân”.
Còn chiếc khánh cổ của chùa Long Cảm, ngay cả sư thầy Thích Đàm Quang cũng không rõ nó có từ bao giờ. Thầy tin rằng khánh được đặt cùng lúc dựng ngôi chùa, tức là đã ngàn năm nay rồi. Nhưng cũng có thể, niên đại gần hơn, do được làm khi tôn tạo, trùng tu chùa của người đời sau. Có thể, niên đại của chiếc khánh đá này vào khoảng thời Hậu Lê, chừng 300 - 400 năm trước. Trông nó khá giản dị, mộc mạc, không có hoa văn, lại bị sứt một mảng to nơi thường dùng để gõ, chắc do sử dụng nhiều nên vậy.
Khánh đá kêu như chuông đồng
Sư thầy Thích Đàm Quang rất thích thú với điều đặc biệt của chiếc khánh đá cũ kỹ này: “Chỉ cần lấy tay vỗ vỗ vào khánh đá, nó sẽ phát ra những tiếng kêu như tiếng chuông đồng. Dùng vồ gỗ mà gõ mạnh, nó ngân lên rất vang”. Nói rồi, sư thầy gọi một u già nhờ đi lấy chiếc vồ gỗ, để du khách tự trải nghiệm với hai chiếc khánh.
Chúng tôi lần lượt thử vỗ bằng tay, rồi dùng vồ gỗ để gõ khánh. Quả thật, với chiếc khánh lớn mới được đưa về từ làng Thượng, dù có gõ mạnh đến mấy cũng chỉ phát ra những tiếng “cạch, cạch” khô khốc, trầm đục. Nhưng chỉ gõ nhẹ vào chiếc khánh cổ, tiếng “chuông” đã vang vang, trong trẻo, thanh thoát rất thú vị.
Tự mình cầm vồ thử gõ cả hai chiếc khánh để so sánh, họa sỹ, nhà nghiên cứu văn hóa Phan Bảo trầm ngâm: “Sự khác nhau về âm thanh của chúng là do chất liệu đá mà nên. Chiếc khánh không kêu có lẽ được chế tác từ khối đá xanh bình thường. Còn chiếc khánh kêu kia, chắc chắn được chế tạo từ đá của núi Nhồi, không thể là đá ở bất cứ nơi nào khác”.
Rồi ông cho biết thêm: “Núi Nhồi hiện nay thuộc phường An Hoạch (thành phố Thanh Hóa), cách vị trí chùa Long Cảm chừng hơn 20km về phía nam. Núi có tên chữ là An Hoạch, bên trên có cụm tượng mẹ con nàng Vọng Phu. Thời Tiền Lê, Lý từng là nơi sinh sống của rất nhiều người Lồi (nước Chiêm Thành xưa), nên còn gọi là núi Lồi, sau trại đi thành núi Nhồi. Trên đỉnh núi có hình hòn Vọng Phu, một truyền thuyết hóa đá chờ chồng của nàng Tô Thị xứ Thanh. Đá núi Nhồi rất quý, nên từ hàng ngàn năm trước, người dân ở đây đã có nghề khai thác đá ở núi này để làm khánh, bia, tượng, cột, chân cầu và các vật dụng khác”.
Theo sách “Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn, núi An Hoạch có “thế núi cao mà thoải, sắc đá trắng mà mượt, tiếng kêu mà trong”, phù hợp với việc làm khánh đá. Người ta đã biết tận dụng đặc điểm độc đáo của đá Nhồi này từ rất lâu rồi. Trong sách “Quảng dư chí” từ thời Minh (Trung Quốc) có nói: “Đời Tần, quan Thái thú Dự Châu họ Ninh thường sai người lấy đá ở đây đem về làm khánh”. Hay như trong “Vân đài loại ngữ”, bảng nhãn Lê Quý Đôn chép chuyện quan Thượng thư Lê Hữu Kiểu khi làm trấn thủ Thanh Hóa sai người đến núi Nhồi lấy đá đẽo thành chiếc khánh hình cá, rồi khắc chữ vào khánh rằng: “Hoạch Sơn loại đá kêu vang/ Sắc xanh màu biếc mịn màng đẹp tươi/ Gõ lên sang sảng bên tai/ Tuyệt nhiên không chút trần ai lạc vần…”.Các nhà địa chất cũng từng nghiên cứu về đá núi Nhồi để tìm câu trả lời cho âm thanh độc đáo của nó. Theo đó, đá núi Nhồi có hàm lượng canxi lớn nên có độ nguyên khối lớn, ít bị ăn mòn. Ngoài ra, chất đá mềm, mịn nên rất dễ chế tác các vật dụng. Nhưng lạ rằng, ở nước ta chỉ riêng ngọn núi này có chất liệu đá ấy, không tìm thấy ở những nơi khác. Các núi sát kề xung quanh núi Nhồi không cho tiếng kêu tương tự. Vì vậy, những chiếc khánh được làm từ đá núi Nhồi đều là vật quý báu cả về tinh thần lẫn vật chất, được người xưa rất coi trọng. Tất cả từ âm thanh đặc biệt của nó.
Hiện nay, không còn nhiều những chiếc khánh đá như vậy. Có thông tin ở Bảo tàng tỉnh Bắc Ninh còn lưu giữ một bộ khánh làm từ đá núi Nhồi, nhưng chưa được tự tay gõ vào khánh, nên chúng tôi cũng chưa dám khẳng định về âm thanh của nó. Có thể đâu đó trong các bộ sưu tầm cổ vật tư nhân trên đất nước cũng còn những chiếc khánh phát tiếng kêu đang được lưu giữ cẩn thận. Nhưng ở chùa Long Cảm, chiếc khánh đá độc đáo đang vẫn được nhà chùa sử dụng hàng ngày. Nó được treo trên hai trụ xi măng mới đúc có hai hàng chữ Nho, bên cạnh hàng chục chân tảng bằng đá từ nền chùa cổ, không được che đậy gì. Phơi mình trong sương gió suốt nhiều thế kỷ, chiếc khánh đá cổ bị phong hóa ít nhiều, nhưng âm thanh còn rất trong trẻo, thánh thót như tiếng chuông.
“Khánh là một trong những pháp khí của Phật giáo, âm thanh có tác dụng rất mầu nhiệm đối với người tu thiền. Thiền sử kể, các thiền sư một khi đã nhập định đến một cảnh giới nào đó thì trời long đất lở xung quanh, thân tâm của các vị ấy vẫn bất động. Nhưng chỉ với một tiếng khánh nhỏ vang lên, cũng đủ làm cho các ngài thức giấc. Đôi khi, du khách vẫn tìm đến chùa để tự tay gõ nhẹ vào khánh đá mà nghe tiếng kêu, để tâm hồn thanh thản. Có người thì gõ chơi cho vui, không ít người lại coi đó như sự cầu may mắn, bình an đấy” - sư thầy Thích Đàm Quang vui vẻ cho biết.
Ngôi chùa cổ Long Cảm nằm bên bờ bắc của dòng sông Mã xưa, nay là nhánh sông Lèn. Chùa nhỏ, cảnh trí thanh u, kiến trúc cổ kính, tọa lạc trên sườn ngọn Cô Sơn đột khởi giữa mênh mông đồng ruộng phì nhiêu của thôn Trang Các (xã Hà Phong, huyện Hà Trung, Thanh Hóa). Xưa nay, chùa đều do các ni cô trụ trì, nên cảnh trí càng thêm tươi đẹp, thanh nhã.
Sư thầy Thích Đàm Quang, người đã trụ trì tại chùa Long Cảm suốt 30 năm nay nên tường tận gốc tích về ngôi chùa. Vào năm 1.020, trên đường từ Thăng Long tuần du qua xứ Thanh, vua Lý Thái Tổ có dừng xa giá tại vùng núi này, nơi xưa kia Triệu Đà đã từng dựng thành lũy, Triệu Quang Phục từng đóng quân. Đêm nằm mộng, nhà vua linh cảm thấy thần thiêng sông núi của xứ sở này ngầm phù trợ, ban thêm sức mạnh cho mình. Cảm tạ ơn đức ấy, Lý Thái Tổ bèn sai dựng một ngôi chùa, lấy tên là Long Cảm.
Trải qua gần 10 thế kỷ, các vua của triều đại sau đều rất quan tâm đến ngôi chùa nhỏ xinh, độc đáo này. Nhiều tao nhân mặc khách coi đây là chốn đi về bái Phật cầu an, vãn cảnh, tu dưỡng tâm tính, để lại khá nhiều thơ phú. Bên trong chùa có tám pho tượng của tám vị tổ sư từng tu hành tại chùa, được coi là những tác phẩm nghệ thuật cực quý hiếm, tinh xảo. Cạnh đó là những di vật khác có tuổi đời hàng trăm năm, thậm chí ngót nghét ngàn năm, được cung tiến ngày càng nhiều hơn qua các lần tôn tạo, trùng tu. Sư thầy Thích Đàm Quang cười hồn hậu: “Biết nhà chùa còn gìn giữ được ít nhiều di vật cổ, thỉnh thoảng các chùa lớn trong tỉnh lại đến thỉnh mượn một số về chùa đấy”.
Ngồi trên sân chùa rợp bóng của cây muỗm cổ thụ, thoang thoảng mùi thơm từ cây hoa ngâu hơn 500 tuổi, chúng tôi ngắm nhìn phong cảnh đồng ruộng, thôn xóm xa xa dưới chân núi. Ấn tượng nhất trên khuôn viên này là những chiếc khánh đá cổ đang phơi sương gió ở phía góc sân chùa, hướng về phía bến đò sông Mã cũ.
Hai chiếc khánh ở chùa Long Cảm đều rất lớn, cùng có màu đá xanh xám, được treo trên các trụ to bên cạnh nhau. Điểm khác của chúng là một chiếc có những hoa văn chạm trổ hình đám mây rất tinh xảo, một chiếc thì đơn thuần là phiến đá lớn tạc hình bán nguyệt được làm phẳng. Chỗ rộng nhất của chiếc khánh cũ đo được 0,86m, chiều dài là 1,96m, dày 0,2m, chứng tỏ khi chế tác khánh, các nghệ nhân đã rất nghiêm ngặt tuân theo thước Lỗ Ban. Liền một phiến đá lớn, dày dặn, nên có lẽ mỗi chiếc khánh phải nặng vài trăm kg. Chiếc khánh đem về từ chùa Thượng còn lành lặn và to hơn chiếc kia một chút.
Sư thầy Thích Đàm Quang vui vẻ cho biết: “Chiếc khánh to và đẹp kia vốn không phải của nhà chùa đâu. Trước đây nó ở trong ngôi chùa bên làng Thượng. Mấy chục năm trước, chùa Thượng bị đổ, nhiều đồ thờ bị vỡ hỏng, có người tiếc chiếc khánh quý bèn đem giấu xuống ao bèo để bảo quản. Sau này, người đó thuê người trục vớt lên, đem về chùa này cung tiến, nên nhà chùa treo bên cạnh chiếc khánh cổ ở sân”.
Còn chiếc khánh cổ của chùa Long Cảm, ngay cả sư thầy Thích Đàm Quang cũng không rõ nó có từ bao giờ. Thầy tin rằng khánh được đặt cùng lúc dựng ngôi chùa, tức là đã ngàn năm nay rồi. Nhưng cũng có thể, niên đại gần hơn, do được làm khi tôn tạo, trùng tu chùa của người đời sau. Có thể, niên đại của chiếc khánh đá này vào khoảng thời Hậu Lê, chừng 300 - 400 năm trước. Trông nó khá giản dị, mộc mạc, không có hoa văn, lại bị sứt một mảng to nơi thường dùng để gõ, chắc do sử dụng nhiều nên vậy.
Khánh đá kêu như chuông đồng
Sư thầy Thích Đàm Quang rất thích thú với điều đặc biệt của chiếc khánh đá cũ kỹ này: “Chỉ cần lấy tay vỗ vỗ vào khánh đá, nó sẽ phát ra những tiếng kêu như tiếng chuông đồng. Dùng vồ gỗ mà gõ mạnh, nó ngân lên rất vang”. Nói rồi, sư thầy gọi một u già nhờ đi lấy chiếc vồ gỗ, để du khách tự trải nghiệm với hai chiếc khánh.
Chúng tôi lần lượt thử vỗ bằng tay, rồi dùng vồ gỗ để gõ khánh. Quả thật, với chiếc khánh lớn mới được đưa về từ làng Thượng, dù có gõ mạnh đến mấy cũng chỉ phát ra những tiếng “cạch, cạch” khô khốc, trầm đục. Nhưng chỉ gõ nhẹ vào chiếc khánh cổ, tiếng “chuông” đã vang vang, trong trẻo, thanh thoát rất thú vị.
Tự mình cầm vồ thử gõ cả hai chiếc khánh để so sánh, họa sỹ, nhà nghiên cứu văn hóa Phan Bảo trầm ngâm: “Sự khác nhau về âm thanh của chúng là do chất liệu đá mà nên. Chiếc khánh không kêu có lẽ được chế tác từ khối đá xanh bình thường. Còn chiếc khánh kêu kia, chắc chắn được chế tạo từ đá của núi Nhồi, không thể là đá ở bất cứ nơi nào khác”.
Rồi ông cho biết thêm: “Núi Nhồi hiện nay thuộc phường An Hoạch (thành phố Thanh Hóa), cách vị trí chùa Long Cảm chừng hơn 20km về phía nam. Núi có tên chữ là An Hoạch, bên trên có cụm tượng mẹ con nàng Vọng Phu. Thời Tiền Lê, Lý từng là nơi sinh sống của rất nhiều người Lồi (nước Chiêm Thành xưa), nên còn gọi là núi Lồi, sau trại đi thành núi Nhồi. Trên đỉnh núi có hình hòn Vọng Phu, một truyền thuyết hóa đá chờ chồng của nàng Tô Thị xứ Thanh. Đá núi Nhồi rất quý, nên từ hàng ngàn năm trước, người dân ở đây đã có nghề khai thác đá ở núi này để làm khánh, bia, tượng, cột, chân cầu và các vật dụng khác”.
Theo sách “Đại Nam nhất thống chí” của Quốc sử quán triều Nguyễn, núi An Hoạch có “thế núi cao mà thoải, sắc đá trắng mà mượt, tiếng kêu mà trong”, phù hợp với việc làm khánh đá. Người ta đã biết tận dụng đặc điểm độc đáo của đá Nhồi này từ rất lâu rồi. Trong sách “Quảng dư chí” từ thời Minh (Trung Quốc) có nói: “Đời Tần, quan Thái thú Dự Châu họ Ninh thường sai người lấy đá ở đây đem về làm khánh”. Hay như trong “Vân đài loại ngữ”, bảng nhãn Lê Quý Đôn chép chuyện quan Thượng thư Lê Hữu Kiểu khi làm trấn thủ Thanh Hóa sai người đến núi Nhồi lấy đá đẽo thành chiếc khánh hình cá, rồi khắc chữ vào khánh rằng: “Hoạch Sơn loại đá kêu vang/ Sắc xanh màu biếc mịn màng đẹp tươi/ Gõ lên sang sảng bên tai/ Tuyệt nhiên không chút trần ai lạc vần…”.Các nhà địa chất cũng từng nghiên cứu về đá núi Nhồi để tìm câu trả lời cho âm thanh độc đáo của nó. Theo đó, đá núi Nhồi có hàm lượng canxi lớn nên có độ nguyên khối lớn, ít bị ăn mòn. Ngoài ra, chất đá mềm, mịn nên rất dễ chế tác các vật dụng. Nhưng lạ rằng, ở nước ta chỉ riêng ngọn núi này có chất liệu đá ấy, không tìm thấy ở những nơi khác. Các núi sát kề xung quanh núi Nhồi không cho tiếng kêu tương tự. Vì vậy, những chiếc khánh được làm từ đá núi Nhồi đều là vật quý báu cả về tinh thần lẫn vật chất, được người xưa rất coi trọng. Tất cả từ âm thanh đặc biệt của nó.
Hiện nay, không còn nhiều những chiếc khánh đá như vậy. Có thông tin ở Bảo tàng tỉnh Bắc Ninh còn lưu giữ một bộ khánh làm từ đá núi Nhồi, nhưng chưa được tự tay gõ vào khánh, nên chúng tôi cũng chưa dám khẳng định về âm thanh của nó. Có thể đâu đó trong các bộ sưu tầm cổ vật tư nhân trên đất nước cũng còn những chiếc khánh phát tiếng kêu đang được lưu giữ cẩn thận. Nhưng ở chùa Long Cảm, chiếc khánh đá độc đáo đang vẫn được nhà chùa sử dụng hàng ngày. Nó được treo trên hai trụ xi măng mới đúc có hai hàng chữ Nho, bên cạnh hàng chục chân tảng bằng đá từ nền chùa cổ, không được che đậy gì. Phơi mình trong sương gió suốt nhiều thế kỷ, chiếc khánh đá cổ bị phong hóa ít nhiều, nhưng âm thanh còn rất trong trẻo, thánh thót như tiếng chuông.
“Khánh là một trong những pháp khí của Phật giáo, âm thanh có tác dụng rất mầu nhiệm đối với người tu thiền. Thiền sử kể, các thiền sư một khi đã nhập định đến một cảnh giới nào đó thì trời long đất lở xung quanh, thân tâm của các vị ấy vẫn bất động. Nhưng chỉ với một tiếng khánh nhỏ vang lên, cũng đủ làm cho các ngài thức giấc. Đôi khi, du khách vẫn tìm đến chùa để tự tay gõ nhẹ vào khánh đá mà nghe tiếng kêu, để tâm hồn thanh thản. Có người thì gõ chơi cho vui, không ít người lại coi đó như sự cầu may mắn, bình an đấy” - sư thầy Thích Đàm Quang vui vẻ cho biết.
NGUỒN ĐỌC THÊM:http://www.phatgiaovnn.com/upload1/modules.php?name=News&op=viewst&sid=11739#ixzz3mj8JJgef
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét