Thứ Tư, 4 tháng 3, 2015

Đường 12


 Đường 12 bắt đầu từ thành phố Hà Tĩnh qua ngã ba Khe Ve (trước đây gọi là ngã ba Quy Đạt) chạy  theo hướng đông- nam, vượt đèo Mụ Giạ sang huyện Bua La Pha, tiếp tục đi ngang tỉnh Khăm Muộn đến thành phố Thà Khẹc bên dòng Mê Công ở biên giới phía tây nước Lào. Trước năm 1966, đây là tuyến đường duy nhất sang Lào từ đất Quảng Bình. Tuy nhiên chất lượng mặt đường ngày ấy rất xấu, vừa nhỏ, vừa dốc, vừa hoang vắng.
         Để phục vụ đưa hàng vào  miền Nam, đường 12 được chọn là tuyến vượt khẩu cơ giới đầu tiên của Đoàn 559. Vào năm 1961, theo thỏa thuận với Đảng Nhân dân cách mạng Lào, chúng ta đã xây dựng đường 129 từ Lằng Khằng về đường 9 tại Mường Phìn. Sau khi xây dựng đường 129, những đoàn xe đầu tiên chở nhu yếu phẩm đã vượt Cổng Trời sang Lằng Khằng rồi theo đường 129 vào Mường Phìn, Sê Pôn. Năm 1964, Đường 12  đã phục vụ cho chiến thăng Đồng Hến trên đường 9.     
Xe vượt cửa khẩu sang Lào (minh họa)
Đến năm 1965, máy bay Mỹ bắt đầu mở rộng đánh phá ngăn chặn tuyến đường chiến lược 12. Suốt dọc mấy chục cây số đường 12, những đơn vị bộ đội, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến đã trằn mình dưới bom đạn lấp hố bom, sửa đường cho dòng xe không bị tắc. Những trọng điểm như La Trọng, Bãi Dinh, Cổng Trời, Lằng Khằng…ngày đêm hững chịu bom đạn giặc. Anh hùng Nguyễn Viết Xuân đã chiến đấu đánh trả máy bay Mỹ để bảo vệ tuyến đường 12, anh đã hy sinh trên mâm pháo với câu nói nổi tiếng: “ Nhằm thẳng quân thù mà bắn!”
Xe đi trên đường 12 ngày nay
       Vượt đèo Mụ Giạ sang Lào từ thời Pháp thuộc, ngoài tuyến đường bộ còn có một tuyến đường sắt do Pháp xây dựng từ ga Tân Ấp sang ga cuối là Buanaphào (Lào). Vết tích tuyến đường sắt trên cao do người Pháp đã xây dựng cách nay hơn 80 năm để vận chuyển tài nguyên từ Trung Lào về VN vẫn còn.

Trụ của tuyến đường sắt Tân Ấp- Buanaphào
        Dù đã hơn 80 năm nhưng vùng đồi trong khu vực các trụ bêtông vẫn còn dấu tích ở khu Cầu Trập. Đó là những cây bưởi mà dân phu đã trồng lấy quả ăn, những đoạn đá xếp chồng chống thú dữ, những hòn đá đầu rau làm bếp nấu cơm... Đặc biệt, ở vùng Thanh Lạng còn cả mấy đường hầm xuyên qua núi. Dù đã phủ đầy rêu phong, cây cỏ nhưng đường hầm vẫn còn vững chắc, trần hầm khô ráo, không hề có các vết nứt nẻ, thấm dột.           Ngày ấy ôtô ray chạy theo đường sắt từ Tân Ấp đến các điểm tiếp theo là cầu Cốt Bốn, Thanh Thạch, Khe Hà, ga Thanh Lạng, hầm Thanh Lạng, cầu Trập, hầm Trệng, cầu Trệng, cầu Xóm Chuối và dừng ở điểm cuối ga Lâm Hóa. Từ ga Lâm Hóa, tuyến đường sắt bắt đầu chuyển lên đường cáp trên không để chạy tiếp qua Lào. Đường cáp trên không này còn gọi là “ Không trung thiết lộ” có hệ thống trụ đỡ và dây cáp rất kiên cố cho xe goòng chạy. Dọc đoạn đường sắt trên không có các ga Cha Mác, La Trọng, Mòn, Bãi Dinh. 

Đường sắt trên cao-“ Không trung thiết lộ” ( minh họa)
         Theo Thiếu tướng Hoàng Anh Tuấn, khi ông lái xe trên tuyến đường này vẫn còn vết tích các trụ bằng thép và bê tông đi trên các sườn đồi dọc đường 12. Ngày nay, những dấu tích ấy cũng đã biến mất cùng những người săn sắt vụn.
           Liệu đã có ai đề xuất một tuyến đường sắt từ Việt Nam sang Lào qua đèo Mụ Giạ này không?

                                                                                                       Vũ Trình Tường

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét