Thứ Sáu, 17 tháng 11, 2017

Nghi án 'giả vương nhập cận'

Một giả vương khác?

Ông tộc trưởng Nguyễn Cửu Dãnh (phải) giới thiệu các tài liệu gia phổ của dòng họẢNH: N.T.TUẤN
Vẫn còn tồn nghi chưa giải quyết rốt ráo: Nguyễn Quang Bình nhập Thanh là vua Quang Trung thực hay giả?
Các nhà nghiên cứu vừa phát hiện tài liệu cổ, trong đó hé lộ thêm một nhân vật được cho là đã đóng giả vua Quang Trung (giả vương) sang yết kiến vua Càn Long, trong nghi án lịch sử "giả vương nhập cận", khác với những gì mà sử liệu từng ghi nhận.
Sự kiện bang giao độc đáo
Trong bang giao Đại Việt và Đại Thanh thời Tây Sơn có một sự kiện độc đáo xảy ra năm Canh Tuất (1790), sau cuộc chiến tranh cuối năm Mậu Thân, đầu năm Kỷ Dậu (1789) với đại thắng của Đại Việt. Hai phía đã giảng hòa, nhân đại lễ bát tuần đại khánh của vua Càn Long năm Canh Tuất (1790), Nguyễn Quang Bình (tức Nguyễn Huệ - vua Quang Trung) cùng các bồi thần trên 150 người được phía Đại Thanh đón tiếp long trọng, chu đáo từ đầu chí cuối gần một năm. Các sử gia đã nghiên cứu và nêu hết ý nghĩa to lớn của nỗ lực ngoại giao gần hai năm của triều Quang Trung, mà đỉnh cao là sự kiện nổi bật nêu trên. Nhờ vậy Đại Việt tránh can qua, hóa giải “lửa hận” hừng hực những người quen chiến thắng hơn là chiến bại của vua quan nhà Thanh.
Tuy nhiên vẫn còn tồn nghi chưa giải quyết rốt ráo: Nguyễn Quang Bình nhập Thanh là vua Quang Trung thực hay giả?
Các tác giả trong Ngô gia văn phái khi soạn Hoàng Lê nhất thống chí đã viết “giả vương nhập cận” là võ quan Nguyễn Quang Trực, người làng Mặc Điền, huyện Nam Đường (Nam Đàn), trấn Nghệ An. Ngô Thì Chí viết chính biên và Ngô Thì Du viết tục biên. Các dữ kiện trong sách do các vị trong họ Ngô cung cấp, trong đó có Ngô Thì Nhậm, người từng tổ chức sứ bộ có giả vương Quang Trung nhập Thanh, có chú ruột là Ngô Tưởng Đạo. Con của Ngô Tưởng Đạo là Ngô Thì Du sống ở Nghệ An, người viết hồi 15 (có sự kiện giả vương) nên dữ liệu do Hoàng Lê nhất thống chí cung cấp có độ tin cậy nhất định, khó bỏ qua.
Trong khi đó, Đại Nam chính biên liệt truyện của Quốc sử quán triều Nguyễn, quyển 30, lại chép rằng: “Mùa xuân năm Canh Tuất (1790), Phúc Khang An giục Huệ (Nguyễn Huệ) chuẩn bị hành trang (Huệ trả lời lấy cớ mẹ chết xin được cho con là Quang Thùy thay mình nhập cận; Khang An không chịu, bí mật sai người đến cửa quan dặn dò hơn thiệt, bảo rằng nếu cực chẳng đã thì kiếm người bề ngoài giống mình thay mặt mà đi). Huệ mới sai Phạm Công Trị mạo tên mình, sai bầy tôi là Ngô Văn Sở, Đặng Văn Chân, Phan Huy Ích, Vũ Huy Tuấn, Vũ Danh Tiêu, Nguyễn Tiến Lộc, Đỗ Văn Công. Ngoài lệ thường còn cống thêm hai voi đực, cung ứng trên đường khổ sở, đi đường rất là khó nhọc”.
Một nhân vật khác
Hai nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đính và Võ Vinh Quang vừa tiếp cận được tài liệu Vân Dương kinh phổ viết bằng chữ Hán của họ Nguyễn Cửu ở làng Vân Dương (xã Thủy Vân, TX.Hương Thủy, Thừa Thiên-Huế). Vân Dương kinh phổ viết năm 1850, trong đó ghi chép Nguyễn Cửu Trị từng là “giả vương nhập cận” (đóng giả vua Quang Trung sang chầu trực tiếp vua Càn Long nhà Thanh).
Từ tư liệu này, các tác giả Nguyễn Đình Đính - Võ Vinh Quang đã giới thiệu trên tạp chí Sông Hương (số ra 1.8.2017) trong bài viết Giả vương nhập cận - một nhân vật khác. Trong bài viết, 2 tác giả dẫn sách Vân Dương kinh phổ ghi rằng, ở mục phái 3, chi 5, gia phả họ Nguyễn Cửu có đoạn (phiên âm chữ Hán): “Hoán Quận công đệ thập nhị tử: Nội đội trưởng Trị An hầu Nguyễn Phúc Hoảng (nhất danh Trị). Sinh thọ thất tường công trạng mạo khôi vi tính vưu quai xảo. Tây tặc Nguyễn Quang Bình thiết cứ sử trang tác giả vương nhập cận vu Thanh Cao Tông, hậu lưu cứ Hà Nội. Gia Long niên gian công lãm vi Tuyên Quang lệ thuế, bất tri sở chung”. Dịch nghĩa: Nội Đội trưởng Trị An hầu Nguyễn Phúc Hoảng (còn có tên là Trị), con thứ 12 của Hoán Quận công (Nguyễn Phúc Pháp, Cửu Pháp). Ông có dung mạo cao lớn đẹp đẽ, tính rất khéo léo. Lúc giặc Tây Sơn Nguyễn Quang Bình (tức Nguyễn Huệ) chiếm cứ, đã sai ông cải trang làm “giả vương nhập cận” sang yết kiến vua Cao Tông (Càn Long) nhà Thanh. Về sau ông sống tại Hà Nội. Trong niên hiệu Gia Long (1802 - 1820), ông (làm quan) coi thuế khoáng sản ở Tuyên Quang, không biết chết như thế nào...
Kết nối với hậu duệ “giả vương”
Từ nguồn trích dẫn này, chúng tôi tìm về làng Vân Dương (xã Thủy Vân) và được chỉ dẫn gặp tộc trưởng họ Nguyễn Cửu hiện nay, ông Nguyễn Cửu Dãnh (71 tuổi, trú tại 94 kiệt 1/1 Tôn Thất Cảnh, P.An Đông, TP.Huế). Ông tộc trưởng phái 3 sốt sắng mang toàn bộ thư tịch của tộc họ, trong đó có Bắc phổ và Vân Dương kinh phổ.
Đặc biệt, ông tộc trưởng cho biết đã liên lạc được chi Nguyễn Cửu ở Hà Nội, hậu duệ ngài Nguyễn Cửu Trị (giả vương nhập cận). Theo ông tộc trưởng, chi Nguyễn Cửu ở Hà Nội đã có vài trăm hậu duệ. Từ số điện thoại của ông Nguyễn Cửu Thược do ông Dãnh cung cấp, chúng tôi đã kết nối được với ông Thược. Qua điện thoại, ông Thược cho biết ông là hậu duệ đời thứ 9 của nhánh Nguyễn Cửu này. Tổ của ông là vị võ quan Tây Sơn, trong đạo quân do vua Quang Trung chỉ huy đại phá quân Thanh. Sau thắng trận, ngài tổ mới lập gia đình và lập nghiệp ở làng Trường Yên (Hà Đông), nay là xã Ngọc Sơn và TT.Chúc Sơn, H.Chương Mỹ, Hà Nội. Mộ ngài tổ vừa được trùng tu, có bia nhưng không khắc danh tính.
Bùi Ngọc Long - Trần Viết Điền

Người bí ẩn trong gia phả dòng tộc

Phủ thờ ni cô Vân Dương (dâu của họ Nguyễn Cửu) - nơi lưu giữ nhiều tư liệu liên quan đến dòng họ Nguyễn Cửu tại làng Vân DươngẢNH: NGUYỄN THANH TUẤN]\
Dòng tộc Nguyễn Cửu nhiều đời làm quan lớn cho các chúa Nguyễn, trong khi ông Nguyễn Cửu Trị lại trở thành 'giả vương' của vua Quang Trung, nên những ghi chép về ông Trị trong gia phả dòng tộc có nhiều bí ẩn.
Danh gia vọng tộc
Theo khảo cứu của Nguyễn Đình Đính và Võ Văn Quang, dòng tộc Nguyễn Cửu ở Đàng Trong khởi nguồn từ Nghĩa quận công Nguyễn Cửu Kiều, gốc ở Tống Sơn (Thanh Hóa), là một dòng tộc anh em với họ Nguyễn Phước của chúa tiên Nguyễn Hoàng.
Năm 1623, ông Nguyễn Cửu Kiều mang mật thư và ấn báu của Trịnh phi Ngọc Tú (vợ Thanh Đô vương Trịnh Tráng, chị của chúa sãi Nguyễn Phúc Nguyên) vào nam dâng lên chúa sãi, được chúa gả công nữ Ngọc Đỉnh và thăng làm chưởng cơ. Từ đây, ông đã đóng góp tài năng và công sức của mình cho sự vững mạnh của xứ Đàng Trong dưới trướng Thụy quốc công Nguyễn Phúc Nguyên (1563 - 1635).
Nhiều con cháu của Nghĩa quận công Nguyễn Cửu Kiều là anh tài tuấn kiệt, nối đời làm quan chức ở Đàng Trong, trở thành một đại danh gia vọng tộc và có sự đóng góp to lớn cho công cuộc xây dựng, bảo vệ biên cương Tổ quốc cũng như cho công cuộc khai phá mở mang vùng đất Nam bộ. Họ Nguyễn Cửu do có nhiều công trạng nên đã được ban quốc tính Nguyễn Phước. Về sau, đến năm Minh Mạng thứ 1 (1820), vua Minh Mạng ân tứ đổi thành “Nguyễn Cửu”. Vì thế, những ghi chép về các nhân vật của dòng họ này từ thời Gia Long trở về trước thường viết là Nguyễn Phước.
Cũng theo Vân Dương kinh phổ (gia phổ họ Nguyễn Cửu làng Vân Dương), cha của Nguyễn Cửu Trị là phò mã Hoán quận công Nguyễn Cửu Pháp (1703 - 1775). Ban đầu, Nguyễn Cửu Pháp trấn ở Quảng Bình, kiêm lãnh chức Tham tướng thủy binh, tước Doãn Đức hầu, sau được triệu hồi về kinh làm phụ chính, cùng 2 anh là Uyên quận công Nguyễn Cửu Quý và Kỉnh quận công Nguyễn Cửu Thông hết lòng lo việc nước, mọi việc đều khoan dung, công bình, người dân được nhờ. Lúc Duệ Tông Nguyễn Phước Thuần kế vị, Trương Phước Loan chuyên quyền, ông muốn hạ mà không được. Khi anh em nhà Tây Sơn dấy binh, ông khiến các con là Thạc quận công Nguyễn Cửu Sách (con đầu), Nguyễn Cửu Thân (con thứ 2), Nguyễn Cửu Dật (con thứ 4) ra lãnh việc quân. Năm Giáp Ngọ (1774), Hoàng Ngũ Phúc đánh kinh thành Phú Xuân, ông ra lệnh con bỏ nhà dắt gia đình vào Quảng Nam, bảo 2 con Cửu Thân và Cửu Dật phải hết lòng theo chúa, giúp nước. Năm Ất Mùi (1775), ông nhiễm bệnh không đi được, con trưởng là Nguyễn Cửu Sách đưa ông về Phú Xuân dưỡng bệnh và mất, thọ 73 tuổi, chôn tại xứ Bàu Trai, làng Như Lệ, tỉnh Quảng Trị.
Những người họ Nguyễn Phước (Cửu) có huân công đã được ghi nhận. Các sách Đại Nam thực lục, Đại Nam liệt truyện, Đại Nam nhất thống chí, Vân Dương kinh phổ... đã dành nhiều trang để nói về hành trạng sự nghiệp của các danh thần của tộc họ này, như Nguyễn Cửu Kiều, Nguyễn Cửu Ứng, Nguyễn Cửu Dực, Nguyễn Cửu Thế, Nguyễn Cửu Vân, Nguyễn Cửu Đàm, Nguyễn Cửu Pháp, Nguyễn Cửu Dật, Nguyễn Cửu Tuấn… Suốt gần 2 thế kỷ 17 - 18, tộc Nguyễn Cửu vẫn vẹn toàn tấm lòng trung nghĩa, hết lòng đóng góp công sức của mình cho chính quyền Đàng Trong, cả trong thời kỳ thịnh vượng an bình lẫn giai đoạn gian nan biến loạn.
Đưa chuyện truyền ức vào gia phả ?
Cũng theo Nguyễn Đình Đính và Võ Văn Quang, có khả năng do là “giả vương” (vua giả) để thế thân vua Quang Trung nhà Tây Sơn qua chầu vua Càn Long nhà Thanh, nên ít nhiều ông Nguyễn Cửu Trị và chi nhánh của ông cũng có mối liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp đối với triều đại Tây Sơn. Bởi vậy, khi triều Nguyễn trị vì, có lẽ vì một số mặc cảm thời cuộc, ông không còn muốn liên hệ gì với tổ tiên ở Huế và gần như biệt tích. Thêm nữa, họ Nguyễn Cửu vốn là dòng anh em với họ Nguyễn Phước, có công huân với họ Nguyễn Phước, nhưng trong gia phả lại ghi về một người trong họ làm "giả vương nhập cận" của vua Quang Trung, cũng là điều lạ.
Nhà nghiên cứu Trần Viết Điền cho rằng, do Trị An hầu Nguyễn Cửu Trị là người huân cựu của triều chúa Nguyễn, lại cộng tác với triều Tây Sơn, làm một việc “tày trời” nên họ Nguyễn Cửu (từ thời Tự Đức trở về trước) chỉ truyền ức câu chuyện này chứ không dám ghi vào gia phổ. Do đó, có khả năng người soạn Vân Dương kinh phổ là Lãm quận công Nguyễn Cửu Lãm (chung ông nội với Nguyễn Cửu Trị) chưa chép kỹ về ông Trị. Đến thời Tự Đức, khoảng năm 1850, ông Nguyễn Cửu Trường, Hữu thị lang sung biện nội các, hàng cháu gọi Nguyễn Cửu Trị là chú trong họ, đã mạnh dạn chép sự kiện “giả vương nhập cận” của chú Nguyễn Cửu Trị khi tu bổ Vân Dương kinh phổ, nhưng không biết năm sinh năm mất của Nguyễn Cửu Trị.
Cũng theo nhà nghiên cứu Trần Viết Điền, ông Trị là con thứ 12 của phò mã Hoán quận công Nguyễn Cửu Pháp. Hoán quận công lập gia đình khoảng năm 1720, có 12 người con. Như thế, dự đoán ông Nguyễn Cửu Trị có năm sinh trong khoảng từ 1742 đến 1752, khoảng năm 1790 thì Nguyễn Cửu Trị tuổi trên dưới 50, nghĩa là ông có tuổi xấp xỉ tuổi vua Quang Trung.
Bùi Ngọc Long

Vì sao cần người đóng giả vua?

Như các sử liệu đã dẫn, trong đối sách ngoại giao với nhà Thanh, có 2 lần triều Tây Sơn cho người đóng thế vua Quang Trung, nhưng theo các tư liệu được chép cũng như vừa phát hiện thì cho thấy có đến 3 người đóng giả vua.
Nghi án 'giả vương nhập cận': Vì sao cần người đóng giả vua ?
Tượng vua Quang Trung tại Bảo tàng Quang Trung (Bình Định)ẢNH: GIA KHIÊM
Đối phó “thù trong giặc ngoài”
TS Nguyễn Duy Chính trong quyển Giở lại một nghi án lịch sử giả vương nhập cận - có thực người sang Trung Hoa là vua Quang Trung giả hay không (NXB Văn hóa - Văn nghệ, 2016) đã dựa trên nhiều nguồn tư liệu xác thực đương thời của cả hai bên, đặc biệt là văn thư trao đổi của các đại thần hai triều, những chỉ dụ của Càn Long, biểu tấu của Quang Trung để bác bỏ quan điểm “giả vương nhập cận”. Ông cho rằng chính vua Quang Trung, tức Nguyễn Quang Bình theo danh xưng của nhà Thanh, đã được vua Càn Long mời sang Bắc Kinh dự lễ bát tuần khánh thọ của vua Thanh. Nguyễn Duy Chính cho rằng cựu thần nhà Lê và các sử gia triều Nguyễn bịa đặt sự kiện “giả vương nhập cận” nhằm hạ thấp uy danh của Quang Trung cũng như triều đình Tây Sơn trong bang giao với triều Thanh.
Tuy nhiên, nhà nghiên cứu Trần Viết Điền cho rằng vua Quang Trung không thể qua nước Thanh để tiếp kiến Càn Long năm Canh Tuất (1790) vì phải ở kinh đô Phú Xuân để lo đối phó “thù trong giặc ngoài” cả hai phía bắc - nam. Trong đó, phía bắc “thù trong” là cựu thần nhà Lê, “giặc ngoài” là vua quan nhà Thanh còn “hậm hực” trận đại bại mùa xuân Kỷ Dậu (1789). Việc này cũng phù hợp với mô tả trong các ghi chép của các nhà truyền giáo phương Tây có mặt ở VN giai đoạn đó.
Đặng Phương Nghi trong bài Triều đại Tây Sơn dưới mắt các nhà truyền giáo Tây phương, đăng ở Tập san Sử Địa, số 13, 1.3.1969, có dịch giới thiệu thư của ông Le Roy gửi ông Letondal, trong đó có đoạn: “Theo như ông nói, thì chúng tôi không hay biết gì về cựu vương Nam Hà ở Đồng Nai. Tiếm vương (chỉ Nguyễn Huệ) đã toàn thắng chúng tôi và để một người con khoảng 10, 11 tuổi cai trị chúng tôi. Bắc Hà đã thái bình nhưng người ta sợ sự yên ổn này không kéo dài. Quân Trung Hoa bị bại trận năm ngoái có thể sẽ trở lại tấn công nay mai. Các giáo sĩ của ta ở Nam Hà nói rằng họ đã mất mùa này và nạn đói kém đang phá hoại xứ họ. Có người đề nghị với tiếm vương Quang Trung nên ngược đãi giáo đồ Gia Tô nhưng khi đình nghị, các quan đại thần tâu với ông rằng dân Công giáo rất đông, có nhiều trong các binh đội, nộp thuế đầy đủ và không hại ai cả” (tr.169).
Dẫn liệu này chứng tỏ năm 1790, xứ sở vua Quang Trung đang mất mùa, lại xảy ra vấn đề Công giáo ở Gia Định, Đồng Nai đang ủng hộ tích cực Nguyễn vương Phúc Ánh khiến một số triều thần tấu vua cấm đạo nên vua Quang Trung đã đình nghị ở triều đình Phú Xuân. Đây là bằng chứng vua Quang Trung thật đang ở kinh đô Phú Xuân vào tháng 5 Canh Tuất (1790).
Tập san Sử Địa, số 21, 1.3.1971, tác giả Phù Lang Trương Bá Phát trong bài Cuộc khởi dậy và chiến tranh của Tây Sơn có trích dẫn ghi chép của cha Ginestar viết rằng: “Tây Sơn không ngờ nhà vua (tức chỉ Nguyễn Ánh) tới Bình Định hồi bấy giờ... Nhà vua về Đồng Nai lấy tư cách người chiến thắng, với thâu thập được tin mừng rằng hai anh em Tây Sơn đánh nhau vào 1790 đến 1792, mối bất hòa ấy tồn tại luôn luôn giữa hai anh em...” (tr.90). Dẫn liệu này cho thấy giữa Phú Xuân và Quy Nhơn lục đục dai dẳng, vua Quang Trung phải “hổ phục” ở Phú Xuân trong những năm cuối đời (trong đó có năm 1790) để lo đối phó những thế lực phía nam.
Những lần đóng giả
Theo đó, tháng 3 năm Kỷ Dậu (1789), sau khi đại thắng quân Thanh, Ngô Thì Nhậm tổ chức một sứ bộ làm nhiệm vụ sang Yên Kinh trao trả 800 tù binh và cầu phong. Hoàng đế Càn Long chấp nhận, nhưng lại mời đích thân vua Quang Trung sang triều kiến nhân lễ mừng thọ bát tuần của mình. Đến tháng 7, vua Càn Long ra chỉ dụ và tháng 11 cử sứ bộ mang chiếu sang Thăng Long phong cho Nguyễn Huệ vị hiệu là An Nam quốc vương. Lúc này, Ngô Thì Nhậm đã tùy nghi chọn người giả làm vua Quang Trung để tiếp chiếu.
Đến đầu năm Canh Tuất (1790), vua Quang Trung sai Ngô Thì Nhậm tổ chức sứ đoàn sang Trung Quốc mừng thọ vua Càn Long gồm hơn 150 nhân vật, ngoài giả vương còn có Nguyễn Quang Thùy, Ngô Văn Sở, Phan Huy Ích, Vũ Huy Tấn, Đoàn Nguyễn Tuấn, Nguyễn Duật... Giả vương lần này, sách Hoàng Lê nhất thống chí (hồi 15) cho rằng đó là Nguyễn Quang Trực, một võ tướng người làng Mạc Điền, huyện Nam Đường (tức Nam Đàn), trấn Nghệ An. Trong khi đó, sách Đại Nam chính biên liệt truyện sơ tập quyển 30 của Quốc sử quán triều Nguyễn lại cho biết nhân vật đóng giả vua là cháu bên vợ của vua Quang Trung, tức Phạm Công Trị.
Theo thông tin từ Vân Dương kinh phổ, người tiếp kiến Cao Tông hoàng đế nhà Thanh (tức vua Càn Long) là Nguyễn Cửu Trị.
Bùi Ngọc Long

Tiếp chiếu phong vương ở Thăng Long

Bản dập nội dung 2 tấm văn bia cổ được phát hiện ở Cồn Nẫy, lưu tại Bảo tàng Văn hóa HuếẢNH: B.N.L
Năm 2012, Báo Thanh Niên trong loạt bài Theo dấu tích vương triều Tây Sơn đã đề cập thông tin phát hiện tông tích một vị giả vương của vua Quang Trung, có tước Trị an hầu, tên là Phạm Công Trị.
Theo ông Lê Nguyễn Lưu (nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa Huế), tháng 1.1988 khi ông Hoàng Công Đà (ở thôn Phò Ninh, xã Phong An, H.Phong Điền, Thừa Thiên-Huế) qua đời, dân làng đào huyệt mộ cho ông ở xứ Cồn Nẫy phát hiện 2 tấm đá Thanh hình chữ nhật ghép khít vào nhau. Anh Trần Chơn, một người dân gỡ xem thấy đó là 2 tấm bia khắc chữ Hán, đem về nhà dùng kê đồ.
Năm 1992, anh Đỗ Văn Tri, cộng tác viên Nhà bảo tàng Huế ra thăm quê, có ghé nhà anh Chơn lấy bản dập đem về. Sau đó, Nhà bảo tàng Huế tổ chức chuyến điền dã tiếp cận 2 tấm bia đá cổ. Nhà nghiên cứu Lê Nguyễn Lưu "giải mã" đó là bia mộ bà Hoàng Thị Nghĩa, vợ chính của ông Phạm Công Hưng - em ruột bà Phạm Thị Liên, Chính cung hoàng hậu của vua Quang Trung - làm chức Thái úy hàm đặc tiến Phụ quốc thượng tướng quân tước Quận công, được tặng chức Thái sư hàm đặc tiến Dực vận công thần thượng trụ quốc tước Quốc công. Bà Hoàng Thị Nghĩa có cha là ông Hoàng Văn Vũ, mẹ là Nguyễn Thị Chí ở thôn An Khang, huyện Tuy Viễn, phủ Quy Nhơn. Bà Nghĩa sinh được con trai là Đại đô đốc Phạm Công Trị.
Phạm công trị tiếp chiếu
Việc đoàn ngự đạo với giả vương Phạm Công Trị từ kinh đô Phú Xuân ra Thăng Long tiếp chiếu phong An Nam quốc vương vào tháng 11 năm Kỷ Dậu (1789) thì nhiều người biết, trong đó có tình báo của Nguyễn vương Phúc Ánh đang ở Phú Xuân và tai mắt của cựu thần nhà Lê ở Thăng Long. Chưa kể các võ tướng cao cấp của Tây Sơn về hàng Nguyễn vương Phúc Ánh là những nhân chứng sống.
Vì thế, các sử quan của Quốc sử quán triều Nguyễn sau này viết trong Đại Nam chính biên liệt truyện về chuyện “giả vương” Phạm Công Trị ra Thăng Long tiếp chiếu là khả tín.
Bồi thần giúp “giả vương” dâng biểu tạ ơn và hứa sẽ “nhập cận” vào đầu năm sau. Giả vương tiếp chiếu ở Thăng Long, không diện kiến Càn Long cùng các thân vương đại thần triều Thanh nên triều Tây Sơn chỉ cần chọn người hao hao dáng vóc vua Quang Trung là được. Vả lại, chọn người thân ruột cũng không lo tình huống xấu như bị giữ lại làm con tin. Vì thế Phạm Công Trị dễ dàng được chọn để đảm trách việc trên.
Giả thuyết "2 trong 1"
Theo nhà nghiên cứu Trần Viết Điền, dòng họ Nguyễn Cửu là thân tộc với họ Nguyễn Phúc ở Đàng Trong, nhiều người là đại công thần của triều chúa Nguyễn. Vì thế, sau này khi quân Lê - Trịnh chiếm Phú Xuân, nhà Tây Sơn đánh giết con cháu họ Nguyễn và con cháu các đại công thần... nên gia đình Nguyễn Cửu ly tán, người theo chúa Nguyễn xuôi nam, lớp tử trận, lớp mai danh ẩn tích. Có khả năng Nội đội trưởng Trị an hầu Nguyễn Cửu Trị (đã mai danh ẩn tích) khoảng năm 1774 từ dinh Quảng Bình chạy ra Nghệ An, trốn ở làng Mặc Điền, Nam Đàn, Nghệ An dưới vỏ bọc là một nông dân có tên Nguyễn Quang Trực.
Khi vua Quang Trung kéo quân ra bắc đánh quân Thanh, có thể Nguyễn Quang Trực (tức Nguyễn Cửu Trị) “vì nước quên thù nhà” đã tòng quân. Vì ông có dung mạo tốt và tài cầm quân nên sớm trở thành võ quan Tây Sơn dưới trướng Đại tư mã Ngô Văn Sở, dễ “lọt mắt xanh” của Ngô Thì Nhậm khi đang tìm người “giả vương nhập cận”.
Tác giả Hoàng Lê nhất thống chí là Ngô Thì Chí (1753 - 1788) viết chính biên và Ngô Thì Du (1772 - 1840) viết tục biên. Nhiều dữ kiện để viết sách do các vị trong họ Ngô cung cấp, trong đó có Ngô Thì Nhậm, người từng tổ chức sứ bộ có giả vương Quang Trung nhập Thanh năm 1790. Chú ruột của Ngô Thì Nhậm là Ngô Thì Đạo, bố Ngô Thì Du sống ở Nghệ An, người viết hồi 15 (có sự kiện giả vương) nên dữ liệu do Hoàng Lê nhất thống chí cung cấp có độ tin cậy nhất định, khó bỏ qua. Ngô Thì Du năm 19 tuổi thường trú Nghệ An có biết việc Ngô Thì Nhậm chọn võ quan Nguyễn Quang Trực làm “giả vương”.
Sau khi về nước, tất nhiên triều Tây Sơn phải bố trí Nguyễn Quang Trực (giả thuyết Nguyễn Cửu Trị và Nguyễn Quang Trực là một) ở Thăng Long để tiện bề “quản lý” nhằm giữ bí mật.
Bùi Ngọc Long

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét