Chuyển đến nội dung chính

Nhà thơ Nguyễn Thông và tấm lòng với cố hương

Trong chuyến công tác ở Bình Thuận mới đây, chúng tôi có dịp tìm hiểu về nơi sinh sống, yên nghỉ cũng như thân thế và tâm tình của nhà thơ yêu nước Nguyễn Thông. Giữa cơn ly loạn của đất nước, nhà thơ Nguyễn Thông vẫn giữ đức tính thanh cao của một vị quan vì dân, vì nước. Càng xúc động hơn khi biết ông- một người con quê hương miền Tây xa xứ- dù đi đến chốn nào cũng trông vọng cố hương.
"Tỵ địa" xứ Bình Thuận
Hôm chúng tôi đến thăm Di tích Trường Dục Thanh (TP Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận)- nơi Bác Hồ từng dạy học trước khi ra đi tìm đường cứu nước- các nhân viên nơi đây đang tất bật làm cơm để cúng cụ Nguyễn Thông. Hỏi ra mới biết hôm đó (tức mùng 7 tháng 7 âm lịch) là ngày giỗ của cụ. Bàn thờ cụ trong Di tích Trường Dục Thanh nghi ngút khói hương, ai cũng muốn thắp nén nhang tưởng nhớ đến một hồn thơ khí phách, một vị quan thanh liêm.
Theo tài liệu chúng tôi tìm hiểu được, nhà thơ Nguyễn Thông (còn có tên khác là Nguyễn Thới Thông, tự Hy Phần, và nhiều biệt hiệu: Kỳ Xuyên, Độm Am, Đạm Trai) sinh năm 1827 tại phủ Tân An, tỉnh Gia Định, nay là xã Phú Ngãi Trị, huyện Châu Thành, tỉnh Long An. Cụ Nguyễn Thông đỗ cử nhân năm 1849, cùng khoa thi với Cử nhân Phan Văn Trị. Cụ từng làm quan, giữ nhiều chức vụ như: Án sát Khánh Hòa, Bố Chánh Quảng Ngãi, Bố Chánh Bình Thuận… nên người dân Bình Thuận còn gọi cụ là Ông Bố. Cơ duyên đưa cụ đến vùng đất Bình Thuận là khi 3 tỉnh miền Tây Nam kỳ rơi vào tay Pháp (1867), cụ tìm đến đây để lánh nạn theo phong trào "tỵ địa" của các chí sĩ thời bấy giờ. Cuộc đời làm quan của cụ trải qua nhiều sóng gió, truân chuyên bởi đức tính thẳng ngay, không dối trá nên nhiều kẻ xu nịnh, vu cáo, hãm hại. Cụ mất vào năm 1884, thọ 57 tuổi, được an táng tại phường Phú Hài, TP Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận ngày nay.
Về sự nghiệp nghiên cứu, cụ Nguyễn Thông để lại những bộ sử liệu quan trọng là "Khâm định Nhân sự kim giám" (soạn chung, với tư cách là Hàn lâm Viện Tu soạn), "Khâm định Việt sử thông giám cương mục" (phúc kiểm, với tư cách là Tư nghiệp Quốc Tử giám) và tự viết "Việt sử thông giám cương mục khảo lược". Về sáng tác thơ văn, đến nay, giới nghiên cứu đã sưu tầm được 76 bài thơ, 25 bản văn, 6 bản sớ điều trần của cụ nằm trong các tập: "Độm Am thi văn tập", "Kỳ Xuyên thi văn sao", "Kỳ Xuyên công độc", "Dưỡng chính lục"…
 Du khách thắp nhang trước bàn thờ cụ Nguyễn Thông trong Di tích Trường Dục Thanh.
Lại nói về Di tích Trường Dục Thanh, nơi Bác Hồ từng dạy học, nguyên trước đó chính là nơi ở của gia đình cụ Nguyễn Thông. Ngoài từ đường, giếng cổ và cây khế cổ tương truyền do cụ bà Nguyễn Thông trồng, hiện nay Di tích Trường Dục Thanh còn bảo quản ngôi Ngọa Du Sào (tức tổ nằm chơi). Đó là ngôi nhà gỗ gọn gàng, tinh tươm, có gác gỗ. Hằng ngày, cụ Nguyễn Thông thường lên gác xép nhỏ ấy và bắc ghế ngồi ở lan can de ra phía trước gọi là Hiên Ỷ Nguyệt để ngắm cảnh và đọc sách. Hiện, Ngọa Du Sào vẫn còn giữ được thang gỗ và bộ ván khá lâu đời. Năm 1907, hưởng ứng phong trào Duy Tân, hai người con của cụ Nguyễn Thông là Nguyễn Trọng Lợi và Nguyễn Quý Anh đã mở Dục Thanh Học Hiệu (tức Trường Dục Thanh- giáo dục thanh niên) để dạy cho con em người yêu nước và lao động nghèo những nội dung, tư tưởng tiến bộ. Năm 1910, được sự giới thiệu của Cụ Nghè Trương Gia Mô, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã vào dạy ở Trường Dục Thanh. Ngọa Du Sào cũng chính là nơi Bác Hồ nghỉ ngơi sau này trong quá trình dạy học tại đây.
Nỗi nhớ miền Tây
Trong quá trình tìm hiểu về cụ Nguyễn Thông, điều làm chúng tôi xúc động là tấm lòng hoài vọng miền Tây sông nước- nơi chôn nhau cắt rốn của cụ- bất kể cụ làm gì, ở đâu.
Việc chọn nơi cất nhà, dựng Ngọa Du Sào của cụ Nguyễn Thông cũng rất có ý. Bởi, trước nhà là con rạch, có tàu bè, cảnh vật giống hệt quê hương Tân An xưa nên cụ muốn chọn nơi này để tìm hình ảnh cố hương. Cụ viết trong "Ngọa Du Sào văn tập" rằng: "Từ sông Phan Thiết có con rạch nhỏ chảy vào nhà, đi lại bằng xuồng rất tiện. Trên bãi đất nhỏ phía trước mọc lên một cây dừa nước thân to mấy người ôm. Buổi sáng nào cũng có chim quốc đến đậu cành cây, kêu rất não nùng. Đến buổi nước ròng, dọc hai bờ sông nổi lên bãi cồn mọc đầy bần đước".
Nghi vấn về người tìm ra Đà Lạt
Lâu nay, một bộ phận giới nghiên cứu cho rằng, bác sĩ Yersin là người tìm ra Đà Lạt đầu tiên. Tuy nhiên cũng có nhiều nhà nghiên cứu uy tín, mà đi đầu là học giả Ngạc Xuyên- Ca Văn Thỉnh, khẳng định nhà thơ Nguyễn Thông mới là người tìm ra Đà Lạt, cao nguyên La Ngư, Bà Dần (Lâm Đồng). Bằng chứng mà các học giả đưa ra khá thuyết phục bởi tài liệu của Pháp thuật lại, Yersin tìm đến Đà Lạt bằng bản đồ của người Việt và khi đến đó thì đã có người Việt sinh sống, có tổ chức hẳn hoi. Trong khi trước đó, trong những trước tác của mình, nhà thơ Nguyễn Thông đã có miêu tả cảnh vật, địa hình, khí hậu của Đà Lạt xưa.
Chúng tôi đã khảo sát những tác phẩm thơ của cụ Nguyễn Thông và thật bất ngờ khi biết rằng, bên cạnh những áng văn thơ thể hiện lòng yêu nước thì phần nhiều cụ dành viết về nỗi nhớ cố hương. Tương truyền, cụ có người em tên Hài, chết chôn ở Vĩnh Bình, Vĩnh Long. Sau khi thành Vĩnh Long thất thủ (1867), cụ lên đường ra Bình Thuận nhưng trước khi đi cụ viếng mộ em và làm bài thơ "Biệt vong đệ lữ phần" (tức "Từ biệt mộ người em chôn nơi đất khách") với hai câu cuối đầy bịn rịn:
"Mân giang di trạo xứHàn vũ dạ phi phi"
Nhà thơ Bảo Định Giang dịch thơ:
"Sông Mân rời khỏi bến xưaChèo thuyền đi giữa đêm khuya lạnh lùng"
Ngày giã biệt quê hương Tân An đi Bình Thuận, cụ sáng tác bài "Thuật cảm" bày tỏ sự quyến luyến gia đình, quê hương với những cảnh tượng bùi ngùi như lạy biệt bàn thờ tổ tiên, láng giềng đến đưa tiễn… Ngay cả khi cụ đã đến Hàm Thuận- Bình Thuận, cụ vẫn chồn lòng chột dạ mà tính đường quay về cố hương. Cụ viết trong bài "Hàm Thuận cảm hoài", nhà thơ Bảo Định Giang dịch thơ như sau:
"Miền Nam đã tính đường về
Ngặt vì khó mượn được bè lên sao!"
Ở nơi đất khách, cụ Nguyễn Thông rất nhạy cảm trước nỗi nhớ nhà. Một tiếng chim kêu, một dòng nước trôi cũng làm nỗi nhớ ấy quắt quay. Trong bài "Thôn cư dạ văn điểu thanh thậm ai" (tức "Đêm ở quê thấy buồn khi nghe tiếng chim"), giọng thơ thắt nghẹn:
"Tổ mày xưa ở nơi nao
Nhớ thương lòng những dạt dào hôm nay?"
Theo tài liệu thuật lại của cụ Ngạc Xuyên- Ca Văn Thỉnh và nhà thơ Bảo Định Giang, nói về bài thơ thất ngôn tứ tuyệt "Phóng giá cô" (tức "Thả chim đa đa", 2 bài liên hoàn), cụ Nguyễn Thông kể rằng lúc làm quan ở Quảng Ngãi, có người nông dân đem tặng cụ mấy con chim đa đa. Đa đa trong sách xưa gọi là "Hoài nam"- hiểu nghĩa khác là nhớ phương nam. Đã 15 năm ly hương, tên gọi hoài nam làm cụ nhớ quê da diết, vậy là cụ phóng sinh mấy con chim và làm bài thơ này. Từ những câu chuyện này cho thấy, miền Tây cố hương chẳng lúc nào phai mờ trong nỗi nhớ của cụ Nguyễn Thông, dù cho có lúc cụ làm Bố Chánh một tỉnh.
Một số di vật của cụ Nguyễn Thông được trưng bày trong Di tích Trường Dục Thanh.
Nhà thơ Nguyễn Thông trong lúc làm quan còn được biết đến như nhà thám hiểm, phát hiện và khai phá nhiều vùng đất mới mà điển hình là vùng phía Tây và Nam Bình Thuận ngày nay. Giai đoạn năm 1877, người dân miền Nam ra Bình Thuận khá đông để "tỵ địa", di cư đến vùng núi của Bình Thuận để khai hoang lập nghiệp. Tuy nhiên, mâu thuẫn của cư dân mới với những cư dân cố cựu xảy ra và nhất là xung đột giữa cư dân mới với những chính sách hà khắc của quan địa phương. Là người dân gốc Nam bộ, lại có uy tín và chuẩn mực nên cụ Nguyễn Thông đã dàn xếp êm xuôi. Năm 1880, cụ thành lập "Đồng Châu xã" (tức hội đồng hương) để người dân miền Nam lập nghiệp xứ Bình Thuận tập hợp giúp đỡ lẫn nhau và khơi gợi tình đồng hương, gắn bó. Đồng Châu xã cũng là cách để cụ Nguyễn Thông thỏa nỗi nhớ cố hương, muốn giúp đỡ những người xa quê như mình.
Bài, ảnh: ĐĂNG HUỲNH
Tài liệu tham khảo:
- "Thơ văn yêu nước Nam bộ, nửa sau thế kỷ XIX", Bảo Định Giang (biên soạn), Ca Văn Thỉnh (giới thiệu), NXB Văn học giải phóng, 1976;
- "Địa chí Long An", Thạch Phương- Lưu Quang Tuyến (chủ biên), NXB Long An và NXB Khoa học Xã hội, 1989;
- "Những danh sĩ miền Nam", Hồ Sĩ Hiệp- Hoài Anh, NXB Tổng hợp Tiền Giang, 1990.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA ĐẸP VÀ SÀNH ĐIỆU NHƯ THẾ NÀO?

Váy suông, bó sát, váy xòe… du nhập vào các đô thị miền Nam những năm 60, 70 và nhanh chóng được phụ nữ đón nhận. Nhiều người đến Sài Gòn lúc ấy đều ngạc nhiên về nét đẹp hiện đại và ăn mặc hợp mốt của những quý cô thành thị. Thời trang của phụ nữ Sài Gòn xưa Phụ nữ Sài Gòn – Đi về phía trước
Đôi mắt to sáng lấp lánh, khuôn miệng nhỏ xinh lanh lợi và đôi má bầu bĩnh là nét đẹp
đặc trưng của thiếu nữ Sài Gòn xưa. Đội thêm một chiếc mũ bê rê được ưa chuộng
thời điểm này làm tăng nét cá tính cho cô gái trẻ. Phong cách của người phụ nữ xinh đẹp trong bộ váy xòe chấm bi bồng bềnh, thắt
eo gọn cùng kiểu tóc sang trọng vẫn không hề lỗi mốt cho đến bây giờ. Nữ sinh lớp Đệ Tam (tương đương lớp 10) trường Quốc Gia Nghĩa Tử, Sài Gòn năm 1968. Áo dài nữ sinh trên đường Lê Lợi, đoạn trước Công ty xe hơi Kim Long
(bên cạnh thương xá Tax) năm 1965. Phụ nữ Sài Gòn năm 1963. Thời đó, vào mỗi chiều cuối tuần,
phụ nữ Sài Gòn thường đi dạo, bát phố trên đường Lê Lợi, Tự Do. Ảnh chụp vào tháng 12 năm 1967.

CHÂN DUNG CÁC MỸ NHÂN SÀI GÒN TRÊN BÌA TẠP CHÍ VIỆT NAM TRƯỚC 1975

Cùng nhìn lại ảnh của các “hotgirl” Sài Gòn để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng những năm tháng cũ ấy. Tạp chí “Vietnam” là ấn phẩm quốc tế được phát hành ở Sài Gòn trước năm 1975 và có rất nhiều trang bìa chụp các người đẹp nổi danh khi ấy của đất phương Nam. Có thể kể đến những cái tên như ca sĩ nổi tiếng Phạm Thị Hiếu, hotgirl Sài Gòn Nguyễn Thi Kim Anh hay nữ nghệ sĩ Bạch Lan Thanh đều góp mặt ở đây. Hãy cùng nhìn lại các mỹ nhân thời xưa để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng của những năm tháng cũ ấy. Túy Phượng Nguyễn Thị Túy Phượng – người nhận được giải thưởngtrang phục đẹp nhất tại Liên hoan nhạc Pop tổ chức tại Sài Gòn ngày 30/1/1972. Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu, cùng tuổi với các nữ tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui và nữ nghệ sĩ Bích Sơn. Ở tuổi 14, 15 Túy Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai diễn nhí nhảnh, hồn nhiên. Đến tuổi 16, 17, khi nghề nghiệp đã định hình, diễn xuất có chiều sâu, Phượng thu hút người xem tr…

Vị bánh cuốn gốc Bắc hơn nửa thế kỷ ở Sài Gòn

Dĩa bánh nóng hổi, thơm phức được tráng theo công thức truyền thống của một gia đình gốc Bắc di cư vào Sài thành từ những năm 50.

Bánh cuốn là món ăn có tiếng ở miền Bắc, đặc biệt là đất Hà thành. Từ thôn quê, thứ bánh dân dã len lỏi vào giữa phố xá, trở thành món "ruột" của người thành thị. Không rõ món ăn này du nhập vào Sài Gòn chính xác từ khi nào, tôi chỉ biết trong một con hẻm nhỏ có quán bánh cuốn do một gia đình gốc Bắc lập ra, từ khi vào Sài Gòn ngót nghét hơn 63 năm trước. Quán bánh tên Song Mộc, mở cửa chính xác vào năm 1954. Những túp lều xanh cạnh bên những tán cây tại quán Song Mộc. Ảnh: Phong Vinh. Bánh cuốn ở quán luôn nóng hổi vì người đứng bếp chỉ tráng bánh khi có khách. Lớp bánh được tráng chín tới, có độ mỏng vừa phải, mềm dai nhưng không dễ rách. Nhân bên trong không mướt như thường thấy mà hơi khô, được nêm nếm theo công thức gia truyền nên có vị khác lạ. Sau khi bánh cuốn nhân xong thì được xếp gọn ghẽ trên dĩa, rắc thêm một nhúm hành phi giòn, vàng …