Chuyển đến nội dung chính

Thiêng liêng Đình Phong Phú

Ngôi đình ẩn mình trong những hàng cây sao, cây dầu xanh rì trên khu đất 4,2ha, tại khu phố 3, phường Tăng Nhơn Phú B, quận 9, thành phố Hồ Chí Minh. Đình thu hút người dân địa phương và các tỉnh lân cận đến tưởng nhớ các bậc tiền nhân mở cõi. Ngoài những giá trị kiến trúc và tâm linh, đình còn là di tích lịch sử cách mạng.
Chứng tích lịch sử
Theo sách "Đình Việt Nam", NXB Khoa học Xã hội, của Giáo sư Hà Văn Tấn và nhiếp ảnh gia Nguyễn Văn Kự, đình được người dân làng Phong Phú xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ XIX, thờ Thành Hoàng. Các họa tiết trang trí tại đình như long, lân, quy, phụng, bát tiên, cá hóa long... đều mang phong cách mỹ thuật Nam bộ. Điểm đặc biệt của ngôi đình này so với những ngôi đình khác là thờ tượng không thờ vị (thờ tượng tròn). Thoạt đầu, đình lợp lá, vách ván, mái thấp. Đến năm 1937, đình được tu tạo với mái ngói âm dương, tường gạch. Năm 1948, đình bị phá bởi chiến tranh. Vào năm 1952, đình được tái lập lần thứ nhất trên nền đất cũ. Năm 1969, đình tái lập lần thứ hai. Sau giải phóng năm 1975, đình được tu sửa hoàn chỉnh và giữ nguyên cho đến ngày hôm nay.
Chánh điện đình Phong Phú.
Khi biết chúng tôi muốn thu thập tài liệu về ngôi đình Phong Phú, bác Phạm Hải Nam (ủy viên Hội đình Phong Phú), cũng là người thường xuyên giữ đình, nhiệt tình dẫn chúng tôi đi tham quan xung quanh ngôi đình và kể nhiều câu chuyện về những người trông đình thời kháng chiến chống Pháp và Mỹ. Họ vừa ra sức giữ đình, vừa canh gác cho bộ đội tập trận phía sau đình. Để nuôi giấu cán bộ, nhóm Hội đình đào hầm bí mật trong khuôn viên đình vào những đêm tối. Hầm bí mật được hoàn thành năm 1959, trong khuôn viên (được ngụy trang thành miệng cống nhà tắm), dài khoảng 7m, dẫn ra vườn cao su phía sau đình. Lương thực, thực phẩm, thuốc men… tiếp tế cho bộ đội là tấm lòng của người dân vùng Thủ Đức đến viếng đình. Bà con nơi đây hào sảng, có gì mang tặng nấy, với mong muốn bộ đội có sức khỏe chiến đấu. Năm 1960 toàn bộ Hội đình bị bắt vì bị tình nghi có tiếp tế và quan hệ với cách mạng. Ở trong tù, mặc dù bị tra khảo, các cụ vẫn cương quyết không khai. Khi ra tù, Hội đình vẫn hướng về cách mạng, tiếp tục làm công tác hậu phương vững chắc. Dù nhiều lần địch theo dõi, đe dọa nhưng ý chí mọi người vẫn kiên định.
Ngày 20-10-1976, xã Tăng Nhơn Phú (nay là phường Tăng Nhơn Phú) được công nhận là xã anh hùng, trong đó có sự đóng góp to lớn của Hội đình Phong Phú. Càng vinh hạnh hơn khi đình được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (trước đây là Bộ Văn hóa Thông tin) công nhận là di tích lịch sử quốc gia vào ngày 18-1-1993. Và để ghi nhớ công lao của các chiến sĩ trong sự nghiệp giải phóng dân tộc thời kháng chiến chống Pháp và Mỹ, Hội đình tổ chức xây dựng khu tưởng niệm liệt sĩ. Có đến 179 chiến sĩ đến từ mọi miền đất nước đã ngã xuống mảnh đất này. Trong đó phải kể đến Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân Nguyễn Văn Bá (sinh năm 1923, tại Tăng Nhơn Phú), Ủy viên Thường vụ Huyện ủy, Huyện đội trưởng Thủ Đức- đã hy sinh ngày 8-11-1968.
Kiến trúc độc đáo
Trải qua hai cuộc kháng chiến vệ quốc, nhiều lần bị tổn thương vì bom đạn, đình Phong Phú vẫn an nhiên cùng thời gian. Kiến trúc của ngôi đình được bố trí cân đối, hài hòa với không gian ngoại cảnh. Đình Phong Phú có hai lớp cổng. Lớp thứ nhất có hai cửa tả- hữu, ở giữa tạc bia Ông Hổ. Lớp cổng thứ hai xây theo kiểu tam quan, chính giữa là tượng Bạch Mã. Sau tam quan là bàn thờ Thần Nông và hòn non bộ. Hai bên hòn non bộ có miếu Ngũ Hành Nương Nương và tượng Ông Hổ. Võ ca được đặt chính giữa đối diện với chính điện. Theo trục dọc công trình, chính giữa có tiền điện, chánh điện, nhà túc, nhà bếp. Hai bên chính điện là nhà truyền thống và nhà rửa rau quả. Trên nóc mặt tiền có trang trí lưỡng long tranh châu cẩn mảnh sành nhiều màu.
Bên trong đình, tất cả các bức hoành phi, câu đối đều được sơn son thiếp vàng rực rỡ. Điểm đặc biệt của ngôi đình là bàn thờ lộ thiên được đặt phía trước miếu Ngũ Hành Nương Nương. Thời kháng chiến, nơi đây dùng thắp nhang làm ám hiệu khi có quân địch xuất hiện. Vào ngày mùng Một, Rằm và lễ Kỳ Yên, người đến viếng đình rất đông, nhiều nhóm học sinh đến tìm hiểu giá trị lịch sử và kiến trúc của đình. Lễ Kỳ Yên, còn là lễ cầu an, tế Thành Hoàng lớn nhất trong năm của những ngôi đình thần ở Nam bộ. Đây cũng là lễ chính của đình Phong Phú, diễn ra vào ngày 14 đến 16 tháng 11 Âm lịch thường niên. Nếp sinh hoạt văn hóa này có từ rất lâu và hằng năm, cứ đến dịp lễ, hàng nghìn người dân địa phương nô nức đến đình. Mọi người thắp nén hương thành kính cầu an và tưởng nhớ đến những chiến sĩ cách mạng từng trú ngụ nơi này. Du khách tận ĐBSCL, Đông Nam bộ, miền Trung, thậm chí là miền Bắc cũng đến viếng đình. Lễ vật chính cúng đình là heo làm thịt để nguyên con. Ngoài ra, mỗi hộ dân nơi đây mang đến nhiều vật phẩm như xôi, gà luộc, heo quay, trái cây, chè, cháo… cúng đình.
Rất nhiều người dân gắn bó với ngôi đình như mạch sống, như kỷ niệm thiêng liêng. Nhiều thế hệ nhân dân ở đây ra sức gìn giữ ngôi đình và những tinh hoa văn hóa. Năm 1997, Thủ tướng Võ Văn Kiệt từng đến viếng đình, thắp nén hương tri ân những chiến sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc.

Bài, ảnh: ĐẶNG TRUNG THÀNH

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA ĐẸP VÀ SÀNH ĐIỆU NHƯ THẾ NÀO?

Váy suông, bó sát, váy xòe… du nhập vào các đô thị miền Nam những năm 60, 70 và nhanh chóng được phụ nữ đón nhận. Nhiều người đến Sài Gòn lúc ấy đều ngạc nhiên về nét đẹp hiện đại và ăn mặc hợp mốt của những quý cô thành thị. Thời trang của phụ nữ Sài Gòn xưa Phụ nữ Sài Gòn – Đi về phía trước
Đôi mắt to sáng lấp lánh, khuôn miệng nhỏ xinh lanh lợi và đôi má bầu bĩnh là nét đẹp
đặc trưng của thiếu nữ Sài Gòn xưa. Đội thêm một chiếc mũ bê rê được ưa chuộng
thời điểm này làm tăng nét cá tính cho cô gái trẻ. Phong cách của người phụ nữ xinh đẹp trong bộ váy xòe chấm bi bồng bềnh, thắt
eo gọn cùng kiểu tóc sang trọng vẫn không hề lỗi mốt cho đến bây giờ. Nữ sinh lớp Đệ Tam (tương đương lớp 10) trường Quốc Gia Nghĩa Tử, Sài Gòn năm 1968. Áo dài nữ sinh trên đường Lê Lợi, đoạn trước Công ty xe hơi Kim Long
(bên cạnh thương xá Tax) năm 1965. Phụ nữ Sài Gòn năm 1963. Thời đó, vào mỗi chiều cuối tuần,
phụ nữ Sài Gòn thường đi dạo, bát phố trên đường Lê Lợi, Tự Do. Ảnh chụp vào tháng 12 năm 1967.

CHÂN DUNG CÁC MỸ NHÂN SÀI GÒN TRÊN BÌA TẠP CHÍ VIỆT NAM TRƯỚC 1975

Cùng nhìn lại ảnh của các “hotgirl” Sài Gòn để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng những năm tháng cũ ấy. Tạp chí “Vietnam” là ấn phẩm quốc tế được phát hành ở Sài Gòn trước năm 1975 và có rất nhiều trang bìa chụp các người đẹp nổi danh khi ấy của đất phương Nam. Có thể kể đến những cái tên như ca sĩ nổi tiếng Phạm Thị Hiếu, hotgirl Sài Gòn Nguyễn Thi Kim Anh hay nữ nghệ sĩ Bạch Lan Thanh đều góp mặt ở đây. Hãy cùng nhìn lại các mỹ nhân thời xưa để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng của những năm tháng cũ ấy. Túy Phượng Nguyễn Thị Túy Phượng – người nhận được giải thưởngtrang phục đẹp nhất tại Liên hoan nhạc Pop tổ chức tại Sài Gòn ngày 30/1/1972. Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu, cùng tuổi với các nữ tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui và nữ nghệ sĩ Bích Sơn. Ở tuổi 14, 15 Túy Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai diễn nhí nhảnh, hồn nhiên. Đến tuổi 16, 17, khi nghề nghiệp đã định hình, diễn xuất có chiều sâu, Phượng thu hút người xem tr…

Vị bánh cuốn gốc Bắc hơn nửa thế kỷ ở Sài Gòn

Dĩa bánh nóng hổi, thơm phức được tráng theo công thức truyền thống của một gia đình gốc Bắc di cư vào Sài thành từ những năm 50.

Bánh cuốn là món ăn có tiếng ở miền Bắc, đặc biệt là đất Hà thành. Từ thôn quê, thứ bánh dân dã len lỏi vào giữa phố xá, trở thành món "ruột" của người thành thị. Không rõ món ăn này du nhập vào Sài Gòn chính xác từ khi nào, tôi chỉ biết trong một con hẻm nhỏ có quán bánh cuốn do một gia đình gốc Bắc lập ra, từ khi vào Sài Gòn ngót nghét hơn 63 năm trước. Quán bánh tên Song Mộc, mở cửa chính xác vào năm 1954. Những túp lều xanh cạnh bên những tán cây tại quán Song Mộc. Ảnh: Phong Vinh. Bánh cuốn ở quán luôn nóng hổi vì người đứng bếp chỉ tráng bánh khi có khách. Lớp bánh được tráng chín tới, có độ mỏng vừa phải, mềm dai nhưng không dễ rách. Nhân bên trong không mướt như thường thấy mà hơi khô, được nêm nếm theo công thức gia truyền nên có vị khác lạ. Sau khi bánh cuốn nhân xong thì được xếp gọn ghẽ trên dĩa, rắc thêm một nhúm hành phi giòn, vàng …