Tập tục truyền thống của các dân tộc ít người ở Tây Nguyên hiện vẫn tồn tại nhiều hình thức kỳ lạ và bí ẩn như rừng núi ngàn đời nơi đây. Tục táng hay phép ứng xử với người chết là một trong những điều kỳ bí đó.
Phải nhờ các chiến sĩ Đồn Biên phòng 673, xã Đắk Long, huyện Đắk Glei – Kon Tum thuyết phục mãi, chúng tôi mới được già làng A B’lá ở làng Vai Trang đồng ý dẫn đường vào nghĩa địa táng treo của người Dẻ Triêng nằm trong một khu rừng.
Già A B’lá cho biết dân làng vẫn quen gọi khu rừng linh thiêng bậc nhất này là Gô kuăm - rừng ma hay nghĩa địa quỷ. Không một người Dẻ Triêng nào dám vào “rừng ma”, trừ khi phải đến táng treo người chết.
Già A B’lá cho biết dân làng vẫn quen gọi khu rừng linh thiêng bậc nhất này là Gô kuăm - rừng ma hay nghĩa địa quỷ. Không một người Dẻ Triêng nào dám vào “rừng ma”, trừ khi phải đến táng treo người chết.
Một góc “rừng ma”, nơi táng treo người chết của dân làng Vai Trang, xã Đắk Long, huyện Đắk Ki, tỉnh Kon Tum
Bất khả xâm phạm
Khu rừng thiêng của người Dẻ Triêng cách làng Vai Trang không xa, ẩn mình dưới những sườn núi sừng sững, âm u. Đoàn chúng tôi gồm 6 người, trong đó có thiếu tá biên phòng Lê Văn Hội, vẫn không đủ sức trấn an già A B’lá. Ông đi phía trước dẫn đường mà cứ như bị đẩy vào lưng, rón rén từng bước, miệng không ngừng lầm rầm khấn vái...
Cách tuyến đường nhựa dẫn vào Đồn Biên phòng 673 chỉ vài chục mét, đường vào “rừng ma” đã không còn lối đi. Lau lách và lồ ô mọc ngang dọc, lá cây mục ngập lút bàn chân.
Vượt qua vài ngôi mộ mới chôn cất kiểu người Kinh được xây gạch, che mái tôn, cả khu rừng mênh mông hiện lên hoang vắng đến rợn người. Chúng tôi nắm lấy áo nhau, lần theo từng bước chân dò dẫm của già A B’lá.
Khi còn cách khu táng treo khoảng vài chục mét, già A B’lá níu áo thiếu tá Hội, run rẩy: “Thôi..., chỉ nhớ đường đến đây thôi...”. “Rừng ma” đón những người đầu tiên sau gần 10 năm kể từ ngày hai người cuối cùng, ông bà A B’rót - Y Bay, được táng treo tại đây.
Trước mặt chúng tôi là những quan tài để lơ lửng dưới tán rừng không một chút ánh sáng mặt trời lọt xuống. Trái với hình dung của tôi, táng treo không phải là treo người chết bằng dây mà thay vì đào huyệt chôn dưới đất, người Dẻ Triêng dùng 2 hoặc 4 cọc gỗ nâng quan tài lên lơ lửng.
Nhiều quan tài gỗ tròn đã mục nát, rơi xuống đất, chìm khuất trong đám lau lách và dây leo rừng. Cặp quan tài của vợ chồng cụ A Ỏn - Y Xơu nổi bật với những thân gỗ tròn, có lẽ nặng tới cả tấn, song đã có dấu hiệu mục nát. Phía dưới quan tài của cụ ông A Ỏn có một quan tài nhỏ.
Già A B’lá thì thào: “Đó là cháu nội nó, chết khi 2 tuổi. Có cháu không may bị chết, người Dẻ Triêng thường treo dưới quan tài của ông như vậy. Cháu gái chết thì được treo dưới quan tài của bà”.
Cách không xa quan tài vợ chồng cụ A Ỏn là cặp quan tài bằng nhôm sáng lóng lánh của vợ chồng ông A B’rót - Y Bay, xung quanh vương vãi nhiều mảnh chum, chóe, bát đĩa, đồ nhôm. Theo già A B’lá, con cháu của vợ chồng ông A B’rót là những người giàu có và họ mua cặp quan tài cho ông bà với giá hàng chục triệu đồng.
Khi chúng tôi đến cạnh những chiếc quan tài để chụp hình, già làng A B’lá vẫn nhất quyết đứng xa xa không chịu tới gần. Theo thiếu tá Hội, ngoài già làng A B’lá, chưa một người Dẻ Triêng nào dám bước vào “rừng ma” này.
“Kể cả khi trâu, bò đi lạc vào rừng, họ cũng chỉ dám đứng ngoài chờ. “Rừng ma” là bất khả xâm phạm. Hai năm trước, làng Vai Trang đã đòi phạt vạ làng Đắk Tu bên cạnh vì dân làng này lỡ làm cháy một vạt “rừng ma” trong mùa đốt rẫy. Cán bộ, chiến sĩ đồn biên phòng chúng tôi đã phải đứng ra hòa giải, dàn xếp mới yên chuyện”- thiếu tá Hội cho biết.
Trên đường từ “rừng ma” trở ra, già A B’lá đi như chạy. Khi đã ra khỏi rừng, ông than thở: “Không biết lấy lễ đâu mà cúng cho nó đây. Không cúng, nó theo về là khổ lắm!”.
Không muốn nằm khuất trong đất
Tại ngôi nhà của già A B’lá ở làng Vai Trang, chúng tôi được ông kể về tục Boong plêng – táng treo của dân tộc Dẻ Triêng.
Già A B’lá dẫn chúng tôi ra vườn, đến bên cỗ quan tài được gia đình chuẩn bị cho cụ A Nan, bố vợ ông. Cỗ quan tài làm bằng gỗ dổi, do 30 trai làng làm liên tục 3 ngày ở rừng mang về. Cỗ quan tài của cụ A Nan cũng như của người Dẻ Triêng nói chung thường được tạc từ nguyên khối gỗ.
Già A B’lá cho biết: “Khi chết, nó được treo vĩnh viễn trong “rừng ma”. Chúng tôi thắc mắc về chuyện vì sao người Dẻ Triêng không chôn người chết xuống đất, già A B’lá lắc đầu: “Chịu thôi! Theo ông bà mà”.
Đến làng Đắk Tu kế bên, chúng tôi được hai cụ A Lum và A Nhôm, đều khoảng 70 tuổi, giải thích về tục Boong plêng: “Chỉ những người giàu có và có uy tín mới được làng cho táng treo. Người Dẻ Triêng không muốn họ rời xa buôn làng, không muốn họ nằm khuất trong đất mà muốn hằng ngày vẫn được gần người mà mình kính trọng”.
Cách giải thích này có điều mâu thuẫn vì hầu hết những người chúng tôi gặp ở 9 khu làng Dẻ Triêng vùng Đắk Glei đều rất sợ linh hồn người chết và không bao giờ dám bén mảng đến “rừng ma”.
Cũng ở Đắk Glei, chúng tôi được nghe chuyện ông A Tôi, cựu chủ tịch xã Đắk Nhoong, “treo” con gái của mình ngay sát đường đi vì muốn hằng ngày được nhìn thấy người con cưng không may chết trẻ.
Đoạn đường ngang qua quan tài cô gái này sau đó bị dân làng bỏ luôn không qua lại. Chính quyền địa phương phải “đền bù” 3 triệu đồng, gia đình ông A Tôi mới chịu chuyển quan tài con lên “rừng ma”!
Trâu hiếm, táng treo ít dần
Ở làng Vai Trang, ông A B’rót và vợ, bà Y Bay, là những người cuối cùng được táng treo. Già A B’lá nhớ lại: “Hơn 30 trai làng phải vào rừng cả tuần mới làm xong quan tài bằng gỗ sao cho tụi nó. Đám tang mổ 2 con trâu, cả làng ăn tiệc cả tuần lễ”. Già A B’lá cho biết theo tục lệ của người Dẻ Triêng, khi có người sắp chết và được làng quyết định táng treo, tất cả thanh niên sẽ cùng nhau lên rừng tìm gỗ tốt để làm quan tài. Tất cả các công đoạn làm quan tài cho người được làng kính trọng phải hoàn toàn thủ công và bằng sức người. Để thể hiện sự kính trọng người chết, những ngày diễn ra đám tang, tất cả dân làng đều tình nguyện đến làm bất cứ việc gì phục vụ tang chủ. Để đáp lễ dân làng, thân nhân người chết phải mổ trâu, làm tiệc liên tục ít nhất 3 ngày. “Không có trâu thì không táng treo được mà trâu thì ngày càng hiếm. Đó cũng là lý do gần chục năm nay, làng Vai Trang không có ai táng treo nữa” - già A B’lá giải thích. |
Quan tài lạ giữa “rừng ma”
Dòng
sông Sê Pôn chia đôi đường biên giới Việt - Lào. Bên kia nước bạn,
loáng thoáng rừng hoang thuộc tỉnh Atopư (Lào) và Ratanakiri (CamPuChia)
xa hút tầm mắt. Bên này - nước Việt, vùng Măng Ri ba zan hẻo lánh của
Tu Mơ Rông (Kon Tum) là những cánh rừng âm u và đó là những khu "rừng
ma" - nơi yên nghỉ những người con của rừng.
Đi tìm "hồn người Raglai"
Một buổi chiều ở vùng núi thẳm trời lắc
rắc mưa, chúng tôi được sắp xếp để theo chân Già làng A Mộc ở Tu Mơ Rông
cùng ông Lâm Quang Huy, Phó chủ tịch xã Măng Ri nhằm hướng về khu "rừng
ma" - nơi bạt ngàn cây cối um tùm lá, để tìm hiểu những điều kỳ thú.
Hơn một giờ đồng hồ băng qua những con đường mòn hiểm trở, chúng tôi đã
được tận mắt chứng kiến "rừng ma" bí ẩn mà trước đó chỉ được hình dung
qua lời kể của ông Phó Chủ tịch xã.
Những người dẫn đường cho chúng tôi quả
quyết rằng, rừng ma là nơi chốn thâm u giữa điệp trùng cây lá và đương
nhiên là không mấy ai dám bén mảng đến đó chặt phá dù chỉ một cành cây.
Đến đây, đặt bước chân nhẹ nhàng lên từng khóm lá phủ đầy mặt đất ngay
ngõ vào rừng thôi, mỗi người chúng tôi ai cũng đã có cảm giác lạnh ở
sống lưng và nổi gai ốc. Còn theo Già làng A Mộc thì người dân ở đây
chẳng có ai dám nhìn thẳng vào rừng, bởi họ sợ con ma rừng nhìn thấy rồi
theo về quấy phá gia đình và bản làng của họ…
Già làng A Mộc ở Tu Mơ Rông nói đi nói
lại với chúng tôi rằng: "Tìm con ma rừng làm gì. Con người ta chết rồi
là hết, vì người đó không còn liên quan gì tới bản làng nữa. Làng cũng
để cho ma rừng được yên trong thế giới riêng tư, thiêng liêng của họ nếu
không thì sẽ phải gặp tai ương. Từ nhỏ, ta đã nghe câu chuyện về một gã
trai làng ương ngạnh, dám vào rừng ma đốn củi. Gã nhìn thấy con heo
rừng, răng đang cắm phập vào sọ người. Về đến làng thì hộc máu tươi rồi
lăn ra chết. Vợ gã lại sinh hạ một quái thai đầu người, mình thú. Năm
ấy, làng cũng gặp đủ tai ương, phải đốt làng, đi nơi khác dựng lại nhà
mới mong được yên".
"Rừng ma" Măng Ri luôn âm u và bí hiểm.
"Đây là rừng ma của thôn Long Hy 1 và
Long Hy 2. Người Xơ Đăng ở Tu Mơ Rông, Kon Tum quan niệm, sống chết là
thuận theo quy luật tự nhiên. Con người cũng như cái cây hay con thú
trong rừng, có sinh - lão - bệnh - tử. Sống được rừng che chở, được rừng
cho cái ăn, cái mặc, cái nhà để ở, cái nước để uống, nên khi chết thì
về với rừng, sống một thế giới khác với rừng mà thôi" - già làng A Mộc
trầm ngâm.
Khi chết, người Xơ Đăng sẽ chôn người
thân dưới những tán cây rừng to như một lời cầu nguyện, mong thần rừng
che chở cho linh hồn người chết. Vậy nên, chốn ấy cũng giống như linh
hồn của dòng tộc vậy!
Theo những quy định mang tính truyền
kiếp, giữa chốn rừng thiêng bao la trùng điệp, vùng đất có nhiều tập tục
lạ này, phụ nữ không được tham gia vào việc chôn cất người chết, cho dù
người chết ấy có là cha, chồng hay con do chính họ sinh ra. Và quan
trọng hơn là những người phụ nữ ở đây tuyệt nhiên không được bén mảng
vào "rừng ma" trong bất cứ hoàn cảnh nào. Những nhà không có con trai,
chỉ toàn phụ nữ, thì bà con trong thôn bản nhận nhiệm vụ chôn cất. Sau
khi xong việc, ngoài những người đi chôn sẽ tắm suối, uống rượu ngoài
rừng, số còn lại trong làng tụ tập ở nhà người chết, mổ heo, gà hoặc bò,
ăn uống suốt mấy ngày liền để tống tiễn linh hồn của người đã chết…
"Họ phải vui vẻ để người đã khuất biết
người sống vẫn sinh hoạt bình thường, thậm chí vui như hội dù không có
họ, để "con ma" không vì tiếc thương mà quay trở lại làng. Và người
chết, phải hoàn toàn bị xóa ra khỏi ký ức, không bao giờ được nhắc lại,
không một ai nghĩ đến chuyện vào viếng thăm" - già làng A Mộc nói thêm.
Và đối với họ, "con ma" trong "rừng ma" đáng sợ gấp ngàn lần con voi,
con cọp…
Những người đưa chúng tôi tìm đường vào "rừng ma".
Theo chân già làng A Mộc vào sâu trong
khu rừng ma, đi qua những vạt rừng um tùm cỏ dại vắng dấu chân người,
chỉ có mùi rừng ngai ngái và xác rắn lột da đó đây… Già làng A Mộc khoát
tay ra hiệu dừng lại, phía trước là những nhà mồ lúp xúp, rệu rã, hoang
mục vì thời gian. Có cả những nấm mồ rất mới, những nấm mồ chẳng có bia
mộ như người Kinh, cùng vô số đồ đạc mà sinh thời người dưới mộ vẫn
thường sử dụng như ché rượu, con dao, cái gùi, cái xà-gạc (dụng cụ vừa
dùng đi rẫy vừa đi rừng)…
Vào "rừng ma", tranh tối tranh sáng
khiến chúng tôi mất phương hướng, trước mắt hiện lên hàng chục quan tài
được đặt trên những giá gỗ với bốn cây cọc, cách mặt đất chừng non mét.
Ngoài các quan tài bằng gỗ còn có cả những quan tài được làm bằng nhôm,
vỏ bom bi, thùng xăng gò hàn rất đẹp. Phía trên quan tài được lợp mái
tôn hoặc cây lồ ô lật sấp ngửa, xung quanh vứt đầy rẫy những vật dụng mà
người chết được "chia phần", một số "con ma" còn được chia cả heo, gà
sống buộc vào chân cột quan tài. Có nhà còn chia cả radio, bàn ghế, xe
đạp, vàng, bạc… Ở những chiếc quan tài bục ra thấy mờ mờ trong đó những
lớp xương.
Những chiếc quan tài trong “rừng ma”.
Tiếng con thú hoang bước loạt soạt trên
cành lá hoai mục đâu đây. Giữa “rừng ma” thâm u rờn rợn, già làng A Mộc
nói nhiều về thế giới ma, một thế giới khác biệt hoàn toàn với trần thế.
Cõi ma theo giải thích của ông là nơi mà mọi thứ đều ngược với cõi
trần. Ví như người dương gian đi hai chân chạm đất, người cõi ma hai
chân bước giữa trời. Ở trần gian gốc rễ cái cây ăn sâu vào đất còn ở
chốn “ma rừng” mọi chuyện ngược lại…
Khi trời tối hẳn, chúng tôi cắt rừng đi
sâu vào, rải rác ghè rượu, xoong nồi, dao rựa, phích nước… vỡ nát, găm
vào nền đất bên cạnh dấu tích những quan tài không còn hình thù. Những
bầy quạ đen đậu vít cong ngọn cây. Nghe tiếng vỗ tay, bầy quạ cất cánh
bay lượn kín bầu trời và cất lên những tiến kêu rợn gáy. Giữa chốn âm u
đại ngàn Tây Nguyên hùng vĩ, bước vào cái thế giới u linh nặng màu huyền
bí, tất cả chúng tôi đều có cảm giác rợn người, không ai bảo ai nhưng
cứ phải nắm tay nhau trên hành trình lạ lẫm ấy.
Dưới tán rừng nguyên sinh, chúng tôi
nhìn thấy ở đây cây thông, lồ ô, vả… nhiều vô kể. Luồn sâu vào bên
trong, dưới những lớp lá mục ken dày đến mấy gang tay, bất giác, bước
chân chúng tôi bỗng giẫm phải cái gì đó nghe khậc lên một tiếng ớn lạnh,
vạch đám lá ra, bên dưới là mảnh ghè rượu, mấy cái chén ăn cơm, gùi,
balô, đèn pin, chai lọ và có cả cái gì đó giống như… xương người.
Chuyện xưa
Gần nửa đêm. Về đến nhà, già làng A Mộc
mang ghè rượu và mấy con cá niêng đặt trên chiếc mâm ở giữa sàn nhà. Lửa
bập bùng, vị già làng chậm rãi kể chuyện đời, chuyện làng và chuyện của
"rừng ma"… Càng về khuya, tiết trời mưa phùn lất phất dưới tán rừng
hoang càng trở nên hiu hắt.
Già làng A Mộc ngửa cổ tu ừng ực xong
bát rượu: "Trẻ con trong làng này lớn lên bị ám ảnh nỗi khiếp sợ ma rừng
đã thành "thâm căn cố đế" trong tâm tưởng của người Xơ Đăng từ những
câu chuyện rùng rợn, lẫn lộn thực hư. Càng sợ, bọn trẻ càng háo hức muốn
nghe những câu chuyện về những bí ẩn ở rừng ma và truyền đời cảnh báo:
chớ động thế giới của ma rừng".
Những chiếc quan tài được làm bằng nhôm, vỏ bom bi, thùng xăng… xung quanh đầy rẫy những vật dụng mà người chết được "chia phần", một số "con ma" còn được chia cả heo, gà sống buộc vào chân cột quan tài.
"Người Xơ Đăng có sự đối xử bình đẳng
giữa nam và nữ, không phân biệt giữa con riêng và con chung, con đẻ và
con nuôi, con của mình và con của anh em họ. Quan hệ buôn làng khá đoàn
kết, có tục kết nghĩa với người cùng tuổi hoặc cùng tên. Con cháu cùng
họ không được phép kết hôn với nhau. Trai gái lớn lên, sau khi đã cà
răng theo phong tục, được tìm hiểu, yêu nhau. Sau lễ cưới, đôi vợ chồng ở
luân chuyển với từng gia đình mỗi bên ít năm, rất ít trường hợp ở hẳn
một bên" - già làng A Mộc vừa kể vừa rót tràn bát rượu đầy đãi khách.
"Sau khi chôn cất người chết xong, người
thân trong gia đình không bao giờ quay lại ngôi mộ đó. Hàng năm, mỗi
khi đến lễ mang nước hoặc tết lúa mới, khi con lợn trong chuồng, con dê
trên rẫy đã lớn, người Xơ Đăng sẽ tổ chức cúng ma để tưởng nhớ đến người
thân đã mất" - già làng A Mộc nói tiếp. Mặc dù huyệt mộ nào cũng giống
nhau, nhưng không bao giờ có chuyện nhầm lẫn mộ của người này với người
khác.
Người Xơ Đăng rất tự hào về khu "rừng
ma" của mình. Suốt cuộc đời họ chỉ biết gắn bó với rừng, nên họ xem các
khu "rừng ma" là một phần tài sản của mình, không ai nỡ chặt phá. Nếu
gia đình, dòng họ hay ai đó bên ngoài có việc gì cần đến gỗ thì phải xin
phép người đứng đầu họ. Sau đó vị này sẽ đứng ra làm lễ cúng. Nếu giàu
thì giết mấy con bò, con trâu, còn nghèo thì phải có gà trống để cúng
thần mới được vào lấy củi, lấy gỗ về.
Đàn ông không chỉ có tinh thần thượng
võ, mà còn tài nghệ trong kiến trúc, điêu khắc và hội họa, tạo nên những
sản phẩm tiêu biểu, đó là ngôi nhà rông và cây nêu trong lễ đâm trâu.
"Mỗi làng người Xơ Đăng đều có nhà rông, nóc và mái được tạo dáng như
cánh buồm lớn hoặc lưỡi rìu khổng lồ ngửa lên trời. Có hình chim chèo
bẻo hay hình sừng thú chót vót ở hai đầu đốc" - già làng A Mộc vừa nhâm
nhi bát rượu, vừa kể.
Với người Xơ Đăng ở Kon Tum, nằm ở phía
bắc Tây Nguyên thì mảnh đất an táng cho người chết trong dòng họ dưới
tán rừng được gọi là "rừng ma". Họ bảo vệ "rừng ma" để bảo vệ đời sống
tâm linh, bảo vệ phần hồn của mình! "Luật ở bản đã quy định rồi, để
người sống được yên không ai được dọn dẹp, xây dựng gì ở phần mộ đó cả" -
già làng A Mộc trầm tư đôi mắt, nhìn về phía cuối vòm trời nơi đang le
lói ánh bình minh…
CANDNghĩa địa treo ở Kon Tum
Dù tục táng treo của người
Giẻ Triêng ở làng Vai Trang, Đắk Long, Đắk Glei gần như không còn nữa,
nhưng khu rừng “thiên táng” vẫn chẳng hề mất đi theo năm tháng.
Như bao ngôi làng của núi rừng Tây Nguyên, Vai Trang mang vẻ đẹp mộc
mạc, đặc trưng của đông bào Giẻ Triêng sinh sống ở đây. Nếu sáng sớm
làng lặng chìm trong màn sương mù đặc quánh thì trong ánh chiều tà, Vai
Trang lại ánh lên màu vàng như rót mật trên khắp các mái nhà.
|
|
|
Vẻ đẹp thanh bình của làng Vai Trang, Đắk Long, Đắk Glei, Kon Tum. Ảnh: thegioif5
|
Theo con đường mòn đất đỏ tung bụi mịt mù về đến tận làng, bạn sẽ thấy
lác đác vài người phụ nữ Giẻ Triêng gùi củi trên lưng trở về từ nương
rẫy. Không chỉ cuốn hút bởi vẻ đẹp yên bình của cảnh sắc thiên nhiên hòa
quyện với cuộc sống lao động cần cù chất phác, Vai Trang còn nổi tiếng
với những câu chuyện tâm linh kỳ bí.
Với người Giẻ Triêng xưa, người chết thuộc gia đình giàu có, quyền quý
đều không phải chôn mà được treo lơ lửng trong một khu rừng rậm rạp,
vắng bóng người. Ngày nay, khi đến thăm làng, người ta thường tìm đến
khu nghĩa địa treo mà người dân địa phương thường gọi là “rừng ma”.
Nằm ở phía mặt trời lặn, nghĩa địa treo ở Vai Trang là một khu rừng
cách làng chưa đầy 2 km, nhưng tĩnh mịch đến lạ thường. Nhìn từ phía
ngoài, “rừng ma” không có những cây cổ thụ nhưng âm u bởi cây bụi rậm
rạp, um tùm che khuất. Chỉ cần cơn gió thổi qua cũng đủ để cây lá xào
xạc và nhiều người phải giật mình, thậm chí nổi da gà, chân lông dựng
ngược.
|
|
|
"Rừng ma" gây ám ảnh với nhiều người bởi những cỗ quan tài treo trên cọc gỗ. Ảnh: tintaynguyen
|
Để vào bên trong khu táng, bất cứ ai cũng phải vạch cây, luồn lá, có
khi phải mang theo dao để phạt cây bụi, dây leo. Vào những ngày mây mù,
cả khu rừng như được bao trùm một không khí liêu trai, bí ẩn. Một vài
ngôi mộ được xây bằng gạch đá, xi măng của người Kinh được đặt ở bên
ngoài.
Đi vào sâu khoảng vài chục mét, những chiếc quan tài treo sẽ dần hiện
ra trước mắt. Chỉ hơn 200 m2 nhưng khu nghĩa địa này có hơn chục cỗ áo
quan. Ở đây, người Giẻ Triêng thay vì dùng dây treo, họ dùng 2 hoặc 4
cọc gỗ nâng quan tài lên lơ lửng. Hầu hết quan tài được làm bằng gỗ
tròn, nặng đến cả tấn và treo cách đất chừng 70 cm.
Khắp nơi, cứ cách vài mét lại thấy xuất hiện những chiếc quan tài treo
lủng lẳng. Các cỗ quan tài vợ chồng được treo cạnh nhau, vợ bên trái còn
chồng bên phải. Cháu chắt sẽ được đặt dưới hòm của ông bà, con cái thì
treo xung quanh. Trải qua thời gian và mưa nắng, ngày nay nhiều cỗ quan
tài đã mục nát, rơi xuống đất vì cọc treo đã mục gãy, chìm khuất trong
đám lau lách và dây leo rừng.
|
|
|
Nhiều cỗ quan tài đổ gục do cọc gỗ gãy mục càng làm khung cảnh ở đây tan tác, tiêu điều. Ảnh: tintaynguyen
|
Tuy nhiên, đáng chú ý nhất trong khu “rừng ma” này là hai chiếc quan
tài đặt song song cạnh nhau, làm bằng nhôm, được treo trên 4 cọc gỗ kiên
cố. Chừng đó để thấy rằng, người được táng thuộc dòng dõi gia đình giàu
có, quyền quý bậc nhất trong làng. Phía dưới của quan tài lỉnh kỉnh
những đồ vật mà gia đình chia cho người chết đem về thế giới bên kia sử
dụng. Nổi bật lên là hai chiếc ghè rượu cổ, một cái còn khá nguyên vẹn.
Người Giẻ Triêng quan niệm, người chết cũng cần làm ăn, sinh sống nên
đây chính là phần của cải mà người còn sống chia cho người đã khuất để
họ không phải "sống" cuộc đời nghèo khổ, túng thiếu. Và cứ thế, những
linh hồn Giẻ Triêng được che chở dưới tán rừng già và những bụi le, lồ ô
dựng đứng.
Đến với nghĩa địa treo trong không gian thâm u giữa núi rừng Tây
Nguyên, sẽ không thể tránh nói cảm giác ớn lạnh hay rùng mình sợ sệt.
Nhưng hơn cả, bạn sẽ hiểu thêm một phần văn hóa cổ xưa của đồng bào Giẻ
Triêng một thời.
Vy An
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét