Chùa Dâu ở Bắc Ninh là nơi khởi nguồn tín ngưỡng thờ Tứ pháp - bốn vị nữ thần tương ứng với các hiện tượng mây, gió, sấm, chớp
Kiều Dương

Theo thời gian, tòa tháp cổ đã mất đi 6 tầng trên, nay chỉ còn ba tầng dưới, với chiều cao khoảng 17 mét. Dù không còn nguyên vẹn nhưng tháp vẫn toát lên vẻ uy nghiêm.
Giải mã bức tượng cực huyền bí trong chùa cổ nhất Việt Nam
(Kiến Thức) - Pho tượng Pháp Vân ở chính điện chùa Dâu gắn liền với một truyền thuyết huyền bí về nàng Man Nương và sự hình thành của hệ thống Tứ Pháp được lưu truyền hàng nghìn năm qua.
Chùa Dâu (huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) được coi là nơi Phật giáo du nhập vào Việt Nam sớm nhất. Ngôi chùa này cũng là trung tâm của tín ngưỡng thờ Tứ Pháp, một hệ phái Phật giáo đặc trưng của người Việt đề cao hình ảnh người phụ nữ với bốn nữ thần Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện.
Pho tượng Pháp Vân ở chính điện chùa Dâu chính là pho tượng tiêu biểu nhất của tín ngưỡng Tứ Pháp. Tượng gắn liền với một truyền thuyết huyền bí về nàng Man Nương và sự hình thành của hệ thống Tứ Pháp được lưu truyền hàng nghìn năm qua.
Tương truyền, nàng Man Nương là một thôn nữ mến mộ Phật pháp. Một hôm nàng nằm ngủ quên, sư Khâu-đà-la vô tình bước qua mà bỗng nhiên mang thai. Sau khi hạ sinh, nàng đem con đến trả cho sư Khâu-đà-la. Nhà sư mang đứa bé đến gốc cây dung thụ gõ cây đọc kệ. Cây bỗng nứt toác ra ôm đứa bé vào lòng.
Đến năm Giáp Tý, mưa bão đánh đổ cây dung thụ trôi theo sông Dâu về đến thành Luy Lâu thì kẹt giữa dòng. Trai tráng trong vùng được huy động đến kéo cây vào bờ nhưng cây không hề nhúc nhích. Nàng Man Nương ra sông ném dải yếm thì cây dung thụ trôi ngay vào bờ

Khi ấy Thái thú Sỹ Nhiếp (137-226) trong thành Luy Lâu được mộng phải tạc cây dung thụ thành tượng Tứ Pháp để thờ. Ông cho thợ xẻ cây tạc bốn pho tượng gồm tượng Pháp Vân thờ ở chùa Dâu, tượng Pháp Vũ thờ ở chùa Đậu, tượng Pháp Lôi thờ ở chùa Tướng, tượng Pháp Điện thờ ở chùa Dàn.
Nhưng khi làm lễ rước tượng Tứ Pháp về các chùa, chỉ rước được ba pho Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện, còn pho tượng Pháp Vân không hề chuyển động. Hỏi ra mới biết khi tạc tượng rìu đẽo phải hòn đá trong cây dung thụ đã quẳng xuống sông.
Tức thì dân các làng chài quanh đấy được phái đi mò nhưng không hề thấy. Khi Man Nương đi đò đến nơi thì bỗng nhiên hòn đá dưới nước nhảy lên vào lòng và phát sáng. Hòn đá đó được đặt tên là Phật Thạch Quang, đặt trong một hòm gỗ để thờ trước tượng Pháp Vân ở chùa Dâu cho đến nay…
/Vào cuối năm 2017, tượng Pháp Vân ở chùa Dâu đã được công nhận là Bảo vật quốc gia nằm trong hệ thống tượng Tứ Pháp vùng Dâu - Luy Lâu, gồm bốn pho tượng trong truyền thuyết được nhắc đến ở trên
Quốc Lê
Huyền bí bảo tháp đặc biệt của ngôi chùa cổ nhất VN
(Kiến Thức) - Trong suốt nhiều thế kỷ, tháp Hòa Phong đã đóng vai trò như một hình ảnh mang tính biểu tượng của chùa Dâu. Hình ảnh tòa tháp uy nghiêm đã được khắc ghi trong câu ca dao của người dân xứ Kinh Bắc: “Dù ai đi đâu về đâu/ Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về”.
Nằm ở xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, chùa Dâu hình thành từ buổi đầu Công Nguyên, được coi là ngôi chùa cổ xưa nhất của Việt Nam.
Theo sử sách, vào năm 1313, vua Trần Anh Tông đã sai trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi về kiến thiết lại chùa Dâu thành chùa trăm gian, tháp chín tầng. Ngôi tháp được nhắc đến chính là tháp Hòa Phong, nằm giữa sân chùa.



Theo thời gian, tòa tháp cổ đã mất đi 6 tầng trên, nay chỉ còn ba tầng dưới, với chiều cao khoảng 17 mét. Dù không còn nguyên vẹn nhưng tháp vẫn toát lên vẻ uy nghiêm.
.
Tháp xây bằng loại gạch cỡ lớn ngày xưa, được nung thủ công tới độ có màu sẫm già của vại sành. Tường tháp rất vững do xây bằng nhiều lớp gạch, bề dày ước chừng 0,7 mét.

Mặt trước tầng hai có gắn bảng đá khắc chữ "Hòa Phong tháp".

Mỗi tầng tháp có bốn cửa vòm.

Không gian bên trong tháp, với giá treo chuông và khánh đặt ở tầng hai.

Quả chuông đồng của tháp đúc năm 1793.

Chiếc khánh cũng bằng đồng, đúc năm 1817.

Ở tầng một có bốn tượng Thiên Vương cao 1,6 mét ở bốn góc.

Cận cảnh một bức tượng Thiên Vương.

Trước tháp, bên phải có tấm bia vuông dựng năm 1738, còn khá nguyên vẹn.

Cận cảnh mặt trước bia.

Bên trái có tượng một con cừu đá dài 1,33 mét, cao 0,8 mét.

Bức tượng này là dấu vết duy nhất còn sót lại từ thời nhà Hán của chùa Dâu xưa.

Trong suốt nhiều thế kỷ, tháp Hòa Phong đã đóng vai trò như một hình ảnh mang tính biểu tượng của chùa Dâu.

Hình ảnh tòa tháp uy nghiêm đã được khắc ghi trong câu ca dao của người dân xứ Kinh Bắc: “Dù ai đi đâu về đâu/ Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về”.
Quốc Lê

Tháp xây bằng loại gạch cỡ lớn ngày xưa, được nung thủ công tới độ có màu sẫm già của vại sành. Tường tháp rất vững do xây bằng nhiều lớp gạch, bề dày ước chừng 0,7 mét.

Mặt trước tầng hai có gắn bảng đá khắc chữ "Hòa Phong tháp".

Mỗi tầng tháp có bốn cửa vòm.

Không gian bên trong tháp, với giá treo chuông và khánh đặt ở tầng hai.

Quả chuông đồng của tháp đúc năm 1793.

Chiếc khánh cũng bằng đồng, đúc năm 1817.

Ở tầng một có bốn tượng Thiên Vương cao 1,6 mét ở bốn góc.

Cận cảnh một bức tượng Thiên Vương.

Trước tháp, bên phải có tấm bia vuông dựng năm 1738, còn khá nguyên vẹn.

Cận cảnh mặt trước bia.

Bên trái có tượng một con cừu đá dài 1,33 mét, cao 0,8 mét.

Bức tượng này là dấu vết duy nhất còn sót lại từ thời nhà Hán của chùa Dâu xưa.

Trong suốt nhiều thế kỷ, tháp Hòa Phong đã đóng vai trò như một hình ảnh mang tính biểu tượng của chùa Dâu.

Hình ảnh tòa tháp uy nghiêm đã được khắc ghi trong câu ca dao của người dân xứ Kinh Bắc: “Dù ai đi đâu về đâu/ Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về”.
Quốc Lê
Giai thoại về tượng cừu đá 2.000 tuổi ở chùa Dâu
Chùa Dâu thuộc xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành còn có tên Diên Ứng tự là ngôi chùa có lịch sử hình thành sớm nhất Việt Nam. Trong số những di vật xưa nhất còn sót lại ở chùa có một tượng cừu đá nằm dưới chân tháp Hòa Phong. Xung quanh sự tồn tại của tượng cừu 2.000 tuổi này có khá nhiều giai thoại.
Tượng cừu đá nằm phủ phục ở chân tháp Hòa Phong chùa Dâu.
Thông thường ở các ngôi chùa Việt, tượng các con vật thường gặp là rùa, nghê, sư tử, voi… chứ hiếm khi thấy tượng cừu. Nhiều người khi đến chùa Dâu đều tò mò về tượng cừu đá. Nhưng tìm hiểu về sự tích chùa Dâu, về vị sư Khâu Đà La là người Tây Trúc đến tu ở đây thì sự có mặt của tượng cừu đá không còn là khó hiểu bởi rất có thể chính những người Hồ (chỉ các nhà sư Ấn Độ) đã cho tạc tượng cừu vì cừu là con vật quen thuộc với họ.
Tượng cừu đá có chiều dài 1,33m, cao 0,8m, được truyền rằng có vào khoảng thế kỷ thứ 2, cách ngày nay gần 2.000 năm. Tượng cừu được tạo tác từ một tảng đá nguyên khối với những đường nét chắc khỏe nhưng cũng không kém phần sinh động. Đầu cừu được tạo hình khá chi tiết với con ngươi, lỗ mũi, miệng, rãnh sừng, rãnh tai được thể hiện rõ. Hai chân trước gập lại, dáng phủ phục trên mặt đất, các khuỷu chân trước và sau đều có vân xoáy. Mông cừu được tạo hình tròn trịa. Lưng cừu và đỉnh đầu cừu mòn vẹt do trong một thời gian dài người dân địa phương dùng làm bàn đập lúa. Nhiều thế hệ trẻ con trong vùng cũng đến xoa đầu, chơi đùa trên lưng cừu nên tượng mới bị mòn nhẵn như hiện nay.
Nhìn kỹ phía dưới cằm của tượng cừu đá có một chòm râu dài nên một số người cho rằng đó là dê chứ không phải cừu, vì loài cừu vốn không có râu. Tuy nhiên đó chỉ là giả thuyết, nghi vấn mà chưa được chứng minh.
Huyền sử kể rằng, vào thời Luy Lâu còn là trung tâm văn hoá, chính trị, kinh tế của nước ta, có vị sư người Ấn Độ sang tu hành truyền bá đạo Phật. Ông dắt theo 2 con cừu. Một hôm sơ ý để 2 con đi lạc, 1 con lạc đến chùa Dâu, 1 con lạc đến lăng Sĩ Nhiếp (Thái thú Giao Chỉ thời đó). Sau này, dân ở 2 vùng này đã tạc tượng 2 con cừu bằng đá ở nơi chúng đến để thờ.
Tượng cừu đá ở lăng Sĩ Nhiếp (Tam Á, Gia Đông, Thuận Thành) có cùng kiểu dáng, chất liệu với tượng cừu ở chùa Dâu.
Nhưng con cừu ở chùa Dâu bị lõm cả đầu và lưng, nhìn kỹ thấy các vết mài rất sắc trên lưng như kiểu bị chém và khá mịn. Nguyên do của chuyện này là khoảng những năm 1960, cả vùng có hợp tác xã mài dao kéo, nên dân làng dùng luôn pho tượng cừu đá trong chùa để mài hàng vạn dao kéo, nên mới bị mòn như vậy. Chuyện này cũng được một số người cao tuổi trong vùng xác nhận. Tuy vậy, dân gian khá tài tình khi sáng tác ra một huyền tích để lý giải về các vết lõm này là do con cừu chùa Dâu ngỗ nghịch nên bị trời phạt đánh cho sụn lưng phải quỳ ở chân tháp Hòa Phong để tu.
Lại có tích nói rằng, sinh thời Sĩ Nhiếp nuôi hai con cừu rất đẹp, suốt ngày quấn quýt bên người. Khi Sĩ Nhiếp qua đời cả hai con cừu không có người chăn dắt nên hư thân mất nết, thường phá hoại hoa màu của nông dân làng Tam Á. Có anh chàng mới lớn, “vô sừng vô sẹo”, không biết sợ oai quan Thái thú, thấy cừu đến phá liền vác dao ra đuổi đánh. Cả hai con đều bị trọng thương. Một con chạy về phủ phục bên trái cửa lăng Sĩ Nhiếp, một con chạy đến chân tháp Hòa Phong chùa Dâu thì kiệt sức. Cừu chết biến thành đá, trên lưng hằn rõ ba vết chém mà ngày nay vẫn còn dấu tích.
Tìm hiểu thực tế, ở lăng Sĩ Nhiếp cách chùa Dâu không xa hiện cũng có một con cừu đá cổ cùng kiểu dáng, chất liệu. Có thể hai bức tượng cừu vốn được đặt ở lăng Sĩ Nhiếp thành một cặp theo tục chôn cất của người phương Bắc. Vì lý do nào đó, một bức tượng đã được kéo về chùa Dâu vào thời kỳ sau này... Bởi vậy mà hiện nay chùa Dâu có một tượng cừu và ở Lăng Sĩ Nhiếp, cách chùa Dâu 3 km cũng có một con. Ông Phạm Đình Phiếu, 83 tuổi là thủ nhang đền thờ và lăng Sĩ Nhiếp (Tam Á, Gia Đông, Thuận Thành) cũng kể rằng: “Xưa Sĩ Nhiếp có hai con cừu, khi ông chết đi, hai con cừu lang thang khắp ruộng đồng, một con tìm được về lăng Sĩ Nhiếp nằm phủ phục, một con lạc đến chùa Dâu không biết đường về nên ở luôn lại đó nghe kinh”.
Những chuyện kể xung quanh hai “cụ cừu đá” chỉ là giai thoại, huyền tích được truyền trong dân gian, không rõ thực hư và cũng chưa được chứng minh. Song hai tượng cừu đá vẫn tồn tại mấy nghìn năm, hơn thế còn rất gần gũi, thân thiết với các thế hệ người dân bản địa. Bởi mỗi đứa trẻ vùng Dâu-Luy Lâu lớn lên vẫn được ông bà, bố mẹ truyền kể về hai “cụ cừu đá” qua những huyền thoại ly kỳ như thế. Đó là hai bảo vật quý cần được gìn giữ cẩn trọng.
Chùa Dâu thuộc xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành còn có tên Diên Ứng tự là ngôi chùa có lịch sử hình thành sớm nhất Việt Nam. Trong số những di vật xưa nhất còn sót lại ở chùa có một tượng cừu đá nằm dưới chân tháp Hòa Phong. Xung quanh sự tồn tại của tượng cừu 2.000 tuổi này có khá nhiều giai thoại.
Tượng cừu đá nằm phủ phục ở chân tháp Hòa Phong chùa Dâu.
Thông thường ở các ngôi chùa Việt, tượng các con vật thường gặp là rùa, nghê, sư tử, voi… chứ hiếm khi thấy tượng cừu. Nhiều người khi đến chùa Dâu đều tò mò về tượng cừu đá. Nhưng tìm hiểu về sự tích chùa Dâu, về vị sư Khâu Đà La là người Tây Trúc đến tu ở đây thì sự có mặt của tượng cừu đá không còn là khó hiểu bởi rất có thể chính những người Hồ (chỉ các nhà sư Ấn Độ) đã cho tạc tượng cừu vì cừu là con vật quen thuộc với họ.
Tượng cừu đá có chiều dài 1,33m, cao 0,8m, được truyền rằng có vào khoảng thế kỷ thứ 2, cách ngày nay gần 2.000 năm. Tượng cừu được tạo tác từ một tảng đá nguyên khối với những đường nét chắc khỏe nhưng cũng không kém phần sinh động. Đầu cừu được tạo hình khá chi tiết với con ngươi, lỗ mũi, miệng, rãnh sừng, rãnh tai được thể hiện rõ. Hai chân trước gập lại, dáng phủ phục trên mặt đất, các khuỷu chân trước và sau đều có vân xoáy. Mông cừu được tạo hình tròn trịa. Lưng cừu và đỉnh đầu cừu mòn vẹt do trong một thời gian dài người dân địa phương dùng làm bàn đập lúa. Nhiều thế hệ trẻ con trong vùng cũng đến xoa đầu, chơi đùa trên lưng cừu nên tượng mới bị mòn nhẵn như hiện nay.
Nhìn kỹ phía dưới cằm của tượng cừu đá có một chòm râu dài nên một số người cho rằng đó là dê chứ không phải cừu, vì loài cừu vốn không có râu. Tuy nhiên đó chỉ là giả thuyết, nghi vấn mà chưa được chứng minh.
Huyền sử kể rằng, vào thời Luy Lâu còn là trung tâm văn hoá, chính trị, kinh tế của nước ta, có vị sư người Ấn Độ sang tu hành truyền bá đạo Phật. Ông dắt theo 2 con cừu. Một hôm sơ ý để 2 con đi lạc, 1 con lạc đến chùa Dâu, 1 con lạc đến lăng Sĩ Nhiếp (Thái thú Giao Chỉ thời đó). Sau này, dân ở 2 vùng này đã tạc tượng 2 con cừu bằng đá ở nơi chúng đến để thờ.
Tượng cừu đá có chiều dài 1,33m, cao 0,8m, được truyền rằng có vào khoảng thế kỷ thứ 2, cách ngày nay gần 2.000 năm. Tượng cừu được tạo tác từ một tảng đá nguyên khối với những đường nét chắc khỏe nhưng cũng không kém phần sinh động. Đầu cừu được tạo hình khá chi tiết với con ngươi, lỗ mũi, miệng, rãnh sừng, rãnh tai được thể hiện rõ. Hai chân trước gập lại, dáng phủ phục trên mặt đất, các khuỷu chân trước và sau đều có vân xoáy. Mông cừu được tạo hình tròn trịa. Lưng cừu và đỉnh đầu cừu mòn vẹt do trong một thời gian dài người dân địa phương dùng làm bàn đập lúa. Nhiều thế hệ trẻ con trong vùng cũng đến xoa đầu, chơi đùa trên lưng cừu nên tượng mới bị mòn nhẵn như hiện nay.
Nhìn kỹ phía dưới cằm của tượng cừu đá có một chòm râu dài nên một số người cho rằng đó là dê chứ không phải cừu, vì loài cừu vốn không có râu. Tuy nhiên đó chỉ là giả thuyết, nghi vấn mà chưa được chứng minh.
Huyền sử kể rằng, vào thời Luy Lâu còn là trung tâm văn hoá, chính trị, kinh tế của nước ta, có vị sư người Ấn Độ sang tu hành truyền bá đạo Phật. Ông dắt theo 2 con cừu. Một hôm sơ ý để 2 con đi lạc, 1 con lạc đến chùa Dâu, 1 con lạc đến lăng Sĩ Nhiếp (Thái thú Giao Chỉ thời đó). Sau này, dân ở 2 vùng này đã tạc tượng 2 con cừu bằng đá ở nơi chúng đến để thờ.
Tượng cừu đá ở lăng Sĩ Nhiếp (Tam Á, Gia Đông, Thuận Thành) có cùng kiểu dáng, chất liệu với tượng cừu ở chùa Dâu.
Nhưng con cừu ở chùa Dâu bị lõm cả đầu và lưng, nhìn kỹ thấy các vết mài rất sắc trên lưng như kiểu bị chém và khá mịn. Nguyên do của chuyện này là khoảng những năm 1960, cả vùng có hợp tác xã mài dao kéo, nên dân làng dùng luôn pho tượng cừu đá trong chùa để mài hàng vạn dao kéo, nên mới bị mòn như vậy. Chuyện này cũng được một số người cao tuổi trong vùng xác nhận. Tuy vậy, dân gian khá tài tình khi sáng tác ra một huyền tích để lý giải về các vết lõm này là do con cừu chùa Dâu ngỗ nghịch nên bị trời phạt đánh cho sụn lưng phải quỳ ở chân tháp Hòa Phong để tu.
Lại có tích nói rằng, sinh thời Sĩ Nhiếp nuôi hai con cừu rất đẹp, suốt ngày quấn quýt bên người. Khi Sĩ Nhiếp qua đời cả hai con cừu không có người chăn dắt nên hư thân mất nết, thường phá hoại hoa màu của nông dân làng Tam Á. Có anh chàng mới lớn, “vô sừng vô sẹo”, không biết sợ oai quan Thái thú, thấy cừu đến phá liền vác dao ra đuổi đánh. Cả hai con đều bị trọng thương. Một con chạy về phủ phục bên trái cửa lăng Sĩ Nhiếp, một con chạy đến chân tháp Hòa Phong chùa Dâu thì kiệt sức. Cừu chết biến thành đá, trên lưng hằn rõ ba vết chém mà ngày nay vẫn còn dấu tích.
Tìm hiểu thực tế, ở lăng Sĩ Nhiếp cách chùa Dâu không xa hiện cũng có một con cừu đá cổ cùng kiểu dáng, chất liệu. Có thể hai bức tượng cừu vốn được đặt ở lăng Sĩ Nhiếp thành một cặp theo tục chôn cất của người phương Bắc. Vì lý do nào đó, một bức tượng đã được kéo về chùa Dâu vào thời kỳ sau này... Bởi vậy mà hiện nay chùa Dâu có một tượng cừu và ở Lăng Sĩ Nhiếp, cách chùa Dâu 3 km cũng có một con. Ông Phạm Đình Phiếu, 83 tuổi là thủ nhang đền thờ và lăng Sĩ Nhiếp (Tam Á, Gia Đông, Thuận Thành) cũng kể rằng: “Xưa Sĩ Nhiếp có hai con cừu, khi ông chết đi, hai con cừu lang thang khắp ruộng đồng, một con tìm được về lăng Sĩ Nhiếp nằm phủ phục, một con lạc đến chùa Dâu không biết đường về nên ở luôn lại đó nghe kinh”.
Những chuyện kể xung quanh hai “cụ cừu đá” chỉ là giai thoại, huyền tích được truyền trong dân gian, không rõ thực hư và cũng chưa được chứng minh. Song hai tượng cừu đá vẫn tồn tại mấy nghìn năm, hơn thế còn rất gần gũi, thân thiết với các thế hệ người dân bản địa. Bởi mỗi đứa trẻ vùng Dâu-Luy Lâu lớn lên vẫn được ông bà, bố mẹ truyền kể về hai “cụ cừu đá” qua những huyền thoại ly kỳ như thế. Đó là hai bảo vật quý cần được gìn giữ cẩn trọng.












Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét