Chuyển đến nội dung chính

Bỗng nhớ rau đồng mùa nước nổi

Có ai đó mong mùa mưa qua mau, nhưng cũng có người đang mong chờ từng ngày  tràn đồng. Riêng tôi, vẫn mong mỗi năm đến mùa được ăn những món  tưởng chừng chỉ còn trong ký ức.
Rau hẹ nước, mã đề, bông súng, bông điên điển được xem là đặc sản của mùa nước nổi
Rau hẹ nước, mã đề, bông súng, bông điên điển được xem là đặc sản của mùa nước nổi
Khi những cơn mưa bắt đầu nặng hạt, những bờ ruộng lé đé nước, nghĩa là mùa nước nổi đang về. Và cũng là mùa của những bông súng đồng, mã đề, rau hẹ nước, rau chốc, rau mác… cựa mình vươn cao non xanh, mượt mà theo con nước.
Tháng Mười, trời như trút cả biển nước xuống trần gian. Còn nhớ, mùa này ngày xưa, mâm cơm nhà tôi thường có mấy món rau hái từ những đồng ruộng mênh mông nước kế bên nhà. Khi ở dưới ruộng chúng là cỏ, còn khi có mặt trong bữa cơm chúng đã trở thành rau.
Mùa mưa là mùa làm lúa nên rau cải hàng bông đều phải nhường ngôi cho cây lúa. Dân ruộng, bữa cơm có thể thiếu món canh, có khi cũng không có cá thịt nhưng nhất định phải có rau. Vậy là ngoài mớ rau muống, tai tượng được trồng dưới mương bên hông nhà, mâm cơm của gia đình tôi còn có rau chốc, rau mác, rau bợ do chị em tôi lội nhổ dưới ruộng lúa sau buổi chiều đi học về. Có hôm là một bó rau dừa, rau ngổ má tôi hái ven con kênh sau nhà. Cũng có khi, dượng Năm tôi lội xuống cái ao nhỏ trước nhà bứt mớ bông súng lên, đem trộn với đọt lục bình rồi mang qua cho nhà tôi.
Rau đồng vốn dễ tính, xào, luộc hay nấu canh chua đều được nhưng tôi thích nhất là ăn sống. Nước chấm rau nếu cầu kỳ sẽ có đậu phộng rang giã nhuyễn, khèo qua dầu rồi thêm ít nước, nêm gia vị, rắc vài cọng hành lá, xong đâu đó chế ra chén có tỏi ớt sẵn; nếu gọn lẹ hơn thì chỉ việc cho tỏi ớt, đường, bột ngọt vào chén, đâm nhuyễn rồi múc đổ vào vài muỗng tương hột có trong hũ sành mà má tôi đã làm từ vụ Đông Xuân trước. Rau nước hầu như không có mùi vị gì đặc trưng nhưng gặp vị béo của đậu, mùi thơm của hành tỏi cộng với chút vị cay của ớt, nó trở nên mềm mụp và có sức hấp dẫn lạ kỳ. Từ người lớn đến con nít, cứ cuộn hết cuộn rau này đến cuộn rau khác chấm ngập vào chén nước đậu kho rồi đưa lên miệng thưởng thức. Chỉ vậy thôi mà rổ rau cứ vơi dần. Tôi lắm lúc quấn cuộn rau quá khổ nên cứ ngồm ngoàm nhai cả buổi chưa xong làm mọi người bật cười vui vẻ.
Thời gian trôi qua, những ruộng lúa quanh nhà tôi có đám đã được lên luống để lập vườn dừa, vườn ổi, có đám lúa vẫn tươi xanh nhưng giờ tìm đỏ mắt cũng không thấy đâu những cọng rau dại ngày xưa. Má tôi nói, do người ta xịt thuốc diệt cỏ nhiều quá, nên “tụi nó” không lên nổi nữa. Đôi khi ngồi nhớ và thèm rau đồng, rau nước cũng chỉ biết nhắc lại kỷ niệm xưa rồi hít hà tiếc nuối. Vì như má nói: “Thứ rau đó chỉ có dân xứ ruộng mình mới ăn chứ thị thành ai người ta thèm”, có lẽ vì thế ngoài chợ chẳng thấy ai bán.
Vậy mà mấy năm nay, bỗng thấy một, rồi hai, ba chị bày bán những thứ rau đồng. Và bây giờ có hẳn những khu vực chuyên bán rau dại mọc dưới nước như khu vực cầu Nổi (thuộc xã Thanh Điền, huyện Châu Thành), hay khu vực cửa Hòa Viện (Tòa thánh) hoặc cầu Bến Đình (xã Tiên Thuận, huyện Bến Cầu) và còn có rải rác trên những con đường về miệt Phước Chỉ, Trảng Bàng.
Mưa xuống, những cánh đồng ven sông Vàm Cỏ trắng xóa nước. Ruộng bỏ hoang trở thành nơi phát triển lý tưởng của đám rau dại. Mùa này, muốn ăn rau nước, ngoài những lục bình, rau bợ có quanh năm, người ta còn bắt gặp rau chốc, rau mác, mã đề, rau hẹ nước… được xem là đặc sản của mùa nước nổi.
Rau hẹ nước lá mỏng tang, xanh trong, vừa đụng vào đã nghe sột soạt như sợi dây ni lông. Ấy vậy mà nhiều người cứ phải chờ đến tháng Tám, tháng Chín âm lịch mỗi năm để mua chúng về chấm với mắm kho. Rau hẹ được bán ký, mỗi ký ba, bốn chục ngàn đồng. Rau mua về, rửa sạch, nước cuối cùng nhớ vò cho rau hơi nhừ để khi chấm, nước chấm đượm vị vào trong. Cái thanh mát, giòn giòn của rau hẹ trong miệng khiến ai đã từng ăn sẽ nhớ mãi.
Mã đề nước cũng được bày bán với giá chừng ba chục ngàn đồng một ký. Chị bán hàng cho biết, người ta mới đi hái bỏ mối cho chị bán khoảng năm ba bữa trước. Mấy rày chỉ có bông súng nước thôi, nhiều người hỏi mua mã đề mà chưa có, rau này ở đây người ta mua nhiều lắm. Mã đề nước thân xốp như bông súng nhưng nhỏ, mềm mại, lá hình mũi tên. Nó có màu nâu nhạt, riêng phần rễ trắng hếu với những rễ con mọc xúm xít thành chùm. Chị bán hàng nói thêm, có người thích ăn luôn cả rễ, nên khi bày bán chị không cắt bỏ.
Còn mớ rau chốc, rau mác thân mỏng manh, mềm mụp sau khi được nhổ từ ruộng về sẽ được các chị bán hàng cẩn thận lặt lượm từng lá úa, cắt bỏ gốc rễ, tránh làm mạnh tay, không thôi chúng giập nát hết, rồi chia ra từng bó nhỏ bày bán với giá năm ngàn đồng. Những bó bông súng nước, cọng nhỏ bằng đầu đũa ăn, được cuộn tròn xinh xắn; những bó rau dừa nù nẫn, đọt vươn dài mướt mượt cũng cùng giá năm ngàn.
Một gian hàng bán rau gần cầu Bến Đình với nhiều loại rau đồng mọc dại
Một gian hàng bán rau gần cầu Bến Đình với nhiều loại rau đồng mọc dại
Ngày xưa, rau đồng mọc không cách gì ăn cho hết. Nhưng ngày nay, cả những người ở đồng, ở ruộng như tôi cũng phải tìm mua. Một phần bởi tác động của con người, một phần cũng bởi nhiều người đã nhận ra “giá trị” của chúng. Một lương y đã nói, người khôn nên biết ăn rau dại, bởi rau dại chứa nhiều vị thuốc, lạ miệng và an toàn hơn rau trồng. Có lẽ vậy, nên ngày càng có nhiều người bán và cũng ngày càng nhiều người tìm mua chúng- những loại rau mà trước đây chẳng ai nghĩ sẽ có ngày chúng sẽ được “săn tìm” như thế.
Mỗi năm một lần, cứ đến mùa nước lên, những mầm mống của rau nước nằm sâu trong đất thi nhau mọc. Chẳng cần ai vun trồng. Cứ mưa càng nhiều, nước càng cao chúng càng mềm, càng non và càng “quyến rũ”.
Có ai đó mong mùa mưa qua mau, nhưng cũng có người đang mong chờ từng ngày mùa nước nổi tràn đồng. Riêng tôi, vẫn mong mỗi năm đến mùa được ăn những món rau đồng tưởng chừng chỉ còn trong ký ức.
Theo Ngọc Diêu (Tây Ninh Online)

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA ĐẸP VÀ SÀNH ĐIỆU NHƯ THẾ NÀO?

Váy suông, bó sát, váy xòe… du nhập vào các đô thị miền Nam những năm 60, 70 và nhanh chóng được phụ nữ đón nhận. Nhiều người đến Sài Gòn lúc ấy đều ngạc nhiên về nét đẹp hiện đại và ăn mặc hợp mốt của những quý cô thành thị. Thời trang của phụ nữ Sài Gòn xưa Phụ nữ Sài Gòn – Đi về phía trước
Đôi mắt to sáng lấp lánh, khuôn miệng nhỏ xinh lanh lợi và đôi má bầu bĩnh là nét đẹp
đặc trưng của thiếu nữ Sài Gòn xưa. Đội thêm một chiếc mũ bê rê được ưa chuộng
thời điểm này làm tăng nét cá tính cho cô gái trẻ. Phong cách của người phụ nữ xinh đẹp trong bộ váy xòe chấm bi bồng bềnh, thắt
eo gọn cùng kiểu tóc sang trọng vẫn không hề lỗi mốt cho đến bây giờ. Nữ sinh lớp Đệ Tam (tương đương lớp 10) trường Quốc Gia Nghĩa Tử, Sài Gòn năm 1968. Áo dài nữ sinh trên đường Lê Lợi, đoạn trước Công ty xe hơi Kim Long
(bên cạnh thương xá Tax) năm 1965. Phụ nữ Sài Gòn năm 1963. Thời đó, vào mỗi chiều cuối tuần,
phụ nữ Sài Gòn thường đi dạo, bát phố trên đường Lê Lợi, Tự Do. Ảnh chụp vào tháng 12 năm 1967.

CHÂN DUNG CÁC MỸ NHÂN SÀI GÒN TRÊN BÌA TẠP CHÍ VIỆT NAM TRƯỚC 1975

Cùng nhìn lại ảnh của các “hotgirl” Sài Gòn để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng những năm tháng cũ ấy. Tạp chí “Vietnam” là ấn phẩm quốc tế được phát hành ở Sài Gòn trước năm 1975 và có rất nhiều trang bìa chụp các người đẹp nổi danh khi ấy của đất phương Nam. Có thể kể đến những cái tên như ca sĩ nổi tiếng Phạm Thị Hiếu, hotgirl Sài Gòn Nguyễn Thi Kim Anh hay nữ nghệ sĩ Bạch Lan Thanh đều góp mặt ở đây. Hãy cùng nhìn lại các mỹ nhân thời xưa để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng của những năm tháng cũ ấy. Túy Phượng Nguyễn Thị Túy Phượng – người nhận được giải thưởngtrang phục đẹp nhất tại Liên hoan nhạc Pop tổ chức tại Sài Gòn ngày 30/1/1972. Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu, cùng tuổi với các nữ tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui và nữ nghệ sĩ Bích Sơn. Ở tuổi 14, 15 Túy Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai diễn nhí nhảnh, hồn nhiên. Đến tuổi 16, 17, khi nghề nghiệp đã định hình, diễn xuất có chiều sâu, Phượng thu hút người xem tr…

Vị bánh cuốn gốc Bắc hơn nửa thế kỷ ở Sài Gòn

Dĩa bánh nóng hổi, thơm phức được tráng theo công thức truyền thống của một gia đình gốc Bắc di cư vào Sài thành từ những năm 50.

Bánh cuốn là món ăn có tiếng ở miền Bắc, đặc biệt là đất Hà thành. Từ thôn quê, thứ bánh dân dã len lỏi vào giữa phố xá, trở thành món "ruột" của người thành thị. Không rõ món ăn này du nhập vào Sài Gòn chính xác từ khi nào, tôi chỉ biết trong một con hẻm nhỏ có quán bánh cuốn do một gia đình gốc Bắc lập ra, từ khi vào Sài Gòn ngót nghét hơn 63 năm trước. Quán bánh tên Song Mộc, mở cửa chính xác vào năm 1954. Những túp lều xanh cạnh bên những tán cây tại quán Song Mộc. Ảnh: Phong Vinh. Bánh cuốn ở quán luôn nóng hổi vì người đứng bếp chỉ tráng bánh khi có khách. Lớp bánh được tráng chín tới, có độ mỏng vừa phải, mềm dai nhưng không dễ rách. Nhân bên trong không mướt như thường thấy mà hơi khô, được nêm nếm theo công thức gia truyền nên có vị khác lạ. Sau khi bánh cuốn nhân xong thì được xếp gọn ghẽ trên dĩa, rắc thêm một nhúm hành phi giòn, vàng …