Chuyển đến nội dung chính

Thời Trần đã có quy định về dùng xe, kiệu phải hợp chức tước



Kiệu 8 người khiêng của vua Lê trong sách của Baron
   Theo quy định năm 1254 được ghi trong Đại Việt sử ký toàn thư - Bản kỷ, quyển 5, hàng tông thất cho tới các quan ngũ phẩm đều được ngồi kiệu, trong đó: Kiệu của tông thất đầu phượng, sơn son; kiệu của tướng quốc đầu vẹt, sơn đen; kiệu của quan tam phẩm trở lên đầu mây; kiệu của quan tứ, ngũ phẩm đầu bằng.
Thời xa xưa, giới quý tộc không có xe hơi thì thường đi lại bằng gì? Xe 4 bánh đánh giá đẳng cấp của thời xưa chính là kiệu. Khi nhìn vào kiệu thì người ta có thể biết được vai vế của người ở trong. Sứ giao tập kể năm 1293, sứ thần nhà Nguyên là Trần Cương Trung khi đến Thăng Long cũng phải ca ngợi kiệu của vua Trần dùng để ra vào cung cấm “ngồi loại kiệu đỏ, xung quanh màu son, tám người khiêng, rất hoa lệ”.
Vào thời Trần, kiệu bát cống đầu rồng là kiệu dành cho vua chứ quan lại chỉ dùng kiệu 4 người khiêng là cùng. Theo quy định năm 1254 được ghi trong Đại Việt sử ký toàn thư - Bản kỷ, quyển 5, hàng tông thất cho tới các quan ngũ phẩm đều được ngồi kiệu, trong đó: Kiệu của tông thất đầu phượng, sơn son; kiệu của tướng quốc đầu vẹt, sơn đen; kiệu của quan tam phẩm trở lên đầu mây; kiệu của quan tứ, ngũ phẩm đầu bằng.
Thời Hậu Lê cũng có chép việc quy định dùng kiệu. Sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú có chép "vua chúa xuất cung chỉ dùng kiệu rồng vàng, kiệu rùa vàng. Các quan thì dùng kiệu thất cống (bảy đòn), võng tam cống (ba đòn). Đồng thời cho biết, vua chúa quen ngồi kiệu đã lâu, thấy thoải mái dễ chịu nên bỏ quy chế xe cộ không dùng".
Trong An Nam tạp ký, sứ nhà Thanh là Lý Căn Tiên khi đến Thăng Long cũng tả việc đi kiệu, đi võng của người nước ta thời đó như sau: ”Người sang thì dùng lưới làm võng, hai người khiêng. Bậc đại tôn quý thì ngồi kiệu giống cái xe, lên kiệu thì khoanh chân ngồi, hoặc tám người khiêng, hoặc bốn người khiêng. Buồn cười nhất là phu kiệu, phu cầm lọng cầm quạt của vua đều cởi trần cả, chỉ dùng một khổ vải xanh quấn quanh eo, từ bẹn bó lên đến rốn, dù trời lạnh cũng không mặc áo, ai nấy hình dong đều béo chắc".
Samuel Baron, một lái buôn Hà Lan từng đến Thăng Long hồi thế kỷ 17 có viết A Description of the Kingdom of Tonqueen để giới thiệu Đàng ngoài với người Anh. Đây là một trong những cuốn sách đầu tiên viết về Việt Nam của người Âu và cũng là một nguồn tư liệu quý báu của chúng ta về đời sống Đàng ngoài thời Hậu Lê.
Trong cuốn này, Baron kể khá kỹ chuyện vua Lê, chúa Trịnh đi tế lễ. Cuốn đó có đoạn được tác giả Nguyễn Trọng Phấn dịch: vua lên kiệu, có nhiều lọng che và được tám tên lính khiêng qua các phố về đền cùng, theo sau là các quan mặc áo thụng đi bộ. Dọc đường vua vứt tiền cho dân nghèo đói ở các làng vua ngự qua, hay bọn cùng khốn đứng xem loan giá.

Cách sau vua một ít là chúa Trịnh ngồi voi to, có nhiều ông hoàng trong phủ liêu hay bên tôn thất, có nhiều võ tướng và đại thần đi kèm ai cũng ăn mặc lộng lẫy, lại thêm có ba bốn nghìn kỵ binh, trăm rưởi hay một trăm thớt tượng đóng bành lộng lẫy, một vạn bộ binh mặc quân phục may bằng hàng thêu tay. Thành thử về nghi vệ chúa lấn hẳn vua. Chúa cùng về một đường với vua, nhưng khi đến chỗ rẽ thì chúa đi quặt về vương phủ và để vua Lê thẳng lối về cung".
Cũng theo Baron thì ngay từ thời đó, Thăng Long cũng đã có chuyện kẹt đường. Ông kể "kinh đô Thăng Long đã tỏ ra chật chội. Chợ họp mỗi tháng hai kỳ vào những ngày mồng một và ngày rầm, mỗi lần có phiên chợ người các nơi đổ về đông chật đường đi, muốn nhích lên độ một trăm bước phải mất đến nửa tiếng đồng hồ".
Thời Nguyễn thì chuyện kiệu xe càng khắt khe. Sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, do Nội các triều Nguyễn biên soạn, đã dành hẳn chương Nghi vệ (quyển 79) để miêu tả các loại xe kiệu dùng cho vua quan triều Nguyễn, với những quy định rất cụ thể về tên gọi, số lượng xe kiệu cùng các nghi trượng đi kèm các loại xe kiệu này, tùy thuộc vào thời thế, địa vị và thứ bậc của người sử dụng.
Quan lại triều Nguyễn thì không được phép dùng xe kiệu mà chỉ ngồi võng có mui che, được khiêng bởi 4 người lính. Đòn ngang của võng sơn son thếp vàng, khắc hình con giao long, đòn dọc của võng khắc hình con thú ứng với phẩm trật của vị quan ngồi trên võng. Võng bằng lụa màu hồng. Mui che võng được quang dầu màu xanh để che mưa nắng. Quan lại trên hàng nhất phẩm thì có 4 người lính vác 4 chiếc lọng theo hầu, quan nhất phẩm chỉ có 3 lọng, quan nhị phẩm chỉ có 2 lọng và quan từ tam phẩm xuống đến cửu phẩm chỉ có 1 người vác lọng theo hầu.
Bắt đầu đến vua Khải Định thì có dùng xe hơi rồi theo trào lưu lịch sử, võng và kiệu đi vào viện bảo tàng.
Anh Tú

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Làng nghề chày thớt Phú Long

Làng nghề chày thớt Phú Long ở khu phố Hòa Long, phường Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương đã tồn tại và phát triển từ hơn nửa thế kỷ qua. Đến nay, cái chày, tấm thớt Phú Long không những được ưa chuộng trên thị trường trong nước mà đã vươn xa ra thị trường các nước như: Mỹ, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản…
Lái Thiêu xưa vốn là vùng đất hoang sơ, có nhiều rừng nên nghề mộc nơi đây phát triển rất sớm nhờ nguồn nguyên liệu gỗ phong phú. Theo những người có kinh nghiệm làm chày, thớt ở Phú Long, người sáng lập ra làng nghề này là ông Hai Thiệt. Ban đầu, từ những khúc gỗ thừa của các xưởng mộc trong làng, ông mang về để tận dụng làm thớt. Sẵn nguồn nguyên liệu, lại nắm bắt nhu cầu của bà con trong vùng, ông Hai Thiệt làm thớt để bán, rồi truyền nghề lại cho con cháu sau này. Làng nghề dần được hình thành từ thời điểm những năm 1960 của thế kỷ trước và cũng để ghi công ông Hai Thiệt, người làng sau đó gọi ông là Hai Thớt.

Hiện làng nghề chày thớt Phú Long có hơn 20 cơ sở lớn, nhỏ làm việc …

Nghề đắp phù điêu ở Thạch Xá

Là vùng đất nổi tiếng với những nghề thủ công truyền thống, xã Thạch Xá (huyện Thạch Thất, Hà Nội) còn được biết đến là nơi có những người thợ đắp phù điêu tài hoa. Những người thợ Thạch Xá được nhiều người biết đến qua công việc phục chế, tân tạo nhiều công trình văn hóa tâm linh ở Việt Nam. Theo nghệ nhân Nguyễn Văn Tuấn, một trong số người giữ gìn và phát triển nghề đắp phù điêu của Thạch Xá thì nghề đắp phù điêu có lịch sử cách đây khoảng 200 năm. Là người theo bố học nghề từ năm 13 tuổi, nghệ nhân Nguyễn Văn Tuấn với tài năng và kinh nghiệm hơn 40 năm đã trực tiếp thiết kế, phục chế, tôn tạo hàng trăm tác phẩm tại các công trình di tích lịch sử, văn hóa tâm linh được Nhà nước xếp hạng. Trong đó, tiêu biểu là phục chế đầu đao (chùa Tây Phương, Thạch Thất), đắp nổi Rồng chầu mặt nguyệt (chùa Thầy, Quốc Oai), phục dựng con giống cổ chùa Sóc Sơn, xây cột trụ và đắp hoa văn con giống tại chùa Hòe Nhai, một trong những di tích kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội...

Xơ giấy dó (còn gọi …

Nuôi gà thảo mộc ở Định Quán

Nuôi gà thảo mộc, hay còn gọi là thảo dược, khác với những mô hình nuôi khác ở chỗ người nuôi bổ sung vào khẩu phần thức ăn nhiều loại thảo dược tốt có lợi cho sức khỏe của gà, góp phần thay thế hoàn toàn các loại kháng sinh và chất kích thích tố tăng trọng thường sử dụng trong quy trình nuôi gà bình thường. Nuôi gà thảo mộc là mô hình chăn nuôi kiểu mới không sử dụng kháng sinh, giúp cho thịt gà có hương vị thơm ngon, đảm bảo sức khỏe cho người tiêu dùng. Bà Cao Thị Ten (ấp 2, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán) là người tiên phong trong việc nuôi gà thảo mộc ở tỉnh Đồng Nai.

Từ lâu, ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm đã hướng tới nền chăn nuôi sạch, bền vững và xu hướng này trở nên khá phổ biến trên thế giới. Nắm bắt được xu thế đó và nhận biết nhu cầu thị trường luôn ưu tiên sử dụng sản phẩm sạch, chất lượng, từ năm 2011, bà Cao Thị Ten đã tiến hành nuôi thử nghiệm lứa gà thảo mộc đầu tiên.


Trang trại nuôi gà thảo mộc của bà Cao Thị Ten (ấp 2, xã Phú Ngọc, huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai).


Cây…