Chuyển đến nội dung chính

Võ sĩ ngày xưa thi đấu như thế nào?

Các triều đại phong kiến Việt Nam đã mở nhiều kỳ thi võ học để tuyển dụng nhân tài phục vụ đất nước.
Di tích đền thờ Võ Thánh Miếu hiện nay ở huyện Hương Thuỷ, Thừa Thiên - Huế vẫn còn 5 tấm bia đá khắc tên các vị tiến sĩ võ. Trong đó, 3 tấm bia được gọi là Võ Công bi ký, Võ công tả bi và Võ công hữu bi.
Bia Võ Công bi ký được khắc lời dụ của vua Minh Mạng về việc tuyển chọn 10 võ tướng có công với triều Nguyễn khi khai quốc.
Dưới thời Lê - Trịnh, sách Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn miêu tả chi tiết nội dung của các kỳ thi võ học. Năm 1723, chúa Trịnh Cương tổ chức khoa thi võ để tuyển dụng nhân tài phục vụ triều đình. Kỳ thi được tổ chức ở hai cấp là trung ương và địa phương.
Ở cấp địa phương gọi là Sở cử, được tổ chức vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu. Người đạt trong kỳ Sở cử được thi tiếp Bác cử vào các năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi.
Nội dung kỳ thi này gồm 3 vòng. Vòng thứ nhất hỏi sơ qua 6 câu về đại nghĩa trong binh pháp Tôn Tử. Vòng hai thi các môn võ thuật và kỹ thuật chiến đấu gồm cưỡi ngựa múa mâu, bắn cung, lăn khiên, múa kiếm, đấu kích, chạy bộ múa mâu, lại đấu kiếm. Mỗi môn chỉ thi một tao. Vòng thứ ba thi về phương lược đánh trận và làm một bài thơ đường.
Khoa thi võ này có 572 thí sinh. Vòng một lấy 188 người. Sau đó, 12 người được chọn vào hạng tam thắng, 16 người vào hạng nhị thắng, 17 người vào hạng nhất thắng, 21 người vào hạng bình phân. 
Có 6 người vào hạng thiếu một phân nhưng vì thân thể, diện mạo, can đảm, sức lực có phần khá nên được lựa chọn lấy trúng. 14 người vào hạng nhất thắng nhưng vì thân thể, diện mạo can đảm sức lực bình thường nên không được lấy.
Vo si ngay xua thi dau nhu the nao? hinh anh 1
Tranh minh họa về thi võ ngày xưa.
Sang năm Giáp Thìn (1724), triều đình tổ chức khoa thi Bác cử ở Thăng Long. Nội dung vẫn thi qua 3 vòng nhưng yêu cầu cao hơn. Triều đình cũng tổ chức chấm điểm linh động. Giám khảo xem xét thể chất sĩ tử rồi chia làm 3 hạng để phân phối thi từng hiệp.
Trước hết, họ thi cưỡi ngựa múa siêu đao, lăn khiên và đấu gươm giáo. Cộng kết quả các môn thi lại, đem các trận được trừ đi các trận thua để định người hơn kẻ kém. Những người có khí phách can đảm thì thăng một bậc, người kém lùi một bậc.
Theo sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục, để kiểm tra tính can đảm của thí sinh, người ta lấy cái dùi đồng bên ngoài có bọc rạ rồi đánh vào đầu sĩ tử 3 lần. Nếu người nào không chớp mắt và thân thể không chấn động thì đạt.
Những người đỗ qua 3 vòng thi trong kỳ thi Bác cử được gọi là Tạo sĩ (tương đương tiến sĩ nho học) và được ban mũ áo và hưởng các nghi lễ như sĩ tử đỗ đạt. 
Năm 1731, quy chế thi võ được sửa chữa lại. Kỳ thi vẫn gồm 3 vòng nhưng quy định chi tiết là vòng một thi giương cung và múa siêu đao. Cung dùng loại nặng 55 kg, siêu đao dùng hạng nặng 30 kg và 24 kg. Sĩ tử phải giương được cánh cung hết cỡ và múa được thanh đao nặng đó mới qua.
Theo Đại Nam thực lục, sau khi lên ngôi, vua Minh Mạng ra chỉ dụ "điều cốt yếu của trị nước là cả văn lẫn võ, không thể riêng bỏ bên nào. Đặt ra Võ Miếu là việc nên làm... Huống chi bản triều từ ngày khai quốc đến trung hưng, công liệt rực rỡ, không kém người xưa, đáng biểu dương để khuyến khích nhân tài".Dưới thời Nguyễn, triều đình tiếp tục duy trì việc tổ chức thi tuyển nhân tài võ học. Giống như thời Gia Long, sau khi lên nắm quyền, vua Minh Mạng tiếp tục củng cố nền khoa cử cho võ học.
Năm 1837, khoa thi Hương võ và Hội võ lần đầu tiên được mở. Triều đình quy định lấy các năm Dần, Tỵ, Thân, Hợi mở khoa thi Hương võ, các năm Tý, Mão, Ngọ, Dậu mở khoa thi Hội võ.
Về quy chế thi cử, Hương võ qua ba giai đoạn là mang vật nặng; đấu côn, quyền, đao, thương... và thi bắn súng (súng hỏa mai). Sĩ tử vượt qua ba môn thi nói trên đều được triều đình phong học vị "cử nhân võ", còn gọi là "võ cử". Thí sinh chỉ đạt hai môn được gọi là "tú tài võ".
Sau Hương võ là đến kỳ thi Hội võ và Đình võ. Thí sinh ở các tỉnh về thi ở kinh thành đều được triều đình cấp tiền, gạo đi đường. Vì thời Nguyễn không có lệ lấy trạng nguyên nên người đỗ đầu kỳ thi đình được gọi là Đình nguyên (tiến sĩ võ).
Người đạt học vị tiến sĩ võ thường phải vượt qua ba kỳ thi, đồng thời thông thạo các lý thuyết bài binh bố trận, cũng như nhuần nhuyễn về binh pháp.
Năm Mậu Dần (1878), nhà Nguyễn mở khoa thi Hương võ ở bốn địa điểm là Bình Định, Thừa Thiên - Huế, Thanh Hóa và Hà Nội. Đến năm Kỷ Mão (1879), cả bốn trường thi võ trong toàn quốc tuyển được 120 võ cử.
Sau khi lên thay vua Tự Đức, vua Kiến Phúc đã cho mở lại các kỳ thi Hương võ với thể lệ và các bộ môn thi võ là xách tạ, múa quyền, múa côn gỗ, múa đao to, lăn khiên, nhảy xa... Môn thi võ cuối cùng vẫn là bắn súng.
Tuy nhiên, đây là giai đoạn có nhiều biến động, đất nước đã bị thực dân Pháp xâm lược, triều đình lập và phế vua liên tục nên việc thi tiến sĩ võ không được tổ chức.
Bình Định - hào khí đất võ Võ thuật Bình Định bao gồm nhiều môn võ cổ truyền có xuất xứ từ tỉnh Bình Định hoặc từng phổ biến ở tỉnh này sau đó được truyền bá rộng rãi khắp cả nước và thế giới.
Nguyễn Thanh Điệp
Video: Tỉnh đoàn Bình Định

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Bản đồ tỉnh Gia Lai

Làng nghề chày thớt Phú Long

Làng nghề chày thớt Phú Long ở khu phố Hòa Long, phường Lái Thiêu, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương đã tồn tại và phát triển từ hơn nửa thế kỷ qua. Đến nay, cái chày, tấm thớt Phú Long không những được ưa chuộng trên thị trường trong nước mà đã vươn xa ra thị trường các nước như: Mỹ, Pháp, Hàn Quốc, Nhật Bản…
Lái Thiêu xưa vốn là vùng đất hoang sơ, có nhiều rừng nên nghề mộc nơi đây phát triển rất sớm nhờ nguồn nguyên liệu gỗ phong phú. Theo những người có kinh nghiệm làm chày, thớt ở Phú Long, người sáng lập ra làng nghề này là ông Hai Thiệt. Ban đầu, từ những khúc gỗ thừa của các xưởng mộc trong làng, ông mang về để tận dụng làm thớt. Sẵn nguồn nguyên liệu, lại nắm bắt nhu cầu của bà con trong vùng, ông Hai Thiệt làm thớt để bán, rồi truyền nghề lại cho con cháu sau này. Làng nghề dần được hình thành từ thời điểm những năm 1960 của thế kỷ trước và cũng để ghi công ông Hai Thiệt, người làng sau đó gọi ông là Hai Thớt.

Hiện làng nghề chày thớt Phú Long có hơn 20 cơ sở lớn, nhỏ làm việc …

Theo dấu xưa, chuyện cũ: Trăm năm phủ thờ họ Cao

Chia sẻ Mặt tiền ngôi nhà và bộ tượng bằng gốm trên đầu cột bị kẻ trộm cưa mấtẢNH: HOÀNG PHƯƠNG Phủ thờ tộc họ Cao tại số 90, đường Đống Đa, là một trong những ngôi nhà có tuổi thọ hơn trăm năm còn sót lại ở TP.Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu với lối kiến trúc hỗn hợp Hoa - Việt. Đây là nơi khai sinh một nhà cách mạng nổi tiếng ở miền Tây Nam bộ thời chống Pháp. Ngôi nhà xưa độc đáo Mặt tiền phủ thờ giống như kiến trúc hội quán của người Hoa, nhưng bên trong bố trí theo kiểu nhà xưa Nam bộ của người Việt. Từ bộ giàn trò đến cửa võng, bao lam, hoành phi, liễn đối đều trang trí theo kiểu người Việt. Gian chính có ba bàn thờ. Các khánh thờ bằng gỗ quý được chạm trổ tinh xảo với hình lưỡng long tranh châu và các loại mai, tùng, trúc, cúc… cẩn ốc xà cừ. Bà Cao Tuyết Lệ, 79 tuổi, cháu nội của chủ nhân ngôi nhà, cho biết phủ thờ đã xuống cấp từ năm 1980. Cách đây không lâu, kẻ trộm leo rào vô cưa lấy mất bộ tượng ông mặt trời, bà mặt trăng bằng gốm trang trí ở đầu cột mặt tiền nhà. Mấy năm nay, Bảo tà…