Chuyển đến nội dung chính

Theo dấu người xưa -: Nhà tình báo triều Nguyễn

Trước năm 1975, Sài Gòn có đường Lê Văn Thạnh (nay đổi lại là Sư Thiện Chiếu), sau này ở Q.9, TP.HCM cũng có đường Nguyễn Văn Thạnh.
Riêng tại TP.Mỹ Tho (Tiền Giang) hiện vẫn còn con đường mang tên Lê Văn Thạnh, nhưng cả Sài Gòn và Mỹ Tho đều ghi sai tên một nhân vật nhiều nỗi truân chuyên trong lịch sử buổi giao thời: Cử nhân Đặng Văn Thạnh.
Hoạt động bí mật
Theo bia mộ (tại xã Long Trung, H.Cai Lậy, Tiền Giang), Đặng Văn Thạnh tự là Long Phủ, sinh năm Canh Thìn (1830) tại thôn Trà Tân, H.Kiến Đăng. Phả hệ của gia đình ghi cha ông là Đặng Kiến Hưng, người gốc Quảng Ngãi, theo cha vào đây lập nghiệp từ cuối thế kỷ 18, là một trong những họ tiền hiền có công khai khẩn lập làng Trà Tân xưa.
Thời niên thiếu, Thạnh là học trò giỏi của thầy Đồ Giáo ở Giồng Vân (thôn Phú Long cùng huyện). Năm 26 tuổi, Đặng Văn Thạnh đến trường thi Gia Định ứng thí, đậu cử nhân khoa Quý Mão (1855). Sau đó ông ra kinh đô Huế thi hội, nhưng “học tài thi phận” ông bèn nộp đơn xin hậu bổ và được tuyển chọn làm chức Huấn đạo Kiến Hòa (Định Tường) trông nom việc giáo dục. Mấy năm sau, ông chuyển qua việc hành chính tại H.Phong Thạnh, tỉnh An Giang (nay là tỉnh Bạc Liêu). Đầu tiên ông giữ chức Kinh lịch, thăng Thông phán rồi thăng Tri huyện Phong Thạnh.
Khi thực dân Pháp chiếm Nam Kỳ lục tỉnh, ông được điều ra làm Tri huyện Tuy Phong (tỉnh Bình Thuận), nổi tiếng là một vị quan thanh liêm, công bình chính trực. Năm 1866, vua Tự Đức sai Phan Trung vào Bình Thuận lập Ty Điển nông sứ Khánh Hòa, mở đồn điền khai khẩn đất hoang. Nhưng đây thực chất là một tổ chức tình báo của triều đình đặt ở Nam Trung bộ, chuyên trách việc liên hệ bí mật giúp đỡ phong trào chống Pháp, đồng thời thu thập tin tức về tình hình quân Pháp ở Nam kỳ. Theo một số tài liệu, tổ chức tình báo này có liên hệ với Nguyễn Thành Ý, lúc ấy làm Chánh lãnh sự cho nhà Nguyễn tại Gia Định. Mạng lưới được tổ chức theo nguyên tắc hoạt động đơn tuyến nên giặc Pháp rất khó phát hiện. Ty Điển nông sứ tồn tại gần 20 năm và đã tự giải thể từ sau 1884, nên ít có tài liệu đề cập.
Bấy giờ, Đặng Văn Thạnh gặp Phan Trung bàn chuyện quốc sự, rồi lấy cớ còn mẹ già ở quê nên dâng sớ từ chức: “Mẹ già sống trong đất giặc, sống chết ấm no chẳng ai lo. Xưa nay nếu được trung thì mất hiếu, được hiếu thì mất trung. Hiện nay trung thần nghĩa sĩ rất nhiều, kẻ bất tài có lòng thấp thỏm như thần thì chẳng ích lợi gì cho triều đình cả”. Vua Tự Đức xem xong tờ sớ rồi phủ dụ chấp nhận cho ông về hưu với hàm Văn Lâm Lang, Tùng lục Phẩm. Đây là cách triều đình tạo thế hợp pháp, thỏa thuận cho ông về quê.
Trước khi xuống thuyền, tổ chức bí mật đã giao cho ông nhiệm vụ giấu một số súng đạn trong khoang hầm chở về Nam. Tuy nhiên, vừa đến Vũng Tàu thì giặc Pháp biết tin và tổ chức theo dõi. Nhờ có người báo trước nên Đặng Văn Thạnh kịp thời thủ tiêu số vũ khí. Khi thuyền của ông vừa cập bến Gia Định, giặc xét hỏi giấy tờ tùy thân biết ông là Tri huyện Tuy Phong hưu trí về quê, lục soát trong khoang hầm thì chẳng có gì đáng nghi ngờ. Mặc dù vậy giặc Pháp vẫn nghi vấn tại sao ông còn trẻ mà lại hưu trí, nên đã giam ông tại Gia Định một thời gian rồi giao cho Đốc phủ Trần Bá Lộc ở Cái Bè quản lý, theo dõi.
Theo dấu người xưa - Kỳ 12: Nhà tình báo triều Nguyễn - ảnh 1
Ngôi mộ ông Đặng Văn Thạnh ở xã Long Trung, H.Cai Lậy - Ảnh: H.P 
Ghét kẻ gian nịnh
Vậy là Đặng Văn Thạnh buộc phải ở tại tư dinh của Trần Bá Lộc để làm gia sư dạy học cho con trai Lộc là Trần Bá Thọ. Đốc phủ Lộc là kẻ bán nước khét tiếng tàn ác, nhưng lúc đó quyền uy hắn trùm lên vùng Cai Lậy và Cái Bè nên đám cường hào thường xuyên tới lui, lòn cúi khúm núm. Trước cảnh trái tai gai mắt ấy, Cử Thạnh đã mượn hình ảnh bầy chim dòng dọc, làm bài thơ chê trách:
Nam mai không đậu, đậu cây bần
Quái bấy! Loài chim ỷ thế thần
Chất ngất năm ba tầng ổ đóng
Om sòm muôn vạn tiếng vang rân
Lửng lơ chẳng sợ làn giông quỷ
Lắt lẻo không kiêng ngọn gió thần
Biết cậy hơi ong làm rạo chắc
Một mai chồi tróc khó nương thân
(Chim dòng dọc)
Giai thoại kể rằng, Trần Bá Thọ tính tình ngông nghênh, lại là tên học trò bất đắc dĩ nên có một hôm hắn giả bộ lễ phép với thầy, xin xướng đối chơi. Thế rồi hắn lấy hình dáng thầy mình ra cười cợt:
- Râu ba chòm lém đém, miệng hút thuốc phì phà.
Biết học trò châm chọc mình, ông Cử Thạnh cũng lấy hình dáng hắn nhắc nhở:
- Tóc ít sợi loe loe, tay cầm cây ngút ngoắt.
Nhưng Thọ vẫn chưa biết lỗi, đưa vế đối ra vẻ kiêu ngạo:
- Phụ từ tử hiếu, sinh con thế mới là vàng.
Ông Cử tức giận. Gia đình hắn cha bán nước theo giặc, con ăn chơi đàng điếm mà lên giọng đạo đức, bèn ra câu đối chửi ngay:
- Tham phú phụ bần, đ. mẹ thằng nào ở bạc.
Vốn không ưa thầy, Thọ lấy cớ thích học chữ Tây, nên kêu cha cho Cử Thạnh về lại quê nhà. Trong thời gian này ông sáng tác rất nhiều thơ, câu đối và giao du với bạn bè ở rạch Trà Tân, trao đổi văn chương nghệ thuật, đồng thời là những người đầu tiên chế tác cây kiểng sơn thủy tứ diện nổi tiếng ở vùng Ba Dừa.
Đặng Văn Thạnh mất ngày 6 tháng 7 năm Kỷ Hợi (1899). Ngôi mộ ông hiện tọa lạc trong khu vườn sầu riêng ở ấp 15, xã Long Trung, H.Cai Lậy. Ông Nguyễn Văn Chương, người cháu gọi cụ Cử Thạnh bằng cố ngoại, cho biết trước đây có vài người ở TP.HCM xuống đọc dịch mộ bia cụ, nhưng không hiểu sao, tên đường vẫn bị ghi sai họ.
Dân gian chỉ biết Đặng Văn Thạnh qua các giai thoại và một số tác phẩm thơ văn và câu đối của ông, còn chuyện ông làm tình báo cho triều đình Huế, tổ chức vận chuyển vũ khí vào Nam cho quân khởi nghĩa cũng còn nhiều vấn đề chưa có điều kiện làm rõ. Nhưng việc ghi sai họ Đặng Văn Thạnh thành Lê Văn Thạnh hoặc Nguyễn Văn Thạnh ở một số con đường là việc có thể chỉnh sửa ngay được.                                
Hoàng Phương - Ngọc Phan

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA ĐẸP VÀ SÀNH ĐIỆU NHƯ THẾ NÀO?

Váy suông, bó sát, váy xòe… du nhập vào các đô thị miền Nam những năm 60, 70 và nhanh chóng được phụ nữ đón nhận. Nhiều người đến Sài Gòn lúc ấy đều ngạc nhiên về nét đẹp hiện đại và ăn mặc hợp mốt của những quý cô thành thị. Thời trang của phụ nữ Sài Gòn xưa Phụ nữ Sài Gòn – Đi về phía trước
Đôi mắt to sáng lấp lánh, khuôn miệng nhỏ xinh lanh lợi và đôi má bầu bĩnh là nét đẹp
đặc trưng của thiếu nữ Sài Gòn xưa. Đội thêm một chiếc mũ bê rê được ưa chuộng
thời điểm này làm tăng nét cá tính cho cô gái trẻ. Phong cách của người phụ nữ xinh đẹp trong bộ váy xòe chấm bi bồng bềnh, thắt
eo gọn cùng kiểu tóc sang trọng vẫn không hề lỗi mốt cho đến bây giờ. Nữ sinh lớp Đệ Tam (tương đương lớp 10) trường Quốc Gia Nghĩa Tử, Sài Gòn năm 1968. Áo dài nữ sinh trên đường Lê Lợi, đoạn trước Công ty xe hơi Kim Long
(bên cạnh thương xá Tax) năm 1965. Phụ nữ Sài Gòn năm 1963. Thời đó, vào mỗi chiều cuối tuần,
phụ nữ Sài Gòn thường đi dạo, bát phố trên đường Lê Lợi, Tự Do. Ảnh chụp vào tháng 12 năm 1967.

CHÂN DUNG CÁC MỸ NHÂN SÀI GÒN TRÊN BÌA TẠP CHÍ VIỆT NAM TRƯỚC 1975

Cùng nhìn lại ảnh của các “hotgirl” Sài Gòn để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng những năm tháng cũ ấy. Tạp chí “Vietnam” là ấn phẩm quốc tế được phát hành ở Sài Gòn trước năm 1975 và có rất nhiều trang bìa chụp các người đẹp nổi danh khi ấy của đất phương Nam. Có thể kể đến những cái tên như ca sĩ nổi tiếng Phạm Thị Hiếu, hotgirl Sài Gòn Nguyễn Thi Kim Anh hay nữ nghệ sĩ Bạch Lan Thanh đều góp mặt ở đây. Hãy cùng nhìn lại các mỹ nhân thời xưa để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng của những năm tháng cũ ấy. Túy Phượng Nguyễn Thị Túy Phượng – người nhận được giải thưởngtrang phục đẹp nhất tại Liên hoan nhạc Pop tổ chức tại Sài Gòn ngày 30/1/1972. Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu, cùng tuổi với các nữ tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui và nữ nghệ sĩ Bích Sơn. Ở tuổi 14, 15 Túy Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai diễn nhí nhảnh, hồn nhiên. Đến tuổi 16, 17, khi nghề nghiệp đã định hình, diễn xuất có chiều sâu, Phượng thu hút người xem tr…

Vị bánh cuốn gốc Bắc hơn nửa thế kỷ ở Sài Gòn

Dĩa bánh nóng hổi, thơm phức được tráng theo công thức truyền thống của một gia đình gốc Bắc di cư vào Sài thành từ những năm 50.

Bánh cuốn là món ăn có tiếng ở miền Bắc, đặc biệt là đất Hà thành. Từ thôn quê, thứ bánh dân dã len lỏi vào giữa phố xá, trở thành món "ruột" của người thành thị. Không rõ món ăn này du nhập vào Sài Gòn chính xác từ khi nào, tôi chỉ biết trong một con hẻm nhỏ có quán bánh cuốn do một gia đình gốc Bắc lập ra, từ khi vào Sài Gòn ngót nghét hơn 63 năm trước. Quán bánh tên Song Mộc, mở cửa chính xác vào năm 1954. Những túp lều xanh cạnh bên những tán cây tại quán Song Mộc. Ảnh: Phong Vinh. Bánh cuốn ở quán luôn nóng hổi vì người đứng bếp chỉ tráng bánh khi có khách. Lớp bánh được tráng chín tới, có độ mỏng vừa phải, mềm dai nhưng không dễ rách. Nhân bên trong không mướt như thường thấy mà hơi khô, được nêm nếm theo công thức gia truyền nên có vị khác lạ. Sau khi bánh cuốn nhân xong thì được xếp gọn ghẽ trên dĩa, rắc thêm một nhúm hành phi giòn, vàng …