Thứ Bảy, 3 tháng 11, 2018

Bảo tồn nghề đan nón lá

Nghề đan nón lá của đồng bào dân tộc Tày
Chiếc nón lá của đồng bào dân tộc Tày có từ bao giờ không ai rõ. Chỉ biết rằng cứ đời này qua đời khác, chiếc nón là vật không thể thiếu trong văn hóa cũng như đời sống hàng ngày của đồng bào dân tộc Tày ở Tân An, huyện Chiêm Hóa (Tuyên Quang).


Bà Ma Thị Lống, 64 tuổi, thôn Tân Thịnh, xã Tân An, huyện Chiêm Hóa đang hơ lửa lá cọ - công đoạn quan trọng trong việc đan nón là dân tộc Tày. Ảnh: Văn Tý-TTXVN

Bà Ma Thị Lống, 64 tuổi, thôn Tân Thịnh, xã Tân An cho biết: Khi cô dâu về nhà chồng, ngoài những lễ vật mang theo như, chăn, màn, chậu, chiếu...còn có chiếc nón lá. Người Tày quan niệm, chiếc nón là vật để trao duyên của người con gái với người con trai với ngụ ý muốn chăm sóc người con trai đến “đầu bạc, răng long”. Bên cạnh đó, chiếc nón còn thể hiện sự khéo léo, duyên dáng của cô gái Tày. Cũng chính bởi những ý nghĩa đó mà việc làm nón đòi hỏi sự khéo léo, tỉ mỉ.
 
Những người biết làm nón Tày ở Xã Tân An, huyện Chiêm Hóa còn rất ít, chủ yếu các cụ cao tuổi. Ảnh: Văn Tý-TTXVN

Bà Lống chia sẻ, để làm được một chiếc nón phải mất từ 4 - 6 ngày. Cách làm cũng công phu hơn so với nón của người Kinh, từ khâu chọn lá, tạo khuôn, đan nón đều phải đúng tiêu chuẩn mới có được một chiếc nón đẹp. Lá cọ được chọn để làm nón phải là lá bánh tẻ. Lá lấy về sẽ được hơ qua lửa rồi đem phơi sương 2 - 3 đêm cho lá khô và phai hết màu xanh. Lá càng trắng làm nón càng đẹp. Mỗi chiếc nón gồm hai phần, phần ngoài được xếp theo hình chóp từ 2 - 3 tàu lá cọ đã được phơi khô, phần bên trong là những sợi lạt tre nhỏ được đan cầu kỳ thành các mắt hình lục giác đều. Bước này rất khó, các mắt hình lục giác càng nhỏ nón càng đẹp và bền. Sau đó, hai phần được ép chặt vào nhau bằng những vòng guột (hoặc tre) màu sậm và buộc chặt bằng lạt giang. Chính bởi vậy, độ bền của chiếc nón lá do người Tày làm gấp nhiều lần so với nón của người Kinh.
 
Sự tỉ mỉ khéo léo của người thợ thể hiện qua các mắt hình lục giác trên nón.
Ảnh: Văn Tý-TTXVN

Có lẽ chính bởi sự tỉ mỉ, kỳ công như vậy mà chiếc nón dân tộc Tày ngày càng ít, người biết làm nón lá chỉ còn các cụ cao tuổi. Bà Đinh Thị Tình, 56 tuổi, thôn Tân Thịnh tâm sự: Hiện trong thôn có 100% dân số là người Tày nhưng chỉ có 2-3 người biết làm nón. Hơn nữa, người biết làm đều là người già, trẻ nhất cũng đã gần 50 tuổi.

Trước thực trạng nghề làm nón lá của người Tày có nguy cơ bị mai một, bà Trần Thị Thanh Tâm, Trưởng phòng Văn hóa, Thông tin huyện Chiêm Hóa cho biết: Phòng đã xây dựng các phương án bảo tồn nghề làm nón của người Tày. Đồng thời chỉ đạo các xã, thôn, bản lên kế hoạch phục dựng các làng nghề truyền thống như thêu, dệt vải, đan lát, đặc biệt là nghề đan nón lá của người Tày. Thời gian tới, Phòng Văn hóa, Thông tin huyện Chiêm Hóa tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phối hợp với những người biết làm nón để tổ chức truyền dạy, qua đó lưu giữ và phát huy được văn hóa truyền thống của dân tộc Tày.

Giữa những thay đổi của cuộc sống, những người như bà Lống, bà Tình vẫn cần mẫn giữ cho chiếc nón truyền thống của đồng bào vẹn nguyên giá trị. Mong rằng, tâm huyết ấy sẽ sớm được thế hệ trẻ kế thừa, để từ đó không chỉ nón lá của người Tày mà nhiều nét đẹp văn hóa của đồng bào các dân tộc sẽ được tồn tại và phát triển.
Nguyễn Văn Tý 
Đặc sắc nón lá của dân tộc Lô Lô đen
Nón lá của dân tộc Lô Lô đen ở huyện Bảo Lạc (Cao Bằng) không chỉ là vật dụng gắn bó mật thiết với người dân trong sinh hoạt, lao động hằng ngày mà còn là sản phẩm thủ công độc đáo, thể hiện bàn tay tài hoa, trình độ thẩm mỹ của nghệ nhân, mang nét đặc trưng văn hóa của người Lô Lô nơi đây.
Nón lá của dân tộc Lô Lô đen là một nghệ thuật tạo hình mang đậm bản sắc văn hóa của dân tộc.
 

Dây mây là nguyên liệu chính để làm nón lá của dân tộc Lô Lô. Mây được lấy từ những vùng núi cao, thường người ta chọn những thân mây chắc, khỏe, dóng đều và cứng về làm sạch, sau đó chẻ thành nan. Tiếp đến, người Lô Lô lấy lõi cành hoa của một loại cây gần giống cây moóc (tiếng địa phương là "rò xí"), tách thành sợi như sợi cước, phơi khô.

Nón lá của phụ nữ dân tộc Lô Lô đen gọi là "hú tế". Nón có đường kính khoảng 50 cm, hình hơi khum. Ở mặt trên từ đỉnh chóp nón có 5 sợi nan mây gập đôi và kết lại với nhau, rồi chia đều từ đỉnh nón kéo hình dẻ quạt làm trục chính. Sau đó dùng các sợi nan đan lại với nhau tạo mắt lưới hình ngũ giác nhỏ, đan theo vòng tròn đồng tâm từ đỉnh chóp xuống khoảng 20 cm thì bắt đầu dùng nan trúc vót tròn, uốn cong làm 2 nẹp và dùng "rò xí" buộc lại. Sau đó, dùng nan mây đan mắt kín hình dấu cộng chạy theo vòng tròn, có độ rộng khoảng 5 cm.

Ở mặt trong của nón lót một lớp lá cây mai (họ cây tre, có lá to bản) đã phơi khô. Để tránh mưa thấm, người thợ còn lót thêm một lớp ni lông, sau đó dùng nan mây đan một lớp lưới mắt ngũ giác đúng khuôn của mặt trên nón và ép vào để lá mai được gắn cố định. Từ đỉnh chóp, các thanh nan dọc được nẹp vào tỏa đều ra vành nón, được buộc giữ với nhau bằng các nan trúc tròn tạo tia như mặt trời. Điều đặc biệt, nhiều thanh nan dọc được làm từ trúc đen - loại trúc mọc ở các vùng núi trên 1.300 m, nơi có độ ẩm cao, thân trúc sau khi khô vẫn giữ màu đen bóng, rất hiếm và được dân tộc Lô Lô đen ưa chuộng. Phía trong mặt nón còn được trang trí bằng chiếc cánh của con cánh cam, hoặc lấy một số mảnh gương cài vào tạo sự phản quang khi có ánh sáng chiếu vào nón.

Còn nón lá của đàn ông dân tộc Lô Lô gọi là "hú chòa" cũng có hình dáng tương tự như nón của nữ nhưng được làm đơn giản hơn. Mặt trên nón được đan mắt lưới hình ngũ giác, to bằng hạt ngô đều vành nón rồi nẹp lại bằng các thanh nan trúc hình tròn. Mặt trong của nón không có hoa văn sặc sỡ.

Để sơn nón, người Lô Lô đen lấy vỏ cây trẩu về cạo màng bên ngoài và giã nhuyễn rồi cho vào nồi nấu. Sau đó, lọc lấy nước, đun tiếp đến khi cô đặc thành chất dầu sền sệt, có màu vàng nhạt. Dầu sau khi để nguội mới quét lên nón. Nón quét dầu trẩu trở nên óng ả như bôi một lớp sơn, vừa đẹp mắt, đồng thời có tác dụng chống nước, mối mọt. Dây nón được se từ chỉ hoặc len nhiều màu, buộc 4 góc làm quai và buông thõng 2 tua dài để trang trí. Đàn ông Lô Lô đen khi đội nón thì móc quai ra sau gáy, còn phụ nữ Lô Lô đen đầu được đội khăn cuốn rất cầu kỳ, tiếp đến mới đội nón lá trông rất đẹp mắt.  Có lẽ chính bởi sự tỉ mỉ, kỳ công như vậy mà chiếc nón lá của  dân tộc Lô Lô đen ngày càng ít. Theo ông Chi Viết Hải, xóm Khuổi Khon, xã Kim Cúc (Bảo Lạc), mỗi chiếc nón lá phụ nữ dân tộc Lô Lô đen được làm hơn nửa tháng và có giá trên 1 triệu đồng. Tuy nhiên, hiện nay những nghệ nhân làm được nón lá của dân tộc Lô Lô đen không còn nhiều và tuổi đã cao.
 
Nón lá gắn với trang phục của dân tộc Lô Lô đen là một tác phẩm nghệ thuật tạo hình. Những chi tiết, phụ kiện trên nón đều thể hiện tính thẩm mỹ, sự tinh tế và quan niệm riêng về cái đẹp, cho thấy giá trị văn hóa của cộng đồng dân tộc Lô Lô đen tại Cao Bằng rất phong phú và đa dạng, mang đậm bản sắc dân tộc.
Theo baocaobang.vn
 Nón lá dừa trong đời sống người Co
Đối với đồng bào dân tộc Co, huyện Bắc Trà My (Quảng Nam), chiếc nón lá dừa không chỉ sử dụng như phương tiện che, đội đầu rất hữu ích và thiết thực trong đời sống hàng ngày, những dịp đi xa nhằm đáp ứng trước các hiện tượng mưa, nắng của thiên nhiên, giúp họ trong lao động sản xuất, mà chiếc nón lá dừa còn là nét đặc trưng văn hóa của người Co nơi đây.
Thích ứng với môi trường thiên nhiên
Đồng bào dân tộc Co là cư dân sinh sống lâu đời trên vùng Trường Sơn – Tây Nguyên nói chung dọc trên những triền núi thấp và thung lũng nhỏ thuộc huyện Bắc Trà My. Điều kiện thiên nhiên nơi đây rất khắc nhiệt, nắng nhiều, mưa cũng nhiều. Để thích ứng với môi trường trên, từ lâu người Co đã biết dùng các loại vỏ cây, lá rừng để làm phương tiện che, đội của tộc người mình.

Ngoài ra, đồng bào dân tộc Co Trà My còn tạo ra chiếc nón làm từ lá dừa rừng (nuát xa dlưr) và nó trở thành phương tiện đội rất hữu ích và thiết thực trong đời sống của tộc người mình. Trong gia đình, người đàn ông dân tộc Co nào cũng có một chiếc nón lá dừa để sử dụng. Khi đi làm nương, vào dịp đi thăm anh em, bạn bè, họ hàng ở những làng xa, bao giờ người đàn ông Co cũng mang theo chiếc nón dùng để che nắng, che mưa.

Đàn ông dân tộc Co huyện Bắc Trà My (Quảng Nam) trong trang phục truyền thống với chiếc nón lá dừa.

Khéo léo và công phu

Già làng Hồ Văn Hành, 73 tuổi dân tộc Co hiện đang sinh sống tại thôn 2A, xã Trà Kót, huyện Bắc Trà My (Quảng Nam) cho biết: Để làm được một chiếc nón lá dừa rừng (nuát xa dlưr) rất khó khăn, không phải đàn ông dân tộc Co nào cũng làm được, chỉ có những đàn ông Cor khéo tay mới tạo ra chiếc nón đẹp và hoàn hảo, dẫu rằng không có một quy chuẩn hay về cả kích thước, khuôn mẫu nào định sẵn. Với người Co quê ông, chỉ biết ước chừng làm ra chiếc nón tốn bao nhiêu thời gian.

Theo tìm hiểu của chúng tôi, để tạo ra một chiếc nón đúng tiêu chuẩn thì khâu chuẩn bị nguyên liệu đóng vai trò then chốt. Người đàn ông thường tốn rất nhiều thời gian và công sức để vào rừng tìm mây cám mục và lá dừa rừng. Theo kinh nghiệm, người Co thường khai thác lá dừa rừng không quá già mà cũng không quá non. Mùa khai thác lá dừa rừng là những ngày cuối tháng hoặc vào những dịp không có trăng thì lá dừa sẽ không bị sâu và có độ bền cao.

Khi tìm được lá dừa từ rừng đem về, họ bắt tay vào làm khung xương nón, kích cỡ 40cm x 45cm. Với nghệ thuật đan long mốt, các lỗ nan có dáng hình lục giác. Để tạo dáng và khung đỡ cho chiếc nón, phần rìa và các đường đan được bẻ gập làm cho khung nón không bị bung ra. Khi khung làm xong, họ tiến hành lợp lá, số lượng lá cho một chiếc nón thường từ 2 - 3 lá dừa rừng. Việc tiếp theo là cạp vành bằng kỹ thuật rút vành trong cho đến vành ngoài. Để giữ cho nón cố định, người Co đan thêm gờ hình tròn, đường kính khoảng 10cm bằng mây ở chính giữa nón để giữ cho nón có độ thăng bằng thích hợp và mỗi khi đội không bị lệch, cuối cùng là làm quai nón thường bằng dây rừng hoặc dây mây vót nhỏ đan theo lối long mốt tạo cho dây quai nón có dáng hình xoắn rất chắc chắn.

Hình ảnh thân quen của đồng bào Co

Có thể nói, từ lâu chiếc nón lá dừa đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người Co nơi đây. Qua thời gian đã có sự chuyển biến và ảnh hưởng lẫn nhau nhưng dẫu rằng trong điều kiện hội nhập như hiện nay, do có sự giao lưu văn hóa vùng miền của các dân tộc sống cận cư trong vùng diễn ra mạnh mẽ, đã và đang làm cho những yếu tố văn hóa cổ truyền của đồng bào dân tộc Co huyện Bắc Trà My đang bị mai một, nhưng với chiếc nón lá dừa nó luôn là vật dụng không thể thiếu trong đời sống hàng ngày, trong lao động sản xuất, những dịp đi xa mà nó còn là hình ảnh thân quen lưu lại trong ký ức của người Co nơi đây.

Nếu có dịp đến với các bản làng của đồng bào dân tộc Co vào cuộc sống hàng ngày, thì chiếc nón lá dừa không chỉ được người đàn ông Co sử dụng như một người bạn mà nó còn là một tập quán sinh hoạt rất phổ biến của đồng bào vùng cao huyện Bắc Trà My (Quảng Nam) trong lao động sản xuất, vào dịp lễ hội truyền thống.
 
Nguyễn Văn Sơn (Theo Langvietonline
Nón lá của người Tày, Nùng Cao Bằng
Trải qua nhiều năm tháng, chiếc nón lá của dân tộc Tày, Nùng (Cao Bằng) vẫn giữ được nét độc đáo và những dấu ấn văn hóa truyền thống.
Thiếu nữ Tày duyên dáng với chiếc nón lá của dân tộc.
 
Đan nón lá là nghề cổ truyền của dân tộc Tày, Nùng Cao Bằng. Đan nón biểu hiện sự khéo tay, đức tính chăm chỉ, cẩn thận từ việc chuốt từng nan tre, trúc; chọn từng chiếc lá, việc phối màu cho từng loại nón của người phụ nữ Tày, Nùng xưa. 

Sản phẩm của nghề đan nón là những chiếc nón lá dùng để đội đầu che mưa, che nắng, phục vụ sinh hoạt trong đời sống thường nhật. Nguyên liệu chủ yếu để làm nón là tre, trúc, lá cây chít hoặc lá mai. Chiếc nón được chế tác theo nhu cầu, mục đích  sử dụng;  muốn đan loại nón nào,  người thợ đan sẽ chẻ lạt, chọn lá cho phù hợp với kiểu dáng. Với những chiếc nón chỉ đơn thuần để đội đi làm đồng thì nan lạt chỉ cần một màu nguyên bản của màu tre,  trúc. Còn những chiếc nón dành cho thanh niên dùng để đội khi đi chợ hội, đi hát giao duyên, nón của cô dâu đội trong ngày cưới thì trang trí cầu kỳ, đan có hoa văn. Người ta đã dùng củ nâu (cho màu nâu đỏ), lá dứa dại (cho màu xanh), vỏ cây vang (cho màu hồng, màu đỏ)… nhuộm lạt rồi mới đan. Công việc đan nón được tiến hành quanh năm, nhưng phổ biến nhất là vào các dịp nông nhàn; hầu như gia đình nào cũng biết đan nón, nên sản phẩm chủ yếu là tự cung, tự cấp.    
    
Nón lá của người Tày, Nùng trở thành sản phẩm du lịch.
 
Nón lá của người Tày, Nùng có nhiều loại, như: Chúp chọp (nón chóp), Chúp slâng (nón bè như cái sàng), Chúp Vja (nón đan có hoa văn, hoặc nón kết hoa), Chúp tha bẻ (nón có hoa văn tròn như mắt con dê)… Chính sự tự nhiên với dáng vẻ hoang sơ, đơn giản của những chiếc nón lá, với  kỹ sảo đan lát độc đáo tạo nên kiểu dáng riêng của từng chiếc nón, loại nón và chứa đựng các yếu tố văn hóa của cộng đồng người Tày, Nùng, của từng vùng quê.

Hiện nay, nghề đan nón còn được nhiều người làm tại các bản: Lạc Riển, xã Hồng Định (Quảng Uyên); các xã Đức Thông, Canh Tân, Minh Khai (Thạch An). Nón lá của người Tày, Nùng cũng đã trở thành một sản phẩm được nhiều du khách tìm mua làm kỷ niệm khi  đến tham quan, du lịch, tìm hiểu về  Cao Bằng.
Lưu giữ, bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa chứa đựng trong từng chiếc nón và nghề đan nón của người Tày, Nùng cũng chính là góp phần bảo tồn, gìn giữ các giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc, của từng vùng miền.
 
Hoàng Thị Nhuận

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét