Chủ Nhật, 4 tháng 11, 2018

Chiếc gùi trong đời sống cư dân các dân tộc thiểu số

Gùi có nắp của người M’nông
Gùi là vật dụng gần gũi, phổ biến không thể thiếu trong lao động sản xuất và trong sinh hoạt hằng ngày của dân tộc M’nông nói riêng, cộng đồng dân tộc Tây Nguyên nói chung. Trong đó, gùi có nắp dùng để đựng của quý như: nhạc cụ, trang sức, quần áo,…
Người M’nông đan gùi mới

Đối với gùi thông dụng như gùi lúa, gùi củi…, người đàn ông nào cũng đan được, nhưng riêng gùi có nắp phải là nghệ nhân có tay nghề rất giỏi và có cách đan hơi khác, đan theo khối hình trụ tròn, nắp khum tròn chóp nón. Người thợ giỏi có thể đan hai lớp nan, đan nan nổi, đan cải nan nhuộm màu,… đều được. Trên nắp gùi người ta đan các dải hoa văn theo lối kép gồm hai đường viền khác nhau chạy song song đều đặn. Việc tạo hoa văn trên gùi có nắp không phải bằng cách quét sơn lên sau khi sản phẩm đã hoàn tất, mà tiến hành đồng thời trong khi đan. Các nan màu đen, màu đỏ theo ý đồ của người nghệ nhân, sẽ được nhuộm trước, sau đó lần lượt cài vào và sẽ hiện dần trên sản phẩm. Những chiếc gùi có hoa văn giá trị đổi chác hoặc gìn giữ đều cao hơn hẳn gùi thường và dùng cất giữ vải vóc, váy áo, mền đắp, đồ trang sức, các vật dụng quý trong gia đình. Vì vậy, trong một bon chỉ có một hoặc hai người biết đan, thậm chí không có phải trao đổi các tài sản khác như lúa, heo, bò để đến đổi gùi đưa về nhà sử dụng.

Để đan một chiếc gùi hoàn chỉnh, người nghệ nhân phải tỉ mỉ, kiên nhẫn và mất khá nhiều thời gian (từ 15 đến 30 ngày). Trước hết phải vào rừng tìm kiếm nguyên vật liệu, chủ yếu là cây mây, lồ ô thẳng, đẹp, không quá già cũng không quá non rồi chặt thành từng đoạn, ngâm dưới nước suối qua lớp bùn cho đủ độ dẻo, công đoạn tiếp theo là chẻ lạt, lạt cũng cần phải trơn nhẵn, đều đặn để có độ kín và tạo hoa văn trên thân gùi. Công đoạn này rất quan trọng nó thể hiện tài năng khéo léo, óc thẩm mỹ và kinh nghiệm lâu năm của người đan. Những sợi lạt tạo hoa văn được để riêng, chúng được vót trước khi bắt tay vào làm gùi. Gùi được dựng khung bằng những chiếc nan thẳng đứng trước, sau đó đan từ dưới lên. Tới miệng nẹp thêm thanh tre để lâu trên gác bếp đã chuyển sang màu nâu hơ nóng cho dễ uốn thành vòng tròn quanh miệng gùi, buộc chéo những sợi mây chẻ nhỏ cho chắc chắn, sau cùng mới làm đế.

Người M’nông theo tín ngưỡng đa thần (vạn vật hữu linh), họ cho rằng tất cả mọi vật dụng sinh hoạt hằng ngày đều có một vị thần cư ngụ và cai quản. Vì vậy, chiếc gùi do tự tay đan, trao đổi hoặc mua về đều phải tiến hành làm lễ cúng thần, lễ vật hiến sinh thường là một ché rượu cần nhỏ và một con gà trống tơ. Người chủ nhà đứng ra làm lễ cúng và lấy huyết con vật hiến sinh đã pha với rượu bôi lên miệng gùi để mời thần linh về dự và phù hộ cho gia đình khỏe mạnh, của cải dồi dào, làm ăn phát đạt,…

Ngày nay trong mỗi gia đình gùi không còn phổ biến do quá trình đô thị hóa, cách sống và sinh hoạt với những vật dụng hiện đại đã và đang thay thế những sản phẩm thủ công, đồng thời thế hệ trẻ không còn mặn mà học và tiếp nối truyền thống cha ông. Gùi đựng có nắp hay các loại gùi thông thường khác đang mai một, mất dần và trở nên thực sự quý hiếm.
Theo baodaknong.org.vn
Chiếc gùi trong đời sống của đồng bào Cơ-Tu
Từ lâu, chiếc gùi (dông) không chỉ là vật dụng quen thuộc trong sinh hoạt thường ngày mà còn là một nét văn hóa độc đáo của đồng bào Cơ-tu.
Già Tongol Oi ở thôn Công Dồn, xã Zuôih, huyện Nam Giang (Quảng Nam) với các loại gùi do già tự đan

Gùi của đồng bào Cơ-tu có trên 10 loại với nhiều mẫu mã khác nhau như: h’đool (dùng để đựng lúa), pr’eng (dùng đựng rau, củ, quả), p’rôm (dùng đựng trang sức, thổ cẩm), adong kiêr (gùi sắn), adong mặt (gùi củi), achuy (gùi thịt, cá), tàlét (dành cho đàn ông đựng dụng cụ cần thiết khi đi làm rẫy, đi săn…), t'mòi (dành cho phụ nữ chuyên mang quà hoặc khi múa "tung tung dá dá" trong lễ đâm trâu, lễ ăn cơm mới)…

Đàn ông Cơ-tu đan gùi truyền thống

Tùy vào mục đích, người Cơ-tu dùng gùi to hay nhỏ, vành kín hay hở, đẹp hay xấu…

Chiếc gùi không chỉ là vật dụng có ích trong lao động mà còn được sử dụng
như một đạo cụ trong các lễ hội truyền thống

Gùi được đan công phu bằng mây cám, mây ró và mây song. Dây mang gùi được đan bằng mây xà phun, mây song hoặc bằng loại cây rừng có tên bhơnương. Khi không dùng, gùi được treo trên gác bếp. Vì vậy, gùi có màu cánh kiến, chắc bền và không bị mối mọt hay ẩm mốc…

Phụ nữ Cơ-tu thường mang gùi mỗi khi lên nương, rẫy
Sơn Gia Phúc
Chiếc gùi trong đời sống của người Ê đê
Chiếc gùi có mặt trong đời sống của người Ê đê từ bao đời nay, đã trở thành một vật dụng rất đỗi thân quen, chia sẻ mọi niềm vui, khó nhọc trong sinh hoạt, sản xuất hàng ngày...
Theo ông Ma Gun, Trưởng buôn Buôr, xã Tâm Thắng (Chư Jút) thì chiếc gùi không biết có từ bao giờ, chỉ biết rằng ngay từ khi còn bé, mỗi lần đi rẫy, mẹ lại bỏ ông vào trong gùi mang theo. Lớn hơn một chút, ông được bố đan cho chiếc gùi nhỏ để tập mang, giúp cơ thể thêm cứng cáp, làm quen với cuộc sống lao động. Ðến khi trưởng thành, ông lại mang gùi lớn để cùng bố mẹ lên nương, lên rẫy, vào rừng kiếm củi. Và cứ thế, ông lớn dần theo năm tháng cùng với chiếc gùi.


Còn chị H’Rách, ở buôn Trum, xã Tâm Thắng cũng cho biết, nếu như người phụ nữ Kinh có quang gánh thì người phụ nữ Ê đê đi đâu cũng mang gùi. Hình ảnh người đàn ông đi trước mang chiếc xà gạc, còn người phụ nữ theo sau mang gùi là nét đặc trưng đối với dân tộc Ê đê. Ngay trong những lời bài hát, những tiết mục văn nghệ  đều có hình ảnh của chiếc gùi.

Theo già Y Ðloi ở buôn Buôr, gùi cũng là vật dụng không thể thiếu trong các dịp lễ hội của người Ê đê. Mỗi khi cúng thần lúa, cúng bến nước, đồng bào thường đặt một chiếc gùi ở gần bàn thờ để đựng đồ cúng gồm thịt heo, thịt gà,  tấm thổ cẩm. Ðặc biệt, trong lễ cúng bến nước luôn có 7 người phụ nữ mang gùi múa tượng trưng bên bàn lễ.
 
Chiếc gùi không chỉ là vật dụng đựng đồ vật thuần túy mà còn là sản phẩm trang trí, thể hiện óc thẩm mỹ và bàn tay khéo léo của người chế tác. Ông Y Huôt Bya, một nghệ nhân đan gùi ở buôn Nui, xã Tâm Thắng cho biết, gùi thường có miệng hình tròn, dáng vuông và nhiều kích cỡ. Với mỗi kích cỡ lại có đối tượng sử dụng và công dụng khác nhau như: gùi nhỏ cho trẻ con, gùi lớn cho người trưởng thành, gùi trong các tiết mục văn nghệ, gùi dành cho việc cúng lễ. 
 
Ðể đan được một chiếc gùi mất khá nhiều thời gian và đòi hỏi sự tỉ mỉ, kiên nhẫn của người làm. Trước hết là phải vào rừng tìm kiếm nguyên vật liệu, chọn những cây mây, lồ ô thật thẳng, đẹp, không quá già cũng không quá non. Sau đó, chặt mây thành từng đoạn, chẻ lạt và vót cho thật nhẵn rồi ngâm trong bùn cho đủ độ dẻo, vót 4 trụ bằng nứa cho đúng kích thước và bằng nhau. Quan trọng nhất và công đoạn làm đế, đế có đều, đẹp và chắc chắn, gùi mới sử dụng được lâu, nguyên liệu làm đế là gỗ cây cóc rừng. Sau khi làm được đế thì đến công đoạn làm thân gùi, có thể theo hình thoi hoặc tròn. Cuối cùng là công đoạn làm dây gùi, thường làm bằng vỏ cây rừng hoặc mây.

Cũng theo ông Y Huôt Bya thì hiện nay, cuộc sống của người Ê đê đã thay đổi rất nhiều, có nhiều phương tiện hiện đại để vận chuyển nông sản, hàng hóa. Trong khi, việc đan gùi khá công phu và mất nhiều công sức nên hiện tại người biết đan gùi còn rất ít, nhất là thế hệ trẻ cũng không còn mặn mà với công việc này. Tuy nhiên, điều đáng mừng là các cấp chính quyền, ngành văn hóa địa phương cũng đã có sự quan tâm đến việc bảo tồn những giá trị, bản sắc văn hóa của đồng bào các dân tộc thiểu số. Thông qua đó, các lớp học đan gùi cũng đã được tổ chức ở một số buôn làng để truyền dạy cho thế hệ trẻ biết được nét đẹp truyền thống của dân tộc mình. Với những nỗ lực đó, hy vọng, dù cuộc sống có hiện đại, thay đổi bao nhiêu đi chăng nữa thì những chiếc gùi mang đầy ý nghĩa văn hóa sẽ được thế hệ trẻ người Ê đê trân trọng, giữ gìn .
 
Báo Đắk Nông
Con trai Gia Rai biết đan gùi không lo 'ế vợ'
ồng bào dân tộc thiểu số tại Tây Nguyên vẫn sống theo chế độ mẫu hệ, tức là con gái đến tuổi lập gia đình sẽ đi “bắt chồng”.
Theo truyền thống của dân tộc Gia Rai, điều kiện để lập gia đình là con gái phải biết dệt và con trai phải biết đan lát. Nếu không biết đan lát, con trai sẽ bị “ế” và không được bắt về làm chồng.
 
Một nghi thức trong đám cưới truyền thống của đồng bào Gia Rai theo phong tục Mẫu hệ. Ảnh: Thanh Hà/TTXVN

Nghệ nhân đan lát A Bư ở làng Rắc, xã Ia Xiêr, huyện Sa Thầy (Kon Tum) cho biết: Con trai trong làng đến tuổi lập gia đình luôn cố gắng đan được chiếc gùi, cái nia để làm vật phẩm sang nhà vợ. Hiện nay, làng Rắc chỉ còn vài người gắn bó với nghề đan lát và còn lưu giữ được cách làm gùi hai lớp - nét riêng của đồng bào dân tộc Gia Rai ở tỉnh Kon Tum.

Khác với gùi một lớp của một số dân tộc ở Tây Nguyên, gùi hai lớp của người Gia Rai được thiết kế rất công phu từ việc lên rừng chặt cây về chẻ, vót, uốn cho đến sơn các thanh tre, nứa để trang trí hoa văn họa tiết trên gùi, công năng sử dụng đa dạng hơn.

Nghệ nhân A Bư cho biết: Làm gùi hai lớp mất nhiều thời gian và công sức, người đan gùi phải có sự đam mê. Hiện nay, do có nhiều vật dụng khác thay thế, ít người dùng đồ đan lát. Những chiếc gùi do A Bư làm chủ yếu phục vụ khách du lịch đặt làm quà lưu niệm.

Ở làng Rắc, A Niếp cũng đan gùi hai lớp rất giỏi. Nghệ nhân A Bư và A Niếp thường xuyên trao đổi và sáng tạo những họa tiết mới cho chiếc gùi hai lớp được đẹp hơn.

Theo nghệ nhân A Bư, trong nghề đan lát, đan lát gùi là khó nhất, vì để đan được chiếc gùi, đòi hỏi người làm phải có óc thẩm mỹ, tỉ mỉ, cẩn thận đến từng chi tiết. Theo nghệ nhân A Bư, người Gia Rai có hàng chục loại gùi với kiểu dáng, kích cỡ, công dụng khác nhau, tùy từng loại mà sử dụng nguyên vật liệu khác nhau và cách làm cũng không giống nhau. Một cái gùi hai lớp cao khoảng 60 cm, đường kính 30 cm có giá bán 1,5 triệu đồng.

Đây là loại gùi thân tròn, có hai lớp, ở giữa hai lớp được lót bằng ni lông tránh nước. Để đan được loại gùi này, đòi hỏi phải có tay nghề cao. Gùi hai lớp được chia thành nan dọc và nan ngang (nan ngang nhỏ hơn nan dọc), đan nan ngang với các mắt dày khít với nhau nên rất tốn thời gian.

Đặc biệt loại gùi này được đan bằng cây giang nên rất bền và không thấm nước. Gùi hai lớp được dùng để đựng quần áo, thức ăn, gùi có nắp đậy kín nên giữ được đồ đạc khô ráo. Vào mùa mưa, khi đi làm nương rẫy, đồng bào Gia Rai thường mang theo gùi đựng thức ăn và quần áo.

Để đan gùi hai lớp, công đoạn khó nhất là là đan đáy gùi, công đoạn này phải làm cẩn thận và để ý, nếu đan không đúng đường sẽ phải tháo ra đan lại từ đầu. Một chiếc gùi hai được nghệ nhân A Bư bán với giá từ 1,5-3 triệu đồng/ chiếc.

Thỉnh thoảng các cửa hàng thủ công mỹ nghệ trên địa bàn tỉnh Kon Tum đặt làm cho khách du lịch. Mới đây, nghệ nhân A Bư đã hoàn thành việc đan 20 chiếc gùi hai lớp nhỏ với giá 1 triệu đồng/chiếc theo hợp đồng của khách du lịch.

Già A Niếp, nghệ nhân đan lát làng Rắc, xã Ia Xiêr chia sẻ: "Tháng 3/2016, tôi đã được mời xuống Bảo tàng tỉnh Kon Tum để trình diễn nghề thủ công đan lát cho mọi người xem. Thấy nhiều người quan tâm, tìm hiểu văn hóa người Gia Rai, tôi rất vui. Tuy nhiên, hiện nay, nhiều thanh niên trong làng không muốn làm nghề đan gùi này nữa".

Anh A Ir, cán bộ Văn hóa thông tin xã Ya Xiêr cho biết: Làng Rắc chỉ còn hai nghệ nhân A Bư và A Niếp gắn bó nghề đan lát. Hai ông rất mong được truyền nghề cho thế hệ trẻ, gìn giữ nét văn hóa đặc sắc của đồng bào Gia Rai.
 
Hồng Điệp - TTXVN


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét