THẾ TRẬN LÒNG DÂN
Trong dân gian còn lưu truyền câu ca: "Tháng Tám giỗ Cha..." ấy là để nhắc nhở hậu thế luôn nhớ về ngày mất của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn vào mùa thu tháng tám (âm lịch) ngày 20 năm Canh Tý (1300). Đó là thời khắc "Bình Bắc Đại nguyên soái" Hưng Đạo Đại Vương qua đời. Sau khi Ông mất, vua Trần Anh Tông truy tặng: Thái sư Thượng Phụ Quốc Công Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương.
Tượng Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại Vương tại Đền thờ Ngài ở Thôn Vũ Hạ - xã An Vũ - huyện Quỳnh Phụ - tỉnh Thái Bình. Ảnh: Quang Viện
|
Nhân dân ta lập đền thờ ở nhiều nơi để tưởng nhớ công lao to lớn của Hưng Đạo Đại Vương và suy tôn Ngài là Đức Thánh Trần. Với nhân dân Thái Bình, đặc biệt là nhân dân xã An Đồng, An Thái còn ghi nhớ mãi kỷ niệm "Bến Tượng", vì đó không chỉ là niềm tự hào bởi thế trận - lòng dân thành công mà đó còn là tấm lòng cảm kích của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn với nhân dân nơi đây khi voi chiến của Ngài sa lầy, Ngài đã rút gươm chỉ xuống dòng sông mà thề rằng: "Nếu không thắng trận ta sẽ không trở lại bến sông này nữa".
Thuở ấy, Vương triều Trần mà tiêu biểu là Trần Hưng Đạo, vị quốc công tiết chế có nhiều công lao to lớn với dân tộc trong các cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông oai hùng đã đi vào lịch sử, đi vào thế giới huyền thoại trở thành vị "Thánh" được toàn thể nhân dân trên khắp dải đất hình chữ S thờ phụng.
Trong lịch sử cổ đại, hơn bảy trăm năm trước có ghi rằng: lúc đó thế giới đang trong cơn kinh hoàng, khiếp đảm vì giặc Tác-ta (Đế quốc Nguyên - Mông) hung bạo lướt vó ngựa viễn chinh tàn phá hết nước này sang nước khác. Nhưng, khi chúng đặt chân đến miền đất Đại Việt với ngút ngàn bờ bãi dâu xanh, muôn dân hiền lành chất phác, ngẫm tưởng nuốt trôi đất nước nhỏ bé bên bờ biển xanh thỏa mộng bá vương với mùi hôi nồng nặc của đội quân kỵ mã, thì ngay lập tức lũ giặc Tác-ta ấy đã phải kinh hồn, lạc phách trước ý chí chiến đấu và tài nghệ quân sự tuyệt vời của quân dân Đại Việt dưới sự chỉ huy thiên tài của Quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn. Đến nỗi, Trấn Nam vương Thoát Hoan phải chui vào ống đồng có người kéo qua biên ải mới thoát chết.
Đình làng Vũ Hạ xã An Vũ huyện Quỳnh Phụ, nơi phối thờ Quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại vương, tưởng nhớ một thời vùng đất Ngài đã chọn làm Đại bản doanh.
Vốn được dạy dỗ cẩn trọng từ nhỏ nên Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn với tài đức thông minh sẵn có hơn người, xem rộng biết nhiều, văn võ song toàn, chuyên tâm nghiên cứu lục thao tam lược của người xưa, dành cả tâm huyết và hiểu biết để viết các tác phẩm: Binh thư yếu lược, Vạn Kiếp tông bí truyền thư và Hịch tướng sĩ để dạy các tướng cầm quân đánh giặc, khích lệ lòng yêu nước của quân dân Đại Việt. Năm 1258, quân Nguyên - Mông xâm lược Đại Việt lần thứ nhất, Ông được cử chỉ huy các tướng lĩnh điều quân thuỷ bộ bảo vệ vùng biên giới Tây Bắc.
Cuộc kháng chiến lần thứ hai (1285) và thứ ba (1288), Ông được cử làm Quốc công tiết chế, thống lĩnh toàn quân đánh giặc. Đặc biệt, trong cuộc kháng chiến lần thứ hai (1285), khi sự mất còn của nền độc lập nước nhà chỉ còn trong gang tấc, vó ngựa hung tàn Nguyên - Mông chà đạp nhiều miền quê trọng yếu của đất nước, trong đó có cả Kinh thành Thăng Long, hành cung Long Hưng và phủ Thiên Trường, nội bộ quý tộc và quan lại triều Trần lúc bấy giờ đã có người nao núng định cầu hòa với giặc, nhưng Trần Quốc Tuấnvẫn hiên ngang trả lời Đức Vua Trần: "Bệ hạ muốn hàng trước hết hãy chém đầu thần đi đã".
Tài thao lược của Trần Quốc Tuấn nổi bật là tính chủ động và linh hoạt "biết người, biết mình", chủ động điều địch, chủ động đánh địch, "xem xét quyền biến... tuỳ thời mà làm". Câu trả lời của Ông với vua Trần Nhân Tông: "Năm nay đánh giặc nhàn" khi quân Nguyên tiến công xâm lược lần thứ ba (1288), chứng tỏ vị chủ tướng đã biết rõ địch, biết rõ ta, phân tích sâu sắc tình hình thực tiễn và làm chủ được quy luật của chiến trận. Trong cuộc kháng chiến oai hùng bảo vệ non sông gấm vóc Đại Việt của quân dân Nhà Trần, giặc chưa bị đánh lớn mà đã sợ hãi rút chạy, cuối cùng chúng đại bại trên sông Bạch Đằng, tim vẫn đập, chân vẫn run khi chạy qua biên giới về nước.
Nhiều sử gia bình luận rằng: đó là kết quả kỳ diệu của phương pháp dùng binh độc đáo của Hưng Đạo Đại Vương, do vậy, lần đầu tiên trong lịch sử đấu tranh vũ trang của quân dân Đại Việt đã xuất hiện hình thái thế trận của dân chúng đánh giặc ở khắp các xóm làng, kết hợp chiến đấu của quân triều đình với quân các lộ và dân binh, tiêu diệt địch trong những trận lớn, xây dựng một thế trận rộng mà sâu, mạnh mà vững, luôn luôn chủ động, luôn luôn tiến công, tạo nên sức mạnh to lớn, chiến thắng quân thù. Sử cũ còn ghi: năm 1258, sau khi đã gieo rắc sự tàn phá, chết chóc khủng khiếp khắp châu Á sang châu Âu, đế quốc hung tàn trên lưng ngựa Nguyên - Mông cho hàng vạn kỵ binh thiện chiến tràn qua biên giới, tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt lần thứ nhất.
Dấu tích của Bến Tượng, nơi con voi chiến của Hưng Đạo Đại vương sa lầy.
Quân đội nhà Trần dồn lên chống giặc, biên cương máu chảy, khắp vùng biên ải vang tiếng gươm khua và tiếng hô vang dội của quân dân nhà Trần cùng nhau cứu nước. Những trận chiến ác liệt không làm nguôi ý chí tự cường bảo vệ biên cương. Lúc này, Trần Quốc Tuấn được vua Trần giao nhiệm vụ chỉ huy các tướng lĩnh điều quân thuỷ bộ bảo vệ vùng biên giới Tây Bắc. Những trận chiến khó quên, đến nỗi nhiều năm sau, khi về bái yết tổ tông nhà Trần ở Long Hưng, vua Trần Nhân Tông còn thốt lên đầy sảng khoái:
"Bạch đầu quân sĩ tại
Vãng vãng thuyết Nguyên Phong"
Dịch là:
Người lính già đầu bạc
Kể mãi chuyện Nguyên Phong
(Nguyên Phong là niên hiệu của vua Trần Thái Tông, đây muốn chỉ cuộc kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ nhất vào năm Nguyên Phong thứ 7, theo dương lịch là năm 1258).
Nhưng, thế giặc đang mạnh, quân hung nô tàn bạo còn hăng máu "ăn tươi, nuốt sống", vua Trần vì muốn muôn dân trăm họ ít tổn hao, thương vong nên dùng kế bỏ đất, lùi dần. Cuối cùng, trước thế giặc ngông cuồng tàn bạo, vua tôi nhà Trần buộc phải bỏ cả kinh thành Thăng Long lùi về phòng ngự ở hạ lưu sông Hồng, trong đó có Long Hưng (Thái Bình nay). Tình thế hiểm nguy, nhưng chỉ sau 9 ngày, quân đội nhà Trần đã tập hợp được một đội quân hùng hậu lấy từ các đinh tráng khỏe mạnh trong các làng quê nhờ chính sách "ngụ binh ư nông".
Long Hưng - Kiến Xương được thiên nhiên ban tặng cho những con sông vòng tay ôm trọn. Ngã ba sông Luộc, nơi giao tiếp của cả hệ thống sông hạ lưu đó có vị trí vô cùng quan trọng được nhà Trần chú ý. Đây cũng là nơi gặp gỡ của các phủ lộ quan trọng như: Khoái Châu (Hưng Yên), Lộ Hồng (Hải Dương), Thiên Trường (Nam Định). Thế trận có thể từ ngã ba Luộc dễ dàng vòng lên phía bắc, hoặc vòng xuống phía nam bằng những luồng lạch sông, biển. Thời đó, giữa dòng Luộc cuộn trào đã nổi lên những bãi đất lớn, thuận tiện cho việc phục binh để khóa con đường tháo lui của quân giặc.
Từ thực tế chiến trận lần thứ nhất, nhà Trần đã khẩn trương cho thiết lập căn cứ phòng tuyến quy mô lớn ở Long Hưng. Cửa Hải Triều (Tân Lễ - Hưng Hà nay) được bố trí quân lính dựng rào lũy, đóng cọc chắn những đoạn hiểm yếu dưới sông Luộc. Những đồn binh được bố trí bí mật trong đám lau lách rậm rạp ở bãi nổi trên sông. Theo lệnh của Quốc công tiết chế Hưng Đạo Vương, tướng Yết Kiêu đã đưa cả đội quân thủy lừng danh về đóng ở ngã ba Nông (Điệp Nông - Hưng Hà); Cửu Khúc (sông Luộc chảy từ Hưng Hà sang Quỳnh Phụ), những địa điểm này cách cửa Hải Triều không xa, đây là căn cứ quân sự quan trọng để nhà Trần làm "thanh viện" đồng thời chặn đánh quân tiếp viện của quân Nguyên. Cứ theo dòng sông Luộc chảy cuộn về phía đông, nơi ấy có căn cứ lớn trên một dải đất rộng, sình lầy, lau lách.
Nơi đây vốn là an sinh thứ hai của Phụng Kiền Vương Trần Liễu, tên gọi A Sào (An Thái - Quỳnh Phụ nay). Và cũng chính nơi đây, dưới triều Lý, vùng đất này đã được xếp vào danh hạng "tứ cố cảnh". Tứ cố cảnh có thế đất cao ráo, cư dân đông đúc, sản vật dồi dào là chỗ dựa vững chắc để quân dân nhà Trần có thể kéo dài cuộc kháng chiến chống quân Nguyên - Mông. Để chiến đấu với quân thù được vững vàng, nhà Trần cho xây dựng những kho lương nhằm tích lũy lương thảo như Mễ Thương (An Thái), Đại Nẫm (An Đồng)...Thế trận như sắp đặt trước, một bên là sông Luộc cuồn cuộn chảy, một bên là sông Hóa nước lững lờ trôi, tất cả thế đất, lòng dân đã được lập thành đại bản doanh của Quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại Vương.
Dấu tích xưa kia, nơi đây là bến sông Hóa thuộc địa phận xã An Thái huyện Quỳnh Phụ, nhân dân đã tập trung cổ súy cho đội quân Nhà Trần đánh trận, nay là đền thờ Hưng Đạo Đại vương.
Sử sách và dân gian còn lưu truyền rằng: Đại bản doanh của Quốc công tiết chế có tiền đồn Lộng Khê (xã An Khê - Quỳnh Phụ nay) vươn ra đúng nơi gặp gỡ và gấp khúc của hai dòng Luộc - Hóa. Lui tầm mắt xuống phía nam A Sào (An Thái) là căn cứ thủy bộ Đào Động (An Lễ - Quỳnh Phụ), căn cứ thủy bộ khá quan trọng này được Quốc công tiết chế chọn giao cho tướng quân Phạm Ngũ Lão, vị tướng nổi tiếng quê làng Phù Ủng ( Hưng Yên). Tướng Lão dùng nơi đây làm nơi luyện tập của hai đạo binh thủy quân - lục chiến. Dòng sông Hóa là một thủy đạo lợi hại, Quốc công tiết chế cho xây dựng những đồn trại quân, lương dọc hai bờ sông đặc biệt ở Tô Đê (An Mỹ - Quỳnh Phụ). Phía dưới nữa là làng Cao Dương (Thái Thụy), nơi đây tập trung khá lớn nghệ nhân làm nghề rèn đúc, lập tức được trưng dụng làm nơi rèn binh đao, vũ khí của nhà Trần. Chiến trận không dừng ở Cao Dương (vùng đất làng nghề mà sau này khi đại chiến quân Nguyên - Mông, nhà Trần cũng đã sắc phong cho làng: "Cao Dương rèn sắt nên công nhất miền") mà còn lan rộng xuống vùng đất thấp ven biển (Thái Thụy nay).
Sử cũ ghi: lúc ấy, hữu tướng quân Lý Nghị lập đồn ở Gọc Vôi (Thu Cúc - Thụy Hưng); tả tướng quân Ngô Đức Thuần đưa quân ém ở chợ Gọc (Thụy Việt nay). Tả quân và Hữu quân tạo lên thế "đông phù, tây ủng" hỗ trợ nhau khóa chặt khúc sông Hóa gần cửa biển, theo dòng chảy của dòng Hóa mà quân dân nhà Trần chọn nơi hòa dòng nước chung của sông Hóa với dòng Tam Giang (sông Thái Bình mang phù sa bồi đắp thềm lục địa) thành căn cứ Bát Đụn Trang trải rộng khắp vùng...
NGHI BINH THOÁT HIỂM
.
Thực chất, nhà Trần đã có tầm nhìn xa trông rộng khi biết rằng đế quốc Nguyên - Mông chưa bao giờ nguôi ngoai ước mộng xâm lăng Đại Việt nên đã quyết định cho lập khu sản xuất lúa gạo lớn nhất Đại Việt ở A Sào - An Hiệp trang, nhằm kế sách chiến đấu lâu dài bảo vệ non sông Đại Việt.
Căn cứ Bát Đụn trang xưa, nay là những làng mạc trù phú. Ảnh: Quang Viện
|
Căn cứ Bát Đụn Trang trải rộng khắp miền ven biển. Vùng cửa sông hiểm yếu này được canh phòng cẩn mật. Hưng Đạo Vương cho bố trí bốn đồn phòng thủ sát hai bên cửa sông, riêng hai đồn phía tả ngạn được đặt ở Lưu Đồn ( Thụy Hồng) và Phương Man (Thụy Dũng). Cẩn trọng hơn, Hưng Đạo Vương còn cho bố trí rải rác khắp vùng lân cận các trại lính cùng nhiều bãi tập rèn luyện quân sỹ lớn nhỏ. Ở các cửa biển trọng yếu khác như cửa Đại Toàn ( sông Diêm Hộ, thị trấn Diêm Điền nay), Giao Hải ( cửa Ba Lạt nay) đều được bố trí quân phòng thủ, đồng thời còn cho cắm nhiều cọc gỗ, tre làm chướng ngại, ngăn bước lui của quân thù.
Các kho lương cũng được bố trí thuận lợi cho việc "điều binh, khiển tướng", đại quân có thể chiến đấu yên tâm vì quân không sợ đói. Bấy giờ các kho lương lớn như: kho Nại ( Liên Hiệp - Hưng Hà), Đại Nẫm ( Quỳnh Thọ - Quỳnh Phụ); Mễ Thương ( An Thái - Quỳnh Phụ); Phong Nẫm (Thụy Phong - Thái Thụy); Lưu Đồn (Thụy Hồng - Thái Thụy) luôn đầy ắp lương thảo có thể phục vụ đại chiến trong nhiều ngày. Người dân khắp vùng cùng các hào kiệt không tiếc thóc gạo đem đến kho lương hiến tặng đại quân. Sử thần Ngô Sỹ Liên ghi lại: "Năm Đinh Tỵ ( 1257), đời Nguyên Phong, giặc Nguyên sang cướp, các vương hầu cũng đem người nhà và hương binh, thổ hào làm quân giúp vua".
Tướng công họ Đào là người có công lao lớn trong việc giúp nhà Trần đánh giặc Thát bằng những đoạn xích sắt nơi cửa sông, cửa biển. Sau khi ông mất, nhân dân thương tiếc dựng đền thờ ông tại làng Hòe Thị xã Đồng Tiến, huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình.
Ảnh: Quang Viện
Thực chất, nhà Trần đã có tầm nhìn xa trông rộng khi biết rằng đế quốc Nguyên - Mông chưa bao giờ nguôi ngoai ước mộng xâm lăng Đại Việt nên đã quyết định cho lập khu sản xuất lúa gạo lớn nhất Đại Việt ở A Sào - An Hiệp trang, nhằm kế sách chiến đấu lâu dài bảo vệ non sông Đại Việt. Sử cũ ghi: để trấn giữ kho lương quan trọng này, vua Trần chọn cử viên tướng hoàng tộc trẻ tuổi, tài năng khác thường là Trần Quốc Tuấn giữ chức Thượng vị hầu làm trấn thủ. Trước đó nhiều năm, trong chiến lược xây dựng quân đội nhà Trần quyết định chỉ chọn lựa đinh tráng ở một vài lộ phủ trù phú và tin cẩn nhất để sung vào đội quân túc vệ, thứ quân thời ấy được coi là "nanh vuốt" của triều đình. Long Hưng và Kiến Xương (Thái Bình) cũng được chọn là một trong số những lộ được chọn xung quân ấy. Các quân hiệu: Thiên Thuộc, Thiên Cương, Chương Thánh, Củng Thần đều lấy quân dịch trai đinh ở Long Hưng.
Trai đinh Kiến Xương được xung quân Thánh Dực và Thần Sách. Cũng theo kế sách ấy, các vương hầu, hoàng tộc triều Trần cũng lấy luôn các nô tì, dân tráng quanh các điền trang, thái ấp ngay Long Hưng - Kiến Xương lập nên các đội quân mà triều đình đặt là: Vương hầu - gia đồng. Thực chất, đây là lực lượng quân đội dự bị tại chỗ hết sức quan trọng, khi đất nước có binh biến, đội quân này ngay lập tức được triệu tập và có thể xung trân ngay. Một trong những đội quân vương hầu - gia đồng thiện chiến làm thất điên bát đảo quân giặc ngay từ trận chiến đầu có tên gọi Tinh Cương ở đất Ngự Thiên do tướng quốc Thái úy Trần Nhật Hạo chỉ huy còn lưu giữ trong sử sách.
Hậu cần cho cuộc chiến đấu chống quân xâm lược Nguyên - Mông không chỉ do các dòng sông mang lại, nhà Trần còn phân chia các khu vực cung ứng lương thảo rất hợp lý. Thợ dệt Phương La cung cấp quân phục, người làm công tác thương vận được giao cho Lưu Xá. Thợ rèn Cao Dương, Vế Diệc chuyên tâm rèn sửa binh khí, khi nhận được lệnh triệu gấp về đại bản doanh để lo rèn đúc "sửa sang khí giới" thì các thợ làng lâu năm trong nghề đều đồng loạt tới phục vụ. Các lò rèn ngày đêm đỏ lửa, sản xuất nhiều gươm, giáo do vậy mới có tên "đống gươm, đống giáo, đống yên". Khí giới được sản xuất nhiều thành những đống cao ngất, sau đó được chuyển về Am Qua (An Đồng), khu đống Yên (An Thái).
Theo truyền tụng tại thời điểm ấy, những người thợ rèn còn được giao thêm nhiệm vụ quan trọng là rèn đúc những đoạn xích sắt khổng lồ để chăng ở các cửa biển, cửa sông trọng yếu. Tướng công họ Đào là người có công lao lớn trong việc giúp nhà Trần đánh giặc Thát bằng những đoạn xích sắt nơi cửa sông, cửa biển. Sau khi ông mất, nhân dân thương tiếc dựng đền thờ ông tại làng Hòe Thị xã Đồng Tiến. Trong đền còn câu đối: Thiết võng tí Lục Đầu Giang hạ đại phá Nguyên binh" được dịch là: Lưới sắt giăng ở cửa Lục Đầu Giang dẹp tan giặc Thát.
Dân gian còn lưu truyền những câu chuyện cảm động về mối quan hệ quân dân nhà Trần rằng: bấy giờ Đại Việt bị quân Nguyên - Mông tàn phá, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn về A Sào (An Thái), nơi điền trang xưa của Phụng Kiền Vương Trần Liễu, cha mình để đặt đại bản doanh. Nhân dân nơi đây hết sức phấn khởi, khắp thôn cùng, ngõ hẻm đều vang lên lời ca, tiếng hát đón ông. Cũng là do "lòng người vẫn luyến phục chủ cũ" nên nhân dân khắp vùng chẳng ai bảo ai đều ùn ùn mang thóc lúa tới A Sào mong muốn được góp công, góp của và sức người cùng đại binh nhà Trần đánh giặc Thát.
Khi lượng thóc gạo của nhân dân chở đến đã đầy ắp kho Mễ Thương, quân đội nhà Trần phải huy động lực lượng chuyển lương sang các kho khác. Cứ như vậy, người góp thóc, gạo, hiến đất cày, kẻ góp công...rồi những kho đụn chứa lương thực cho kháng chiến cứ nhiều lên mãi. Những kho đụn lớn nhân dân quen gọi là Đại Nẫm. Dân gian lưu truyền, ở An Hiệp trang có một hào trưởng giàu có tên Trình Quang Minh, vừa chủ động tự mình hiến lúa gạo cho quân đội vừa đứng ra thu gom lúa gạo trong nhân dân cho đại quân, về sau ông được tin dùng, Trần Hưng Đạo hết lời ngợi ca công đức, giao cho làm quản kho. Hiện nay, ở đình An Hiệp (xã An Hiệp - Quỳnh Phụ) vẫn phối thờ ông cùng Hưng Đạo Vương.
Trở lại với quá khứ của lịch sử oai hùng, căn cứ Bát Đụn Trang có địa thế gò đống, chủ yếu là cồn cát còn lại là đầm lầy, lau lác, sú vẹt ngập trời trải dài đến sát mép biển. Tương truyền, do căn cứ đóng trên các cồn cát lại ở mép biển nên các đồn trại binh lính thiếu nước ngọt để ăn uống, nhưng lòng dân thuận ý trời nên nhiều làng đã cử trai tráng khỏe mạnh lên rừng sâu, núi thẳm tìm đá về ghép lại và đào đắp cả một hệ thống giếng nước ở trong đồn trại (khu gò Tu của thôn Lưu Đồn vẫn còn một số giếng nước, dấu tích một thời trận mạc).
Nước ngọt đã có, nhưng quan trọng hơn, quân đội nhà Trần mà trực tiếp ở đây là quân đội của Hưng Đạo Vương còn có được lòng dân. Để có những bãi tập luyện binh, dân chúng quanh vùng đã tập hợp lại cùng quân lính ra sức dọn bãi, san gò làm nơi luyện tập. Thuở binh đao ngày đó, xung quanh các đồn trại của nhà Trần luôn văng vẳng tiếng cờ reo, trống giục vang động cả một vùng trời vốn dĩ bình yên.
Quân giặc Nguyên - Mông không từ bỏ dã tâm xâm lược Đại Việt. Những thất bại nặng nề và nhục nhã trước một nước Đại Việt nhỏ bé nhưng kiên cường đã làm cho sự tàn bạo của quân giặc tăng lên gấp bội. Chúng lại tiến công xâm lược Đại Việt. Sử cũ ghi: khoảng trung tuần tháng 2 năm 1285 sau khi dùng hơn nửa triệu quân có cả kỵ binh và bộ binh vượt qua biên giới tiến vào Đại Việt phá vỡ căn cứ Vạn Kiếp, đánh tan chiến tuyến sông Hồng, quân Nguyên - Mông tiến vào Thăng Long.
Chúng hả hê. Trấn Nam Vương Thoát Hoan cho một cánh quân lớn rượt đuổi theo dấu vết các Vua Trần. Sức giặc mạnh như gió đông, ào ạt như lửa cháy. Càng tiến sâu vào Đại Việt, quân giặc càng có vẻ thế thắng. Chúng mắc phải kế sách của nhà Trần "vườn không, nhà trống". Bởi, nhà Trần đã nhìn rõ tương quan lực lượng giữa ta và giặc nên đã chủ động rút quân chiến lược xuôi dòng sông về hạ lưu. Tuy đã chuẩn bị kỹ càng, nhưng vua tôi nhà Trần lúc bấy giờ không khỏi lao đao trước những tình huống gấp gáp và quyết liệt của cuộc chiến.
Hàng loạt các đồn trại của quân dân nhà Trần dọc theo hai bên sông Hồng bị giặc tàn phá, cơ đồ tưởng chừng bị "nuốt chửng" trong gang tấc. Nhưng, thế trận bên sông đã chờ sẵn. Cửa Hải Thị đã nghênh đón giặc đúng lúc. Nhà Trần huy động dân binh Long Hưng có vũ khí phối hợp với quân triều đình ở khắp các đồn trại dọc theo tuyến sông nhỏ, to trên đất lộ Long Hưng (được bố trí ẩn dựa vào chiến lũy trên sông, khai thác triệt để chướng ngại phòng thủ) tiến đánh quân thù. Sự chống chọi có tính chiến lược không kém phần ác liệt khiến quân Nguyên - Mông chùn bước. Chúng không thể hiểu nổi làm cách nào mà dân Đại Việt lại có thể khiến chúng không thể tiến thêm được bước nào nữa khi đặt chân đến vùng đất ngã ba sông Luộc.
Chúng càng không thể hiểu được rằng chỉ cần tranh thủ chút thời gian quý giá giữa hai trận chiến các vua Trần đã tập hợp được một lực lượng quân dân hùng hậu từ phủ Kiến Xương, Long Hưng, Thiên Trường, Trường Yên chuẩn bị phản công quyết liệt. Sử cũ chép rằng: đến ngày 10 tháng 3 năm 1285, được tin cánh quân lớn của Toa Đô đánh vòng từ phía nam đã ra tới Thanh Hóa, Thoát Hoan mới cho quân tiến đánh Long Hưng. Thế trận giặc dã như hai gọng kìm dần xiết chặt, vua tôi nhà Trần đã rút xuống gần biển, khéo léo dựa vào các đồn trại tổ chức cuộc hành quân mưu trí thoát được hiểm nguy.
Trong trận chiến trên sông Hồng, vùng Đại Hoàng (giáp ranh giữa Kiến Xương và Thiên Trường) với Thoát Hoan, vua Trần giả bộ cầu hòa, cử phái bộ sang phía quân địch, đồng thời tổ chức những toán quân nhỏ quấy rối địch, tìm cách kìm chân chúng lại. Trong lúc "tranh tối, tranh sáng", vua tôi nhà Trần bí mật rút toàn bộ quân chủ lực ra cửa Giao Hải, theo đường biển lên lộ Hải Đông (Quảng Ninh). Giặc không hề hay biết đang bị lừa, quân Toa Đô tiến ra đến Trường Yên (Ninh Bình), Thoát Hoan thấy vững tin liền huy động quân mải miết truy tìm các vua Trần ở lộ Long Hưng.
Chúng không thể biết rằng, càng đi sâu vào cuộc chiến bí hiểm, chúng dần dần đã mất mục tiêu, bị quân dân nhà Trần dồn vào tình thế khốn quẫn, dịch bệnh. Nhận định đúng thời cơ, tháng 5 năm 1285 Hưng Đạo Vương thân chinh dẫn đại quân kéo về Long Hưng diệt đồn A Lỗ (gần kề ngã ba Luộc) mở đầu cuộc tổng phản công quyết liệt quét sạch các cứ điểm của giặc dọc sông Hồng như Hàm Tử, Chương Dương, Man Trù, Tây Kết...
LƯỚI SẮT CỬA LỤC DẸP TAN GIẶC THÁT
Long Hưng - Kiến Xương, cả một dải giang sơn thấm đẫm máu quân thù. Nơi tông miếu xã tắc nhà Trần cũng không được ngủ yên nhưng điều không thể phủ nhận được chính là thế trận lòng dân của nhà Trần mà người dân Long Hưng thực hiện rất thành công, đem lại chiến công vang dội.
Cựu chiến binh Nguyễn Văn Tánh, thôn Tu Trình kể chuyện một đêm lưu lại của Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại vương và bài vị thờ 5 vị Thành Hoàng làng. Ảnh: Quang Viện
|
Tháng 6 năm 1285, các vua Trần quyết định lấy thêm lực lượng ở Long Hưng, bổ sung thêm lương thảo rồi ngược dòng sông Hồng tiến đánh quân Nguyên - Mông. Thế nước Đại Việt trở lại hùng mạnh, đẩy quân giặc lâm vào bị động, túng quẫn.
Bài vị thờ 5 Vị Thành Hoàng làng trong Đình làng Tu Trình
Ảnh: Quang Viện
Sử cũ ghi: Tổng quản Trương Hiển ở Đại Mang phải hạ giáo đầu hàng. Quân giặc ở Tây Kết cũng "hồn bay, phách lạc". Các cánh quân của nhà Trần tập hợp lại với nhau tạo nên một sức mạnh như thế chẻ tre, khiến quân Nguyên - Mông tan tác trên khắp các chiến trường. Chiến thắng này là niềm động viên lớn lao quân dân nhà Trần thừa thắng xông lên tiêu diệt quân thù, giữ vững non sông Đại Việt.
Long Hưng - Kiến Xương, cả một dải giang sơn thấm đẫm máu quân thù. Nơi tông miếu xã tắc nhà Trần cũng không được ngủ yên nhưng điều không thể phủ nhận được chính là thế trận lòng dân của nhà Trần mà người dân Long Hưng thực hiện rất thành công, đem lại chiến công vang dội.
Một căn cứ địa vững chắc, một thế trận lợi hại phòng tuyến chống quân xâm lược phương Bắc của Đại Việt, điều này đã giúp cho tướng soái quân sự lỗi lạc nhà Trần vạch ra kế sách đánh giặc chủ động, táo bạo và độc đáo. Nhân dân các lộ đông - nam thêm niềm tin vào sức mạnh quân triều đình, cùng trăm họ hết lòng giúp vương tộc nhà Trần liên tiếp chiến thắng quân thù.
Dấu tích của Bến Tượng xưa kia, nay chỉ còn trơ nền móng cũ, hiện nơi đây đã được trùng tu, tôn tạo thành một khu di tích lịch sử.
Ảnh: Quang Viện
Tiếng gươm của những con người chân đất, áo vải xông lên chiến đấu giữ từng tấc đất ông cha chưa ngừng khua thì quân dân nhà Trần nhận được tin mật báo quân Nguyên - Mông lại chuẩn bị tiến công Đại Việt. Trước những nguy cơ chiến tranh tới gần, vua Trần Nhân Tông liền cho thiết triều khẩn cấp. Sử cũ ghi rằng: “vào tháng 6 sai các vương hầu tôn thất mộ binh và nắm vững quân thuộc hạ của mình”. Chính sử ghi: trong một cuộc thiết triều, vua đã hỏi Trần Hưng Đạo: “Thế giặc năm nay thế nào?”.
Trần Hưng Đạo trả lời: “Nước ta thái bình lâu ngày, dân không biết việc binh, nên năm trước quân Nguyên xâm lấn, hoặc có người đầu hàng trốn tránh. Nhờ uy binh của tổ tông và thần vũ của bệ hạ mà đã quét sạch được rợ Hồ. Nay nếu nó lại sang thì quân ta đã quen việc đánh dẹp, mà quân nó thì ngại việc đi xa. Vả lại, nó đã cạch về sự thất bại của Hằng và Quán, nên quân Nguyên không có lòng chiến đấu nữa. Cứ ý thần xem, thì tất đánh tan được chúng”.
Đình làng Tu Trình, nơi ghi dấu một đêm nghỉ lại của Quốc công Tiết chế Hưng Đạo Đại vương.
Ảnh: Quang Viện
Hưng Đạo Vương đã nhận định đúng về sự tất thắng của quân dân nhà Trần trong cuộc chiến tranh ác liệt với quân Nguyên - Mông hung bạo sắp sửa xảy ra. Bằng cái nhìn chiến lược về cuộc chiến, vua tôi nhà Trần thấy toát lên một niềm tin mạnh mẽ vào khả năng chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu của quân dân Đại Việt với sự lãnh đạo sáng suốt của các vị vua Trần trong đó có vua Trần Nhân Tông. Một lần nữa, vua Trần Nhân Tông “sai Hưng Đạo Vương tổng đốc các vương hầu quân tôn thất điều động quân đội và chế tạo khí giới thuyền bè. Đến tháng 10 cho kiểm điểm và luyện tập các quân đã điều động”.
Đại Việt đã ráo riết chuẩn bị phương tiện, nhân lực và khí tài để chiến đấu bảo vệ non sông với niềm tự tin mạnh mẽ vào chiến thắng cuối cùng. Năm Đinh Hợi (1287) vừa qua đi, niền tin tất thắng được củng cố bền vững hơn. Sử cũ ghi: “tháng 2,(...) có quan chấp chính xin tuyển người mạnh khỏe làm lính để tăng số quân. Hưng Đạo Vương đã không đồng ý, Ngài tâu với vua Trần rằng: "Quân cần tinh, không cần nhiều. Dù nhiều đến như Bồ Kiên có 100 vạn quân, có làm gì được đâu?’”.
Tam bảo Đình làng Tu Trình, nơi thờ 5 vị Thành Hoàng làng, phối thờ Quốc Công Tiết chế Hưng Đạo Đại vương.
Ảnh: Quang Viện
Vua Trần nghe vậy không đôn quân bắt lính, nhà Vua còn “đại xá cho thiên hạ”, thể hiện chính sách ổn định lòng dân. Đợt đại xá lần này cách đợt trước chưa đầy nửa năm. Nhà Vua yêu cầu thuộc hạ khẩn trương thực hiện, bởi trong lúc vận nước nguy nan, giặc ngoài rình rập thì việc đại xá thiên hạ thể hiện tính nhân đạo của triều đình nhà Trần và thể hiện tình cảm, trách nhiệm của nhà vua với muôn dân. Sử cũ cũng ghi: trước khi xảy ra cuộc chiến tranh 1285, vua Trần Nhân Tông răn dạy muôn dân Đại Việt rằng: “Phàm các quận huyện trong nước, nếu như có giặc ngoài đến, thì phải tử chiến. Hoặc nếu sức yếu, địch không lại thì cho phép trốn vào trong núi đầm. Không được đầu hàng”.
Cây hương và bia đá cổ tại Miếu Am Qua (xã An Đồng huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình) nơi xưa đây là kho lương của nhà Trần.
Ảnh: Quang Viện
Với sự chuẩn bị về tinh thần lẫn vật chất như vậy, quân dân Đại Việt sẵn sàng đón nhận các cuộc chiến đấu ác liệt nhằm bảo vệ non sông gấm vóc của mình. Cuối năm 1287 bước sang đầu năm 1288, Trấn Nam vương Thoát Hoan hằn học vì bại trận đã quyết quay trở lại Đại Việt để rửa nhục. Hắn cầm đầu toán quân 50 vạn binh chủ lực, khát máu, được trang bị thêm những chiến thuyền cỡ lớn. Tháng 2 năm 1288, chúng đặt chân tới kinh thành Thăng Long.
Không thấy có sự phản kháng nào, chúng giật mình. Lúc đó, tham chính Ô Mã Nhi hằn học vì bị coi thường đã đốc thúc quân lính tức tốc tìm đường đuổi bắt các vua Trần. Đám thủy quân của Ô Mã Nhi đi dọc các triền sông, lùng sục tàn phá các làng quê yên bình của Đại Việt nhưng chúng không hề thấy dấu vết, tăm hơi các vua Trần. Ô Mã Nhi hung hăng vung gươm chỉ lên trời mà than rằng: "...ngươi chạy lên trời, ta theo lên trời. Ngươi trốn lên núi, ta theo lên núi, ngươi lặn xuống nước, ta theo xuống nước".
Từ Thăng Long, hỗn quân Nguyên - Mông lục soát đến ngã ba Hải Thị (Tân Lễ - Hưng Hà) sau bao ngày nhọc công, đã không nhận ra dấu vết nào khác. Chúng tức tối. Ô Mã Nhi gầm gừ, dọa sẽ ăn tươi nuốt sống các vua Trần. Không làm gì được vua tôi nhà Trần, chúng tràn vào Long Hưng đào bới, đập phá lăng tẩm, tôn miếu xã tắc nhà Trần. Chúng cướp bóc, giết chóc, hãm hiếp phụ nữ...cho thỏa nỗi uất ức.
Lúc này, vua tôi nhà Trần dù đau xót trước cảnh tàn phá tông miếu, đốt làng, hãm hiếp, giết người của quân giặc, vẫn bình tĩnh chỉ đạo các toán quân chủ lực tinh nhuệ, giữ vững dũng khí, bình tĩnh, bí mật lùi xuống vùng ven biển. Những căn cứ ven biển với lợi thế sông pha biển, lau lác um tùm vì đã được chuẩn bị khá kỹ lưỡng nên quân đội nhà Trần có thể yên tâm chiến đấu lâu dài mà im hơi, lặng tiếng. Sự im lặng đã khiến quân giặc hoảng sợ.
Nhưng, chúng hiểu được điều này thì cũng đã muộn. Hơn hai tháng lùng sục, không tìm được các vua Trần, quân lương kiệt quệ, thời tiết nóng bức cùng dịch bệnh đe dọa, giặc lâm vào thế khốn quẫn. Ngày 9 tháng 4 năm 1288, sau khi đánh giá đúng tình hình của địch, những đội quân tinh nhuệ, còn vẹn nguyên và cường tráng của nhà Trần bỗng dưng xuất hiện từ các lộ ven biển, đồng loạt ào lên, dưới sự chỉ đạo kiệt xuất của Quốc công tiết chế Hưng Đạo Đại vương rầm rộ tiến lên phía Bắc, hội gặp với các cánh quân khắp vùng lập nên một trận Bạch Đằng Giang, phá tan giặc Thát, trở thành huyền thoại có một không hai trong lịch sử.
Trong dân gian còn lưu truyền rằng: Hưng Đạo Vương đi theo cửa Tam Giang (cửa sông Thái Bình) vào căn cứ Bát Đụn Trang và nghỉ lại ở Tu Trình (xã Thụy Trình - Thái Thụy) để xem việc chuẩn bị lực lượng. Nghe tin này, trai tráng khắp vùng nô nức đến đầu quân. Ở nơi đây vẫn lưu truyền câu chuyện về một gia đình có 5 anh em trai đều gia nhập quân đội. Câu chuyện kể mãi về gia đình bà Đào Thị Từ Nhân ở thôn Tu Trình có năm người con là Đường Lang, Trung Lang, Hải Tôn, Nam Bồ, Cây Mấy... đều hy sinh nơi chiến trận chống giặc Thát.
Người làng tiếc thương đã phối thờ các ông như thành hoàng làng. Hưng Đạo Vương để quân chủ lực tinh nhuệ nghỉ ngơi trước khi vào trận chiến ác liệt. Rồi ông cho quân binh ngược dòng sông Hóa về A Sào, Đại Nẫm lấy thêm lương thảo, nạp thêm quân binh, thu thêm nhiều nghĩa sỹ khắp vùng tạo nên một đội quân hùng hậu đi đến đâu quân reo hò vang động đất trời đến đó.
Cả một vùng cờ xí rợp trời. Giặc chỉ nghe thấy tiếng reo hò của quân binh nhà Trần đã tim đập, chân run. Chúng không tưởng tượng ra nổi cảnh phản công của quân dân nhà Trần với tinh thần tự tôn dân tộc quyết quét sạch bóng thù ra khỏi bờ bãi. Tại bến sông Hóa, cạnh A Sào, khi quân binh nhà Trần vượt sông tiến về Bạch Đằng Giang, voi chiến của Hưng Đạo Vương bị sa lầy. Dân chúng đã mang gỗ, tre, rơm, rạ, có hào kiệt cho rỡ cả nhà gỗ lim để tìm cách cho voi chiến của Ngài thoát hiểm sình lầy.
Chiến trận đang độ gấp gáp, quân tiền phương trông chờ vào đại quân của Hưng Đạo Vương. Thế trận dồn dập mà voi chiến càng ngày càng lún sâu trong sình lầy. Voi nhìn chủ ứa nước mắt. Chủ tướng nhìn voi mà lòng quặn đau. Nhân dân thương tiếc nhưng không có cách nào cứu được voi chiến của Ngài. Hưng Đạo Vương rút gươm chỉ xuống dòng sông Hóa mà thề rằng:Nếu không thắng trận ta sẽ không trở lại bến sông này nữa.
Nhân dân khắp vùng kéo đến úy lạo Hưng Đạo Vương. Quân đi tới đâu, nhân dân ùa ra tới đó, họ còn mang theo nhiều lương thảo, quà cáp hoan hỉ đưa tiễn quân binh ra trận với lời cầu chúc đại thắng. Trận ấy, tại Bạch Đằng Giang, chiến công vang dội chiến công. Quân Nguyên - Mông đã phải trả giá. Những cọc gỗ, lưới sắt giăng đầy cửa Lục đã trở thành mồ chôn giặc Thát.
Cùng lúc ấy, các cánh quân khác ở khắp nơi đổ dồn tin chiến thắng, giặc Nguyên - Mông bị tiêu diệt nhanh chóng. Từ biên giới phía bắc cho tới miền biển xa, đâu đâu cũng nghe tiếng quân reo khải hoàn. Lúc này, Thượng Hoàng Trần Thánh Tông xuất hiện cùng vua Trần Nhân Tông trong màu áo bào vương mùi trận mạc, trờ về từ Bạch Đằng Giang còn sôi động chiến công.
Ngày 18 tháng 4 năm 1288, vua tôi nhà Trần tiến thẳng về Chiêu Lăng ở Long Hưng để làm lễ bái yết tổ tông. Những tướng giặc hung hãn như: Phàn Tiếp, Ô Mã Nhi, Tích Lệ Cơ, Sầm Đoạn...cùng các thiên hộ, vạn hộ nhục nhã cúi gằm mặt chịu thân phận là những tù binh bại trận được dẫn về tông miếu nhà Trần. Chúng kinh hoàng trước tôn miếu xã tắc Đại Việt, bởi chỉ mới đây còn nguyên vẹn, vậy mà dưới vó ngựa tàn bạo của hung nô đã trở thành phế tích. Những con ngựa đá, nghê đá... linh vật trông coi tông miếu cũng ngả nghiêng, lấm bùn và dường như chúng cũng hiểu được nỗi lòng của vua tôi nhà Trần.
Bài và ảnh: LÊ QUANG VIỆN
(Tài liệu tham khảo: ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét