Thứ Hai, 24 tháng 12, 2012

Từ phong thuỷ đền thờ Hưng Vũ Vương, ngẫm về sự tụ tán nhân tài


Ngày xưa, cả vùng đất từ Uông Bí đến Cẩm Phả bây giờ còn là vùng  biển đảo hoang vắng, không có người ở. Những người dân chài nghỉ ngơi trong bóng núi Truyền Đăng, thấy núi có chữ đề của nhà vua ở phía đông, có một rẻo đất cao chân núi ở phía tây bắc, cảm nhận đấy là linh địa, bèn lập một miếu thờ Thần Biển trên rẻo đất cao đó, để hi vọng Ngài che chở cho mình trước sự tàn bạo của gió to sóng cả biển khơi, khi ra biển đánh cá, gọi là miếu thờ Đông Hải Đại vương, như một số đền miếu tương tự dọc bờ biển Bắc và Trung bộ. Sau đó, không biết vào thời gian đích xác nào, Đông Hải Đại vương được hiểu là Hưng Vũ vương Trần Quốc Nghiễn (con trai cả Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn) và miếu trở thành đền. Đây là ngôi đền thờ vọng Ngài, không phải Ngài được phong đất và chết ở đây. Ngôi đền hiện ở phố Bến Đoan, phường Hồng Gai, TP Hạ Long.       
Điều kì lạ là cái hướng đền được chọn chứng tỏ có trí tuệ của thầy phong thuỷ. Đền tựa vào rẻo đất cao chân núi Truyền Đăng, chứ không tựa hẳn vào núi Truyền Đăng, nhìn xuống biển chứ không nhìn ra cửa biển. Và như thế, ngôi đền trở thành “nhãn địa”, thành mắt của đất, thành trung tâm tâm linh để xác định phong thuỷ của một địa phương.
Từ khi người Pháp làm chủ và khai thác vùng than Hòn Gai, yêu cầu có cảng biển là rất hệ trọng. Từ năm 1904 đến năm 1918, người Pháp đã thuê Tuần dương hạm Nga khảo sát vùng biển Cửa Lục để khơi luồng cho tàu có trọng tải lớn ra vào. Tại hồ sơ số 1459 của Pháp còn ghi rõ cuộc khảo sát này, trong đó ta nhận ra dòng chảy từ ngàn xưa của sông Cửa Lục là từ cửa Cảng Xăng dầu B12 bây giờ, qua eo biển Hòn Gai - Bãi Cháy, đến Vũng Chùa, rồi lượn qua hòn Củ Dài - đoạn này dòng nước chảy ngang phía xa trước cửa đền và vuông góc với cửa đền Hưng Vũ vương, rồi qua hòn Măng Đèn mà đổ ra cửa biển. Độ sâu của dòng chảy trung bình là 5 mét nước. Như vậy đền Hưng Vũ vương đã đặt đúng  thế đất “tụ nhân như tụ thuỷ”. Nước tụ ở trước cửa và người tụ ở sau lưng. Có thể thế chăng mà ta có vùng đất sầm uất như bây giờ, tính từ Uông Bí đến Cẩm Phả.
Căn cứ vào bản đồ khảo sát của Nga, ngày 23-7-1943, tại Đà Lạt, toàn quyền Pháp là Jean Decoux đã kí văn bản số 1427 D. cho phép mở luồng biển mới, chạy thẳng tắp từ Lạch Giản - Đầu Trâu vào  Bãi Cháy, với độ sâu trung bình 10 mét nước. Cho đến bây giờ, đường vào cảng Bãi Cháy vẫn đi theo luồng này. Và như thế, luồng đường biển mới, chạy vát trước cửa đền Hưng Vũ vương, tạo ra thế nước chảy xuôi và chạy thẳng ra biển, không qua cửa đền. Với thế nước này, vùng đất mà ngôi đền này tượng trưng, ở vào thế “tán mà không tụ”. Sách phong thuỷ viết rằng: Với vùng đất như thế, các hào kiệt phải ra khỏi mới lập được chiến công hiển hách.
Chả biết điều đó đúng hay sai. Xin các bạn ngẫm nghĩ. Nhưng từ đó, tôi rất quan tâm đến các cháu, nếu học thành tài mà không về lại Quảng Ninh thì tôi không lấy đó làm điều buồn. Đất này sinh ra các tài năng để được sử dụng ở những nơi khác. Cũng là phục vụ đất nước cả mà, có sao đâu…
Nhưng vậy thì những tài năng từ nơi khác chọn Quảng Ninh làm đất sống, muốn cống hiến trọn đời cho vùng đất này, lại càng quý hơn và nên xử sự với họ ra sao để họ không bao giờ phải ân hận là đã không bỏ mảnh đất này mà ra đi cho sớm…? Âu cũng là điều rất đáng để các nhà lãnh đạo tỉnh, thành phố hiện nay, suy nghĩ!
Trần Nhuận Minh

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét