Ở vùng biên Móng Cái, nơi có sự giao lưu rất lớn về các mặt kinh tế - xã hội nhưng điều rất đặc biệt là ngay từ xa xưa, văn hoá Việt truyền thống đã ghi dấu ấn đậm nét, trải qua thời gian vẫn được giữ gìn với nét đặc sắc riêng không hề pha tạp, tạo thành những “cột mốc” đặc biệt trên mảnh đất địa đầu Đông Bắc của Tổ quốc.
Qua các kết quả khai quật khảo cổ học và hệ thống di sản về ngữ văn truyền miệng, ca dao, tục ngữ, hò vè còn lưu truyền lại đến ngày nay đã khẳng định người Việt cổ định cư ở vùng đất Móng Cái tương đối sớm. Nhiều di chỉ khảo cổ tại đây đã được phát hiện và tiến hành khai quật từ rất sớm. Như tại xã Vạn Ninh, các di chỉ khảo cổ được phát hiện và tiến hành khai quật từ đầu những năm 70 của thế kỷ trước, tại xã Hải Tiến khai quật năm 1973, thậm chí tại xã Hải Đông đã được nhà khảo cổ người Pháp M.Colani phát hiện và nghiên cứu từ năm 1938. Việc khai quật ở các di chỉ này thu được nhiều hiện vật đã xác định thuộc thời kỳ đồ đá mới, cùng thời với Văn hoá Hạ Long...
Bên cạnh đó, câu chuyện cổ “Đá vợ, đá chồng”, truyền thuyết dân gian về “Người Trà Cổ, tổ Đồ Sơn” cùng hệ thống ca dao, tục ngữ, hò vè cũng cho thấy việc khai lập mảnh đất Móng Cái, sự hình thành cộng đồng dân cư người Việt cổ tại đây theo xu hướng các làng chài ven biển được hình thành trước, sau là làng ở vùng đồi núi biên giới và khe bản gần các con sông và đường bộ. Từ phương thức canh tác giản đơn, tự cấp tự túc, các làng dần phát triển sản xuất, giao thương buôn bán ra đời đã lập nên các thị tứ, thị trấn nơi đây. Dấu vết các làng người Việt cổ nay vẫn còn tồn tại ở xã Vạn Ninh và phường Trà Cổ.
Qua các kết quả khai quật khảo cổ học và hệ thống di sản về ngữ văn truyền miệng, ca dao, tục ngữ, hò vè còn lưu truyền lại đến ngày nay đã khẳng định người Việt cổ định cư ở vùng đất Móng Cái tương đối sớm. Nhiều di chỉ khảo cổ tại đây đã được phát hiện và tiến hành khai quật từ rất sớm. Như tại xã Vạn Ninh, các di chỉ khảo cổ được phát hiện và tiến hành khai quật từ đầu những năm 70 của thế kỷ trước, tại xã Hải Tiến khai quật năm 1973, thậm chí tại xã Hải Đông đã được nhà khảo cổ người Pháp M.Colani phát hiện và nghiên cứu từ năm 1938. Việc khai quật ở các di chỉ này thu được nhiều hiện vật đã xác định thuộc thời kỳ đồ đá mới, cùng thời với Văn hoá Hạ Long...
Bên cạnh đó, câu chuyện cổ “Đá vợ, đá chồng”, truyền thuyết dân gian về “Người Trà Cổ, tổ Đồ Sơn” cùng hệ thống ca dao, tục ngữ, hò vè cũng cho thấy việc khai lập mảnh đất Móng Cái, sự hình thành cộng đồng dân cư người Việt cổ tại đây theo xu hướng các làng chài ven biển được hình thành trước, sau là làng ở vùng đồi núi biên giới và khe bản gần các con sông và đường bộ. Từ phương thức canh tác giản đơn, tự cấp tự túc, các làng dần phát triển sản xuất, giao thương buôn bán ra đời đã lập nên các thị tứ, thị trấn nơi đây. Dấu vết các làng người Việt cổ nay vẫn còn tồn tại ở xã Vạn Ninh và phường Trà Cổ.
| Lễ rước bài vị thần tại lễ hội đình Trà Cổ năm 2011. Ảnh: TL |
Trong các di sản văn hoá phi vật thể của Móng Cái, đáng chú ý còn có di sản hát, múa cửa đình là một bộ phận của hát ca trù đã được UNESCO vinh danh là di sản văn hoá thế giới. Các nghệ nhân nơi đây vào mùa lễ hội hàng năm không chỉ hát ở đình của xã và các địa phương lân cận mà còn được mời sang hát tại lễ hội đình Vạn Vỹ tại Giang Bình (Trung Quốc) - nơi cộng đồng người Việt từng di cư sang sinh sống ở đây và vẫn duy trì việc hát nhà tơ từ đó đến nay. Thậm chí, Trung Quốc đã đưa hát nhà tơ của người Kinh vào di sản cấp quốc gia, đồng thời còn dự định đệ trình lên UNESCO để xin xét duyệt danh hiệu cấp thế giới.
Phong phú về hệ thống di tích nhưng nổi bật với nhiều giá trị độc đáo mang đậm bản sắc văn hoá Việt của Móng Cái phải kể đến đình Trà Cổ, chùa Xuân Lan, Nam Thọ, đền Xã Tắc tạo thành một quần thể di tích lịch sử văn hoá có giá trị, là “cột mốc” văn hoá nơi biên giới. Như chùa Xuân Lan là một di tích kiến trúc cổ, mang đậm phong cách thời Lê, Nguyễn. Chùa hiện còn lưu giữ được 5 pho tượng thời Lê, 15 pho tượng thời Tây Sơn, một chân nến đồng cổ đúc hình con hươu và một số hiện vật khác có giá trị về mặt điêu khắc. Đặc biệt hơn cả là ngôi chùa được kiến trúc chủ yếu bằng chất liệu đá xanh, được lấy từ núi Tổ Chim, một đảo đá lớn giáp biên giới Việt - Trung. Chùa Nam Thọ là một trong những công trình kiến trúc tôn giáo được xây dựng từ đời vua Lê Cảnh Hưng. Hiện nay, chùa còn lưu giữ được một hệ thống tượng Phật quý giá được chạm trổ hết sức tinh vi, thể hiện qua các thời kỳ khác nhau. Sân chùa là những cây đa, chay đại thụ hàng trăm năm tuổi quanh năm rợp bóng tạo ra một không gian rất tĩnh mịch và yên bình.
Đặc biệt nhất là đình Trà Cổ đã được Nhà nước xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật và điêu khắc cấp quốc gia từ năm 1974. Đề tài trang trí ở đây rất phong phú và đa dạng như long, ly, quy, phượng, lưỡng long chầu nguyệt, long hoá mây, cá chép hoá long, long mã, hổ phù, hoa văn dạng hoa lá, mây xoắn... Trong đó, có bức điêu khắc cửa võng hình nàng tiên cá cưỡi rồng bay trong mây, vượt qua vùng biển cả sóng nhấp nhô; phía trên bức võng là hình lưỡng long chầu nguyệt với nét khắc mềm mại; hai bức cốn khắc đàn rồng con uốn lượn với rồng mẹ, hai bức hoành phi ghi dòng chữ “Nam Sơn thịnh thọ” và “Địa cửu thiên trường” đều thể hiện nghệ thuật điêu khắc tài hoa của người Việt. Gắn liền với đình là lễ hội đình Trà Cổ cũng nổi tiếng và độc đáo nhất ở vùng Đông Bắc, diễn ra vào 1-6 Âm lịch. Trong ngày hội đình, các vị cao niên, già làng phục dựng lại các tích như thi ông Voi của 12 ông cai đám, lễ rước thành hoàng làng, nghi thức tế lễ truyền thống. Nghệ thuật trình diễn ở hội đình Trà Cổ rất phong phú với nhiều hoạt động như rước thành hoàng làng, tế lễ, hát các làn điệu dân ca như hát đối, hát đúm, hát nhà tơ, hát giao duyên, múa bông và các trò chơi dân gian, đi cà kheo trên biển v.v..
Nhiều về số lượng, đặc sắc về giá trị, các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể mang tính đặc trưng, tiêu biểu của Móng Cái rất cần được ưu tiên đầu tư bảo tồn và phát huy giá trị, vừa để lưu giữ vốn tài sản văn hoá riêng vùng biên giới, vừa phục vụ sự phát triển của địa phương sau này.
Phong phú về hệ thống di tích nhưng nổi bật với nhiều giá trị độc đáo mang đậm bản sắc văn hoá Việt của Móng Cái phải kể đến đình Trà Cổ, chùa Xuân Lan, Nam Thọ, đền Xã Tắc tạo thành một quần thể di tích lịch sử văn hoá có giá trị, là “cột mốc” văn hoá nơi biên giới. Như chùa Xuân Lan là một di tích kiến trúc cổ, mang đậm phong cách thời Lê, Nguyễn. Chùa hiện còn lưu giữ được 5 pho tượng thời Lê, 15 pho tượng thời Tây Sơn, một chân nến đồng cổ đúc hình con hươu và một số hiện vật khác có giá trị về mặt điêu khắc. Đặc biệt hơn cả là ngôi chùa được kiến trúc chủ yếu bằng chất liệu đá xanh, được lấy từ núi Tổ Chim, một đảo đá lớn giáp biên giới Việt - Trung. Chùa Nam Thọ là một trong những công trình kiến trúc tôn giáo được xây dựng từ đời vua Lê Cảnh Hưng. Hiện nay, chùa còn lưu giữ được một hệ thống tượng Phật quý giá được chạm trổ hết sức tinh vi, thể hiện qua các thời kỳ khác nhau. Sân chùa là những cây đa, chay đại thụ hàng trăm năm tuổi quanh năm rợp bóng tạo ra một không gian rất tĩnh mịch và yên bình.
Đặc biệt nhất là đình Trà Cổ đã được Nhà nước xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật và điêu khắc cấp quốc gia từ năm 1974. Đề tài trang trí ở đây rất phong phú và đa dạng như long, ly, quy, phượng, lưỡng long chầu nguyệt, long hoá mây, cá chép hoá long, long mã, hổ phù, hoa văn dạng hoa lá, mây xoắn... Trong đó, có bức điêu khắc cửa võng hình nàng tiên cá cưỡi rồng bay trong mây, vượt qua vùng biển cả sóng nhấp nhô; phía trên bức võng là hình lưỡng long chầu nguyệt với nét khắc mềm mại; hai bức cốn khắc đàn rồng con uốn lượn với rồng mẹ, hai bức hoành phi ghi dòng chữ “Nam Sơn thịnh thọ” và “Địa cửu thiên trường” đều thể hiện nghệ thuật điêu khắc tài hoa của người Việt. Gắn liền với đình là lễ hội đình Trà Cổ cũng nổi tiếng và độc đáo nhất ở vùng Đông Bắc, diễn ra vào 1-6 Âm lịch. Trong ngày hội đình, các vị cao niên, già làng phục dựng lại các tích như thi ông Voi của 12 ông cai đám, lễ rước thành hoàng làng, nghi thức tế lễ truyền thống. Nghệ thuật trình diễn ở hội đình Trà Cổ rất phong phú với nhiều hoạt động như rước thành hoàng làng, tế lễ, hát các làn điệu dân ca như hát đối, hát đúm, hát nhà tơ, hát giao duyên, múa bông và các trò chơi dân gian, đi cà kheo trên biển v.v..
Nhiều về số lượng, đặc sắc về giá trị, các di sản văn hoá vật thể và phi vật thể mang tính đặc trưng, tiêu biểu của Móng Cái rất cần được ưu tiên đầu tư bảo tồn và phát huy giá trị, vừa để lưu giữ vốn tài sản văn hoá riêng vùng biên giới, vừa phục vụ sự phát triển của địa phương sau này.
Ngọc Mai
,
.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét