1. Giới thiệu khái quát.

Tháp cổ Vĩnh Hưng tọa lạc trên một gò đất cao 0,5 m, thuộc ấp Trung Hưng, xã Vĩnh Hưng A, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu. Từ thị xã Bạc Liêu theo quốc lộ 1A đến cầu Sập, rồi rẽ theo lối vào chợ Vĩnh Hưng là đến tháp Vĩnh Hưng. Tháp còn có nhiều tên gọi khác như; tháp Lục Hiền, tháp Bhah Dhat...Đây là ngôi tháp cổ hiếm hoi còn sót lại ở Đồng bằng Sông Cửu Long. Tháp Vĩnh Hưng đã được công nhận là di tích lịch sử văn hoá vào năm 1992 và tiến hành trùng tu, tôn tạo.

2. Lịch sử khảo cổ
Tháp Vĩnh Hưng được ông Lunetdelaponguiere - nhà khảo cổ Pháp - phát hiện vào năm 1911 và liệt vào danh mục các di tích kiến trúc Khmer dưới tên gọi là tháp Trà Long, có số hiệu 902. Nhà cầm quyền Nam kỳ xếp hạng số 14 trong danh mục các di tích lịch sử của xứ Nam Kỳ. Năm 1917, ông Henri Par Mantier viết thông báo ngắn trong tập san của trường Viễn Đông Bác Cổ, cho biết trong danh mục các di tích Campốt, tháp có tên Tra Long. Ngoài ra, trong thời gian này, tháp còn được biết dưới tên gọi là tháp Lục Hiền (Lục Hiền là tên của nhà sư, đứng đầu băng cướp ở vùng này). Trong bộ sách (khảo cổ học Châu Thổ sông Mê Kông (1959) Louis Malleret còn cho biết thêm: tháp ở gần ngôi chùa Vát-Bhah-Dhat, nên có lẽ nó cũng có tên tháp Bhah Dhat.

Vào những năm 1911, 1917, 1959, các nhà khảo cổ Pháp đã đến khảo sát và phát hiện rất nhiều hiện vật trong khu vực tháp, chủ yếu là vật thờ cúng. Đặc biệt, trong số ấy có tấm bia do H.Parmentir tìm thấy ở trong chùa cạnh tháp. Bia khắc chữ Phạn, ghi rõ tháng Karhila, năm 814, tương ứng với năm 892 sau công nguyên, và tên của vua Yacovan-Man (thế kỷ thứ IX). Các nhà khảo cổ phỏng đoán tháp được xây dựng vào khoảng thế kỷ IX sau Công nguyên. Đầu năm năm 2002, các nhà khảo cổ đã tiến hành khai quật để sưu tầm và trưng bày các hiện vật, tư liệu liên quan đến tháp cổ này.

Dựa vào những phát hiện khảo cổ đến nay, các nhà khảo cổ nhận định tháp Vĩnh Hưng không phải là một di tích đơn lập và đơn độc, cùng với nó, cũng như sớm hơn và muộn hơn nó còn có các di tích khác nhau thuộc dạng cư trú, sinh hoạt phân bổ ở nhiều điểm trong vùng Vĩnh Hưng. Các di tích này là những phế tích, dấu vết của một khu cư dân khá lớn đã phát triển và tồn tại từ cách nay nhiều thế kỷ, trong đó, tháp Vĩnh Hưng là một di tích quan trọng và duy nhất còn bảo tồn được khá nguyên vẹn cho đến nay.

3. Kiến trúc. 
Tháp được xây dựng trên một do đất diện tích khá lớn, cao hơn mặt ruộng hiện tại là 50 cm. Vị trí của tháp nằm gần bờ mép phía Đông của doi đất này. Chân tháp hình chữ nhật, chiều Đông - Tây rộng 5,6 m, chiều Bắc - Nam dài 6,9 m. Mặt cửa tháp chếch về hướng Tây 55o. Chiều hiện tại của tháp là 8,2 m (tính từ nền tháp), đỉnh tháp đã sập. Bên trong tháp rỗng, có thể nhìn thấy bầu trời.

Tháp được xây bằng gạch, độ dầy chung quanh chân tháp đều bằng nhau, kích thước 1,8 m. Trong lòng tháp, cạnh Đông và Tây đo được 3,8 m, cạnh Bắc - Nam 3,2 m, cạnh phía Nam 4 m, cạnh phía Tây (tức phần cửa Tháp từ vách phía Bắc đến vách phía Nam) 3,5 m. Từ chân tháp trở lên cách vách Đông, Bắc và Nam gạch được xây thành hàng ngang kết dính vào nhau không thấy vữa trong gian, chiều cao từ nền lên đến 5,9 m tường xây thẳng đứng, từ độ cao 5,9 m lên phía đỉnh xây thu hẹp dần vào phía trung tâm, tạo thành vòm cong khoảng 15o. Cả 3 vách tường đều xây nối ghép vào nhau không có kẽ hở, không có lỗ thủng trên vách, nhìn chung tháp rất cân đối. Tường tháp ở tầng dưới xây khá dầy (1,8 m), từ độ cao 4 m trở lên, tường có phần mỏng hơn, độ dày vào khoảng 1m, lên đến gần đỉnh thì độ dày chỉ còn 0,55 m. Trên các mặt tường không thấy hiện tượng xây nhô ra thụt vào tạo thành cột giả, ngoại trừ vài đường gờ ngang ở gần móng nối dưới chân tháp. Đồng thời cũng không thấy dấu vết của các phù điêu khắc chạm hoặc các chi tiết kiến trúc khác.

Gạch xây tháp có hai loại khác nhau về màu sắc, chất lượng cũng như kích thước. Loại gạch màu đỏ dùng lát nền, xây từ chân móng đến độ cao 4 m. Từ 4 m trở lên, người ta xây bằng loại gạch màu trắng, loại này có trọng lượng nhẹ hơn loại gạch màu đỏ. Qua hố đào thăm dò trước cửa tháp, cách chân tháp 2,6 m cho thấy nền móng chiêm của tháp rất kiên cố, mặt nền xây gạch, dưới lớp gạch 60 cm là lớp cát được nện rất chặt (các lớp cát phía dưới đều như vậy) phải dùng xà beng mới nại ra được. Từ độ sâu này trở xuống có 6 lớp cát và 5 lớp đá xen kẽ nhau, mỗi lớp cát dày 20 cm, lớp đá 5 cm.


Tháp Vĩnh Hưng có cấu trúc khá đơn giản và mộc mạc, mặc dù thế kỷ IX là giai đoạn phát triển của loại hình kiến trúc này. Trong tháp chỉ thấy có những cấu trúc cơ bản không thể thiếu của 1 "Điện tháp". Nó gồm một phòng có nền hình chữ nhật, móng nổi không cao, tường dầy đứng thẳng, nóc cao uốn thành vòm, với một cửa chính. Ngoài ra, trên tháp hoàn toàn không có các xây cất gia công cầu kỳ, tạo thành cửa giả, các phù điêu chìm nổi và cũng không thấy loại nóc xây thành từng cấp phức tạp.

4. Hiện vật
Qua nhiều lần khai quật, các nhà khảo cổ tìm thấy những hiện vật sau đây:
- Một bàn tay tượng thần bằng đồng.
- Một phần thân dưới của tượng nữ thần (đá sa thạch)
- Một tượng nữ thần bằng đá xanh
- Một tượng thần Brahmá 4 mặt bằng đồng
- Một đầu tượng Phật bằng đồng, tên đầu có nhụ kế (UNisa)
- Một cánh tay đủ 5 ngón, có đeo vòng ở cổ tay (chất liệu bằng đồng)
- Một đinh ba lửa (chất liệu bằng đồng)
- Ba đoạn cọc gỗ.

5.Giá trị lịch sử, khoa học, văn hoá, nghệ thuật

Tháp Vĩnh Hưng là di tích kiến trúc cổ duy nhất còn được bảo tồn ở Đồng bằng Sông Cửu Long có giá trị về mặt nghệ thuât, văn hoá của người Khmer Nam Bộ. Mỗi ngày các nhà sư trong chùa tháp tụng kinh hai lần bằng tiếng Việt, một lần vào lúc 4 giờ sáng, một lần vào lúc 4 giờ chiều. Hàng năm, đến ngày 15-01 âm lịch, chùa tháp tổ chức giỗ lớn, Phật tử trong và ngoài tỉnh đến cúng bái. Hiện nay, các mặt tường bên trong tháp có hiện tượng sứt mẻ nham nhở; các mặt tường bên ngoài tháp do thiên nhiên, cây dối mọc làm hủy hoại, sứt mẻ nặng nề hơn; đặc biệt ở khoảng giữa thân tháp có hiện tượng xoáy mòn nghiêm trọng.



Sưu tầm