Thứ Ba, 2 tháng 10, 2012

Độc đáo nhà cổ miền Tây: Ngôi nhà nhiều cột nhất Nam bộ



Nội thất bên trong ngôi nhà trăm cột













Được công nhận di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia từ năm 1997, ngôi nhà của bà Trần Thị Ngỏ ở ấp Cầu Ngang, xã Long Hựu Đông, H.Cần Đước (Long An) có thể xem là ngôi nhà có nhiều cột nhất ở Nam bộ.

Độc đáo nhà trăm cột
Với lối kiến trúc độc đáo mang đậm phong cách Huế, ngôi nhà trăm cột (68 cột chính và 52 cột phụ) được ông Trần Văn Hoa khởi công xây dựng từ năm 1898 với tổng diện tích 822 m2, theo kiểu
nhà rường, mái lợp ngói âm dương, nền móng được bao kè bằng đá xanh lục giác, đến năm 1904 thì hoàn thành. Đầu thập niên 1970, mặt tiền ngôi nhà được sửa lại theo kiểu tân thời, ốp gạch mosaic, nhưng các vì kèo xuyên qua phần gạch xây mới vẫn giữ được nét chạm trổ độc đáo.
Qua hơn một thế kỷ, bên trong nhà, những hàng cột gỗ cẩm lai, gõ đỏ đã lên nước bóng lộn. Nội thất còn khá nguyên vẹn với vách lụa, cửa võng, bao lam, khám thờ... Các tác phẩm điêu khắc, chạm lộng công phu, độc đáo với những hình tượng như long, lân, quy, phụng, mai, lan, cúc, trúc, tùng, lộc, dơi, nho, sóc... mặc dù một số đã bị phủ một lớp sơn bóng nhưng vẫn còn giữ nguyên vẻ đẹp tinh tế, sắc sảo. Những bức hoành phi, liễn đối và những chiếc đèn lồng kéo quân không vết bụi bám, chứng tỏ chủ nhân ngôi nhà đã rất trân quý và lau chùi chúng thường xuyên.
Ngôi nhà trăm cột nhìn từ mặt tiền - Ảnh: Hoàng Phương
Ngôi nhà trăm cột nhìn từ mặt tiền - Ảnh: Hoàng Phương
Tuy nhiên, trái ngược với nội thất bên trong, cổng chính của ngôi nhà hiện đã quá xập xệ, cánh cổng được đóng tạm bằng gỗ, sứt bản lề phải lấy dây buộc tạm. Vì vậy, du khách đến tham quan phải đi bằng cửa sau. Ngay trước sân nhà, cỏ dại mọc um tùm, rào giậu hoang sơ, nhiều chậu kiểng sứt mẻ. Bên cạnh tấm bia di tích do Bộ VH-TT-DL xây, tấm bản đồ quy hoạch khoanh vùng bảo vệ của ngôi nhà đã tróc sơn, được chủ nhà tô vẽ lại nguệch ngoạc, nhìn không rõ. Nhưng đường vào di tích còn tệ hơn, chiều ngang con đường bê tông chỉ vừa đủ cho một chiếc xe gắn máy đi qua, lại sụt lún nhiều chỗ, mùa mưa thì rêu phong, trơn trợt, dễ bị té.
Long đong số phận di sản
Theo bà Trần Thị Ngỏ thì từ năm 2010, khi chồng bà là ông Trần Văn Ngô, hậu duệ của cụ Trần Văn Hoa qua đời, bà và người con trai út Trần Thanh Nhã quản lý ngôi nhà này. Khi có khách tham quan thì bà đứng ra thuyết minh. Từ năm 2005 đến nay, ngôi nhà đã qua 3 lần tôn tạo và sửa chữa với chi phí hơn 800 triệu đồng. Nhưng hiện tại, ngôi nhà vẫn xuất hiện nhiều chỗ hư hỏng, một số cột kèo phía nhà sau bị mối gặm nhắm. Con trai bà phải dùng thuốc trừ mối quét thường xuyên.
Rất nhiều du khách đến tham quan ngôi nhà này, có đoàn cả trăm người, sổ lưu niệm cũng được ghi dày cộm. Nhưng theo bà Ngỏ thì tùy lòng hảo tâm, có đoàn tặng vài trăm ngàn đồng, có đoàn không. Số tiền này được sử dụng bù vào chi phí điện, nước, trà, bánh, còn việc lau chùi, quét dọn và cắt cỏ ngoài sân thì bà tự lo.
Cũng theo bà Ngỏ thì toàn bộ diện tích của khu đất trên giấy tờ là 4.866 m2, trong đó diện tích ngôi nhà 822 m2, còn lại khu vườn 4.044 m2. Nhưng năm 1997, khi các cơ quan chức năng lập quy hoạch bản đồ khu di tích thì khu vườn chỉ còn 3.222 m2. “Khi phát hiện bị hàng xóm lấn chiếm 822 m2, tôi làm đơn khiếu nại khắp nơi. Nhưng khi tỉnh xuống xác minh, họ bảo tôi phải khởi kiện ra tòa vì hai bên đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tôi nói với các cơ quan chức năng rằng đây là di tích cấp quốc gia, vì sao chỉ mình tôi ra tòa? Vậy là họ bỏ luôn từ năm 2010 tới nay. Cũng vì vậy mà khi tôi lập thủ tục sang tên cho con trai là Trần Thanh Phong thừa kế quản lý di sản thì xã không cho, lý do là đất có tranh chấp”.
Hoàng Phương - Ngọc Phan































































































Dòng họ danh gia vọng tộc xây nhà trăm cột

Điều độc đáo là ngôi nhà có rất nhiều cột, đây chính là bí quyết để ngôi nhà qua hàng trăm năm vẫn kiên cố, vững chãi. Người ta gọi là nhà Trăm Cột, tuy nhiên trên thực tế, khi hoàn thành nhà có 160 cột.

Năm 1997 nhà nước cấp chứng nhận Di sản Quốc gia, chính thức gọi là nhà trăm cột cho bớt dài dòng. Đó chính là điều làm nên nét đặc sắc của ngôi nhà ở miệt sông nước này.
Di tích lịch sử văn hóa Nhà trăm cột được công nhận là Di sản Quốc gia
Ngôi nhà “độc” ở miệt vườn sông nước
Thuở xưa, ở xứ Long Hựu (làng Long Hựu, tổng Lộc Thành Hạ, tỉnh Chợ Lớn, xã Long Hựu Đông, huyện Cần Đước, Long An) có gia đình ông hương sư, trưởng giả tên là Trần Văn Hoa (1879 – 1952) giàu nức tiếng. Ông là một đại địa chủ đức trọng, tài cao, ăn ở có trước có sau nên được dân chúng trong vùng mến mộ kính nể.
Bà Trần Thị Ngõ (SN 1947, là cháu dâu, người gọi ông Hoa bằng cố), là hậu thế, không chứng kiến cảnh xây nhà, thế nhưng bà nghe cha chồng kể lại rằng: “Ngôi nhà xây mất 5 năm mới xong, trong đó 2 năm xây dựng, 3 năm chạm khắc”. 15 nghệ nhân Huế được ông Hoa nuôi ăn ở ngay trong nhà suốt 5 năm trời.
Hương sư Trần Văn Hoa người xây nhà trăm cột
Tuy phải nhờ đến nghệ nhân, nhưng việc thiết kế mẫu nhà lại là do chàng trai Trần Văn Hoa quyết định. Bởi, ai cũng biết, tuy mới 22 tuổi đời nhưng Hoa cực giỏi về kiến trúc, đó là điều hiếm thấy ở chốn miệt sông nước, nơi xưa nay chỉ có cách dựng nhà bằng cây chàm, lợp lá dừa tạm bợ.
Anh Trần Văn Ngộ (tính theo đời ngôi nhà thì anh là cháu đời thứ ba của cụ Hoa) kể với tôi rằng, tất cả công đoạn xây nhà được ông nội kể lại là rất kỳ công, mất rất nhiều công sức, thời gian, còn chi phí thì không thể nào tính nổi. Tất cả vật liệu nhà như gỗ, gạch nền, đá trụ, ngói lợp hoàn toàn lấy từ nơi khác chứ không phải ở quê nhà như người ta lầm tưởng. Vì xứ Long Hựu hồi đó nhiều rừng, nhưng chủ yếu cây thân xốp, không có loài gỗ tốt theo yêu cầu của nhà rường.
Gỗ tốt chỉ có ở vùng  Tân Uyên - Thủ Dầu Một (Bình  Dương ngày nay), còn phần dự tính dùng đá xanh, gạch lục giác. Đá xanh thì chỉ có một số ngọn núi ở vùng Biên Hòa, còn gạch ở các lò ở Biên Hòa nổi tiếng bền đẹp, không chê vào đầu được.
Mặt trước của ngôi nhà trăm cột
Về quê, ông cho người lên vùng rừng Tân Uyên - Bến Cát, chọn những loài cây thân gỗ như: Gõ đỏ, mun, thao lao, cẩm bông, trắc, giá tị, trong đó đặc biệt gỗ giá tị, được mệnh danh là “vua gỗ”  mà người ta chỉ dùng làm báng súng được ông ưu tiên tìm với số lượng nhiều nhất.
Đích thân ông Hoa chọn những thân cây lớn nhất, dài nhất đẳn nguyên cây, lọc phần vỏ và phần có thể mục bên ngoài, chỉ còn lõi rồi phơi khô. Tuy nhiên, phần vận chuyển mới thực khó khăn. Bởi, tính khoảng cách đường chim bay thì từ Bến Cát - Tân Uyên về đến Long An không quá trăm km.
Thế nhưng, hồi đó không hề có đường lớn, chỉ có những con lộ nhỏ, nhưng không có phương tiện để vận chuyển hàng trăm thớt gỗ khổng lồ, nặng hàng tấn. Chàng thanh niên Trần Văn Hoa đã chọn đường sông để đưa gỗ về.
Hệ thống sông Sài  Gòn chảy từ hồ Dầu  Tiếng (Tây Ninh ngày nay) nối Thủ Dầu Một cắt qua tỉnh Chợ Lớn (ngày nay là ranh giới địa phận Long An và Sài Gòn), xuôi về hạ nguồn, đổ ra cửa biển. Xứ Long Hựu nhà ông chính là điểm mút của hạ nguồn sông, từ cửa biển có con rạch dẫn vào tận nhà ông. Vì thế, chỉ cần đưa gỗ lên bè, từ Thủ Dầu Một cho chảy xuôi là về đến nhà ông.
Ngày vận chuyển gỗ, chứng kiến sự kiện ông hương sư xây nhà mà ngỡ như xây một kinh thành bằng gỗ. Những thân cây khổng lồ ngày nối ngày được vận chuyển bằng bè về, xếp ngổn ngang trên mảnh đất nhà ông. Song song với đó là một đội đào đất cơi nền.
Nội thất bên trong ngôi nhà trăm cột
Xong xuôi, ông lại cho người ngược Biên Hòa chọn những thớt đá xanh đục đá, đích thân ông tìm đến lò gạch uy tín nhất ở Biên Hòa đặt nung gạch lục giác và ngói liệt (loại ngói dành riêng lợp nhà rường) vận chuyển về. Sau khi vật liệu xong xuôi, 15 nghệ nhân điêu khắc, kiêm dựng nhà làng Mỹ Xuyên, được ông Hoa chính thức mời vào ăn ở ngay trong nhà, cùng ông thiết kế.
Ngày ấy, nhà ông Hoa giàu, công bộc sòng phẳng, nên những nghệ nhân không nề hà, cống hiến hết mình. Tổng giá trị ngôi nhà khoảng 15 nghìn đồng (thời tiền tính bằng xu, cắc). Ngày khánh thành nhà, một lễ tân gia trước nay chưa từng có, những quan tước Nam Kỳ Lục Tỉnh, quan Tây đến chúc mừng rầm rập, dân chúng kéo đến xem như nêm, ăn uống linh đình nhiều ngày trời. Người ta tò mò đến xem một công trình nghệ thuật mà xưa nay vùng sông nước không ai có.
Bà Ngõ cho biết, thời hoàng kim của dòng họ là đời ông Trần Văn Hoa. Thời ông Trần Văn Nhơn cũng giàu, thế nhưng chưa gây được tiếng vang trong Nam Kỳ Lục Tỉnh. Đời ông Hoa đã thừa hưởng sự nghiệp của cha, và đẩy thanh thế dòng dõi họ Trần nhà mình đến độ giàu có tột đỉnh, khắp vùng không ai sánh nổi.
Thế hệ ông Trần Văn Hoa, trong vùng có các hương quan, nhưng tất cả chỉ là hạng “chiếu dưới”. Trong khi Nam Kỳ còn nghèo khó, đi lại chủ yếu là ghe thuyền hoặc xe ngựa, thì thời đó nhà ông Hương sư đã bận com lê, cà vạt, đi giày Tây, đi xe hơi Tắc- Song (Traction Avant) sang trọng của Pháp, lên xuống Sài Gòn - Long Hựu như đi chợ.
Người dân trong vùng ví nhà ông hương sư Hoa như một xã hội thu nhỏ, tự cung tự cấp. Ông Hoa sở hữu gần như toàn bộ ruộng đất của xứ Long Hựu để trồng lúa, cho thuê. Những thửa ruộng màu mỡ bạt ngàn, hút tầm mắt, thẳng cánh cò bay.
Bà Trần Thị Ngõ chủ nhân ngôi nhà vô giá
Trong  nhà bao giờ cũng có hàng trăm người làm công. Có đội đi cày, đội trồng trọt, đội đánh lưới, đội trồng dâu nuôi tằm, đội dệt vải, đội chăn trâu, bò, đội nuôi heo…mỗi đội được phân công những việc làm cụ thể, năm đi mùa đến chẳng bao giờ hết việc.
Anh Trần Văn Ngộ chỉ cho  tôi khoảnh đất sau nhà cho biết, xưa kia ông nội ông kể lại rằng, nhà có hẳn một dãy lớn làm kho đựng lúa, thế nhưng năm 1952 đã bị dỡ bỏ (cũng là dỡ luôn 40 cột, tổng cộng nhà nay còn 120 cột). Bên cạnh là hệ thống chuồng trại chăn nuôi, khu nhà dệt vải, khu nhà ăn uống… nhưng do thời gian và điều kiện kinh tế không được bảo tồn, hư hỏng, nay không còn nữa.
Người dân trong vùng còn đồn nhau, ông Hoa tuy là đại địa chủ, làm quan lớn, tham gia Hội quản hạt Nam kỳ nhưng rất thương người. Ông thuê nhân công, đến hạn chi trả rất sòng phẳng, những năm mất mùa, trong khi các hương chức, cường hào khác bắt dân đền hết, thì ngược lại, nhà ông Hương sư Trần Văn Hoa sẵn sàng bãi bỏ thuế, còn hỗ trợ thêm lúa gạo.
Những kiểu cột, kèo được chạm khắc tinh xảo trong ngôi nhà
Những người nghèo nợ nần các cường hào khác, không có trả, ông đứng ra trả thay và gọi về cho ăn ở trong nhà, tạo công ăn việc làm, nuôi trả công đàng hoàng. Mặt khác, ông lại quan hệ thân mật với quan Pháp, nên rất được Pháp nể. Vì thế, trong những trận càn của Pháp nhà cửa của các hương chức khác bị đốt phá sạch, thì nhà ông vẫn được giữ nguyên.
Người dân làng Long Hựu kể cho chúng tôi rằng, trước kia trong vùng cũng có một số địa chủ cất nhà bằng gỗ lớn. Tuy nhiên, khi biến động, hoặc là giặc Pháp đốt phá, hoặc là dân chúng căm ghét nổi lên đốt sạch, duy chỉ có ngôi nhà của ông Hương sư Trần Văn Hoa không ai đả động đến. 
Ông Trần Văn Hoa là địa chủ dân tộc, có tinh thần kháng giặc. Nhưng do địa vị là giai cấp, gắn lợi ích với quan Tây, nên ông không thể chống đối ra mặt, tuy nhiên gia đình giúp đỡ cách mạng thời kỳ phôi thai rất nhiều.
Một số cột được thiết kế tinh xảo bên trong ngôi nhà trăm cột
Trước những năm 30, nhà ông là nơi lui tới của những sỹ phu yêu nước. Sau những năm từ 1930 trở đi, cách mạng ở Nam Kỳ đang nhen nhóm, ngôi nhà che chở, giúp gạo cho những người làm cách mạng rất nhiều. Và, để dung hòa mối quan hệ, ban ngày nhà ông trở thành nơi tiếp các quan chức, binh lính Pháp, đêm lại là nơi lui tới của những cán bộ làm cách mạng.
Trong nhà ông từng đào hệ thống hầm ngầm thông ra các con sông quanh nhà, cho những người làm cách mạng lẩn trốn. Thế nhưng, sau con cháu đã lấp hết, nay không còn dấu tích.
Chúng tôi được gia chủ dẫn đi thăm từng ngăn của căn nhà, giới thiệu từng loại đồ vật. Thú thực, chỉ có tận thấy những gì có ở đây, người ta mới cảm nhận được độ giàu có một thời của dòng họ này như thế nào. Tuy nhiên, như một quy luật, huy hoàng rồi sẽ lụi tàn, năm 1952 ông hương sư Trần Văn Hoa mất, con ông là trần Văn Miên không theo nghiệp cha, con cháu không còn ai giàu có nữa.


Chiêm ngưỡng nhà Trăm Cột - Tuyệt phẩm độc nhất xứ Nam Kỳ


(Nguoiduatin.vn) - Từ Chợ Lớn, ông đã cất công ra Huế xem cách làm nhà rường. Sau 5 năm ròng rã, tuyệt phẩm nhà Trăm Cột, độc nhất vô nhị xứ Nam Kỳ mới hoàn thành.
Lặn lội tầm nghệ nhân dựng nhà
Thuở xưa, ở xứ Long Hựu (làng Long Hựu, tổng Lộc Thành Hạ, tỉnh Chợ Lớn, xã Long Hựu Đông, huện Cần Đước, Long An) có gia đình ông Hương sư, trưởng gia tên là Trần Văn Hoa (1879 - 1952) giàu nức tiếng. Tuy là địa chủ nhưng ông đức trọng, tài cao, ăn ở có trước có sau nên được dân chúng trong vùng mến mộ, kính nể.
Thân sinh ông Hương sư là cụ Trần Văn Nhơn, một người cần cù, siêng năng, chịu khó. Thuở trước xứ Long Hựu hoang vu, chưa người khai phá, chỉ có cây ngập nước, kênh rạch. Một mình cụ Nhơn cất công đến phát cây, đào đất đắp ụ dựng nhà. Nhờ biết cách trồng lúa, năng chăn nuôi, chẳng mấy chốc, gia đình cụ Nhơn vươn lên thành nhà có của ăn của để. Nghe tiếng, người dân tìm đến nhờ cụ bày cách làm ăn, dần dà nhà cửa được dựng lên...
Đồ nội thất trong ngôi nhà vô giá
Rồi cụ Nhơn lập ấp, dựng làng, xứ Long Hựu hình thành từ đó. Không ngừng khai hoang, mua thêm đất, gia đình cụ Nhơn trở thành người có đất đai rộng thẳng cách cò bay, trâu, bò thả đầy đồng. Có vị thế, lại giỏi, nên cụ được các quan Pháp trọng dụng, tiến cử cụ làm chức Hương quan trong vùng (tương đương quan cấp huyện ngày nay), cụ tham gia Hội đồng quản hạt nở Nam Kỳ lục tỉnh. Dù giàu có, địa vị quan lang, thế nhưng cụ Nhơn là một địa chủ có tinh thần dân tộc, thương người, sống để đức cho con cháu. Cụ là người uyên thâm Đông - Tây học, nghiên cứu sâu những tư tưởng nho học vào cuộc sống thường ngày, để tạo dựng khuôn phép gia đình, rèn dũa con cháu giữ gìn nề thói gia phong, nên không những dân chúng kính trọng cụ, mà quan Tây cũng nể phục.
Thế hệ con cháu của cụ kể lại rằng, cụ Trần Văn Nhơn là người rất mẫu mực, đặc biệt chú trọng rèn dũa con cháu theo khuôn phép Nho giáo. Cụ am hiểu nhiều lĩnh vực, trong đó đặc biệt thích nghệ thuật kiến trúc và có ý định xây dựng một ngôi nhà theo đúng cốt cách gia đình phong kiến truyền thống xưa.
Trong mấy người con mà cụ Nhơn sinh ra có Trần Văn Hoa, có nhiều tư chất giống ba nhất. Thông minh, khiêm tốn, cần cù, từ nhỏ đã biết thương người, Hoa được cha đặt nhiều kỳ vọng và dạy dỗ rất nghiêm ngặt.  Nhà giàu có, Hoa còn được đi học trường Tây, về nhà lại được cha truyền thừa tư tưởng nho giáo, nên sớm lĩnh hội được những tư tưởng tiến bộ, thức thời. Năm 1901, Trần Văn Hoa tròn 22 tuổi. Một ngày, cụ Nhơn gọi Hoa lại và bảo: "Này con trai, từ lâu ta rất muốn xây dựng một ngôi nhà theo lối cha ông xưa. Một đời lao lực làm ăn, giờ ta đã già không còn sức, tất cả ta chỉ trông chờ vào con. Ta biết Huế là xứ của kiến trúc nhà truyền thống rường cột, không chỉ đẹp mà chắc chắn, chỉ làm một lần đời sau con cháu cứ thế nối tiếp mà ở. Con hãy làm một ngôi nhà như thế".
Hiểu ý cha, chàng thanh niên Trần Văn Hoa thu xếp việc nhà, cất công ra tận Huế thăm thú các công trình cung đình của các vua chúa xưa. Ông nhận thấy rằng, vùng đất này có lối dựng nhà không chê vào đâu được. Nhất là những ngôi nhà rường cách đây hàng trăm năm vẫn không hư.
Những ngôi nhà rường ở Huế bây giờ không đơn thuần là nhà ở nữa, mà là tác phẩm đạt đến độ nghệ thuật, người dựng nhà cũng là nghệ nhân. Họ nắm giữ bí quyết dựng nhà đạt được hai yêu cầu, một mặt yên tâm sinh sống ngay trên miền quanh năm gió bão và mặt khác đạt độ thẩm mỹ cao. Chàng trai 22 tuổi nhận ra rằng, ngoài gỗ tốt ra, điều cốt yếu là do người dựng.  Và ở xứ Trung Kỳ này chỉ có một ngôi làng mộc, sản sinh những con người khéo tay về điêu khắc gỗ, dựng nhà, đó chính là làng Mỹ Xuyên, cách trung tâm Kinh đô Huế thời đó khoảng 40 km về phía Bắc (hiện nay làng nghề này vẫn còn- PV). Những nghệ nhân xuất thân từ làng này nhiều đời được triệu vào cung để thiết kế, sáng tạo các tác phẩm điêu khắc cho kinh thành và nhà cửa cho các vị quan tướng trong triều. Ông Hoa đã tìm gặp những người này và sau nhiều ngày tuyển chọn, ông quyết định chọn 15 thợ bậc thầy về điêu khắc gỗ có tiếng trong làng, chuẩn bị ngày đưa vào Nam dựng nhà.
Mặt tiền của nhà Trăm Cột
Gian nan ngày dựng nhà
Tuy phải nhờ đến nghệ nhân, nhưng việc thiết kế mẫu nhà lại là do chàng trai Trần Văn Hoa quyết định. Bởi, ai cũng biết, tuy mới 22 tuổi đời nhưng Hoa rất giỏi về kiến trúc, đó là điều hiếm thấy ở chốn miệt sông nước, nơi xưa nay chỉ có cách dựng nhà bằng cây chàm, lợp lá dừa tạm bợ.
Anh Trần Văn Ngộ (chắt của cụ Hoa) kể với tôi rằng, tất cả công đoạn xây nhà được ông nội kể lại là rất kỳ công, mất rất nhiều công sức, thời gian, còn chi phí thì không thể nào tính nổi. Tất cả vật liệu nhà như gỗ, gạch nền, đá trụ, ngói lợp hoàn toàn lấy từ nơi khác chứ không phải ở quê nhà như người ta lầm tưởng. Vì xứ Long Hựu hồi đó nhiều rừng, nhưng chủ yếu cây thân xốp, không có loài gỗ tốt theo yêu cầu của nhà rường. Gỗ tốt chỉ có ở vùng  Tân Uyên - Thủ Dầu Một (Bình  Dương ngày nay), còn phần dự tính dùng đá xanh, gạch lục giác. Đá xanh thì chỉ có một số ngọn núi ở vùng Biên Hòa, còn gạch ở các lò ở Biên Hòa nổi tiếng bền đẹp, không chê vào đầu được.
Về quê, ông Hoa cho người lên vùng rừng Tân Uyên - Bến Cát, chọn những loài cây thân gỗ như: Gõ đỏ, mun, thao lao, cẩm bông, trắc, giá tỵ. Đặc biệt gỗ giá tỵ, được mệnh danh là "vua gỗ" - chỉ dùng làm báng súng -  được ông ưu tiên tìm với số lượng nhiều nhất. Đích thân ông Hoa chọn những thân cây lớn nhất, dài nhất đẵn nguyên cây, lọc phần vỏ và phần có thể mục bên ngoài, chỉ còn lõi rồi phơi khô. Tuy nhiên, phần vận chuyển mới thực khó khăn. Bởi, tính khoảng cách đường chim bay thì từ Bến Cát - Tân Uyên về đến Long An không quá trăm km. Thế nhưng, hồi đó không hề có đường lớn, chỉ có những con lộ nhỏ, nhưng không có phương tiện để vận chuyển hàng trăm thớt gỗ khổng lồ, nặng hàng tấn. Chàng thanh niên Trần Văn Hoa đã chọn đường sông để đưa gỗ về. Hệ thống sông Sài Gòn chảy từ hồ Dầu Tiếng (Tây Ninh ngày nay) nối Thủ Dầu Một cắt qua tỉnh Chợ Lớn (ngày nay là ranh giới địa phận Long An và Sài Gòn), xuôi về hạ nguồn, đổ ra cửa biển. Xứ Long Hựu nhà ông chính là điểm mút của hạ nguồn sông, từ cửa biển có con rạch dẫn vào tận nhà. Vì thế, chỉ cần đưa gỗ lên bè, từ Thủ Dầu Một cho chảy xuôi là về đến nhà ông.
Ngày vận chuyển gỗ, chứng kiến sự kiện ông Hương sư xây nhà mà ngỡ như xây một kinh thành bằng gỗ. Những thân cây khổng lồ ngày nối ngày được vận chuyển bằng bè về, xếp ngổn ngang trên mảnh đất nhà ông. Song song với đó là một đội đào đất cơi nền.  Xong xuôi, ông lại cho người ngược Biên Hòa chọn những thớt đá xanh đục đá, đích thân ông tìm đến lò gạch uy tín nhất ở Biên Hòa đặt nung gạch lục giác và ngói liệt (loại ngói dành riêng lợp nhà rường) vận chuyển về. Sau khi vật liệu xong xuôi, 15 nghệ nhân điêu khắc, kiêm dựng nhà làng Mỹ Xuyên, được ông Hoa chính thức mời vào ăn ở ngay trong nhà, cùng ông thiết kế.
Bà Trần Thị Ngõ (SN 1947, là cháu dâu, người gọi ông Hoa bằng cố) cho biết, bà là hậu thế, không chứng kiến cảnh xây nhà, thế nhưng bà nghe cha chồng kể lại rằng: "Ngôi nhà xây mất năm năm mới xong, trong đó hai năm xây dựng, ba năm chạm khắc". 15 nghệ nhân Huế được ông Hoa nuôi ăn ở ngay trong nhà suốt năm năm trời.  Nhà ông Hoa giàu, công bộc sòng phẳng, nên những nghệ nhân không nề hà, cống hiến hết mình. Tổng giá trị ngôi nhà khoảng 15 nghìn đồng (thời tiền tính bằng xu, cắc). Ngày khánh thành nhà, một lễ tân gia trước nay chưa từng có, những quan chức Nam Kỳ lục tỉnh, quan Tây nườm nượp đến chúc mừng, dân chúng kéo đến xem như nêm, ăn uống linh đình nhiều ngày trời. Người ta tò mò đến xem một công trình nghệ thuật mà xưa nay vùng sông nước không ai có.
 Kỳ An
NHÀ CỔ TRĂM CỘT – NÉT KINH KỲ GIỮA LÒNG NAM BỘ
.





Bài và ảnh: Phan Cát Tường.

Cuộc “hôn phối” giữa nét kiến trúc xảo diệu của xứ kinh kỳ và âm hưởng phóng khoáng của cuộc sống vùng sông nước Nam bộ đã mang lại vẻ đẹp hiếm có cho ngôi nhà trên trăm tuổi, vẫn còn khá nguyên vẹn ở Long An.

Vào những năm đầu thế kỷ thứ 20, tại vùng Kênh Nước Mặn (làng Long Hựu, tổng Lộc Thành Hạ, tỉnh Chợ Lớn - nay là xã Long Hựu Đông, huyện Cần Đước, Long An) có một vị Hương Sư rất chuộng nghệ thuật nhà cổ. Ông cho mời một nhóm 15 người thợ mộc từ Huế vào, nuôi ăn nuôi ở trong 5 năm (1898 – 1903) để hoàn thành một kiệt tác “ngôi nhà trăm cột” đậm đà nét Huế nhưng vẫn phảng phất hương vị của miệt cây trái vùng đất Nam Bộ thời khai hoang.


Vị Hương Sư đó chính là Ông Trần văn Hoa (1879 – 1952), chủ nhân đầu tiên của ngôi nhà trăm cột, ngôi nhà đã được Bộ Văn hoá- Thông tin công nhận là di tích Lịch sử- Văn hoá vào năm 1997.

THỔI HỒN VÀO GỖ
Toàn bộ phần “xương” ngôi nhà được làm làm bằng ba loại gỗ quí hiếm, đó là cẩm lai, gõ đỏ, gõ mật được khai thác từ rừng nguyên sinh các tỉnh miền Đông Nam Bộ, một số được chở về từ  hạ Lào và Đông Bắc Campuchia. Qua bàn tay chế tác của những nghệ nhân, gỗ hoá thành Tứ Linh (Long, Lân, Qui, Phụng) mà điểm nhấn chính là đầu Rồng được chạm khắc tỉ mỉ nơi các các đầu kèo. Tám đầu đầu kèo chính là nơi tám đầu rồng nhô ra khỏi mái ngói, như thị uy sức mạnh của gia chủ.

Bước qua khỏi cửa chính, bạn sẽ được thưởng lãm nghệ thuật Tứ thời (Xuân, Hạ, Thu, Đông) với Mai, Lan, Cúc,Trúc được bàn tay khéo léo nghệ nhân xứ Huế “thổi” lên những thân kèo, thoảng trông như dòng thời gian cô đọng lại, tạo nên chút hoài niệm khi khách bất chợt ngước nhìn lên mái ngói rong rêu.

Ngôi nhà tạo cho khách tham quan cảm giác choáng ngợp với tâm trạng của vị khách mới bước vào một buổi đại tiệc miền sông nước khi đứng trước bộ bao lam hoành tráng phía trước bàn thờ Cửu huyền thất tổ. Đó là bộ bao lam Bát Quả gồm 8 loại trái cây miền sông nước Nam Bộ: Mãng cầu, Măng cụt, Khế, Lê ki ma, Điều, Lê, Lựu, Dưa gang được chạm trổ công phu với từng chi tiết diễn tả được cái hồn của từng loại sản phẩm của vùng đất phù sa.

Cái “hậu” của bố cục mang tính thẩm mỹ  là phần chúc phúc Phước – Lộc – Thọ được biểu thị bằng Dơi – Nai – Chim Công  ẩn hiện phía sau phần trình bày Bát Quả làm cho ta có cảm tưởng đang sống trong khung cảnh hoang sơ khi chim muông, cây cối cùng chung sống trong một không gian thanh bình, êm ả.

ĐỂ CHỮ CHO ĐỜI SAU
Chủ nhân ngôi nhà không chỉ để lại cho cho đời sau những tác phẩm nghệ thuật độc đáo mà còn mong muốn con cháu mình tiếp nối giữ gìn truyền thống đạo học.
Ở gian chính của ngôi nhà là bức hoành phi với bốn đại tự bằng chữ  Hán: SƠN TRANG CỔ TẬN, với ý nghĩa mong muốn con cháu sẽ gìn giữ ngôi nhà này mãi mãi trường tồn theo thời gian. Hai bức hoành phi ở hai gian nhà phụ là dòng chữ THIỆN TỐI LẠC, như một lời khuyên đời sau phải lấy điều Thiện như là một cách hành xử để dẫn đến an lành cho cuộc sống.

Bức liễn đối phía phải bao lam: “Hướng sơn y thắng cuộc liễn phi điểu khảo tráng kỳ quang” (nhìn về hướng núi, dựa vào cảnh đẹp cùng cánh chim bay cũng tạo thành kỳ quang), kết hợp với bức liễn đối bên trái: Thiên địa náo trường xuân, mậu trúc mai thanh khai hảo cảnh (Trong sự vận động của trời đất vào mùa xuân, mầm trúc nhú lên, cây mai thanh mảnh tạo thành vẻ đẹp) dường như muốn khai thị cho người xem một nhãn quan thưởng thức cái đẹp trời đất.

BIỂU TƯỢNG CỦA SỰ TRƯỜNG TỒN
Nhiều người cho rằng chủ nhân ngôi nhà, ông Trần văn Hoa, là một người không chỉ  biết thưởng thức nghệ thuật mà còn là người có tầm nhìn xa, trông rộng.

Ngôi nhà nằm sát cửa biển Soài Rạp, nhưng cả trăm năm sau, trong khi các công trình kiến trúc tại địa phương đều bị ngập nước hoặc hư hại thì ngôi nhà ông vẫn  bình chân như vại trước những những cơn bão biển và triều cường. Đó là do ông đã  dự báo được tình huống này nên cho xây nền nhà cao lên đến hơn một  mét và cho liên kết các khung gỗ bằng liên kết ngàm âm dương, nên có thể chịu được những cơn gió mạnh từ biển.

Có điều lạ là qua hai thời kỳ chiến tranh, ngôi nhà chưa hề bị trúng một mảnh bom nào trong khi những trận địa ác liệt diễn ra cách đó chỉ vài cây số. Có thể đây là điều may mắn ngẫu nhiên. Nhưng cũng có giả thiết cho rằng ông đã chọn một vị trí thật lý tưởng để ngôi nhà được bảo vệ  tối đa, đó là vị trí nằm phía bờ biển, ngoại vi đồn Rạch Cát - một trận địa pháo 105 mm được xây từ thời thực dân Pháp (nay cũng là điểm tham quan  du lịch). Tại vị trí bờ biển này, không thích hợp để xuất phát những cuộc tấn công đồn, cũng như không là điểm nghi vấn để xảy ra oanh tạc của không quân.

Nhưng trên hết, người ta cho rằng ngôi nhà này là một món quà độc đáo cho người dân Nam Bộ, nhất là dân vùng hạ Long An. Vào thời điểm mà việc đi lại hết sức khó khăn, sự hiện diện của nghệ thuật Huế tại vùng sông nước Nam Bộ chính là một quà tặng lớn lao cho những ai cả đời khao khát về nguồn nhưng chưa một lần đặt chân lên đất cố hương.
                                                                           

SỐ LIỆU THAM KHẢO:
-          Diện tích nhà trăm cột: 888 m2, hướng chính diện Tây Bắc
-          Diện tích toàn bộ vườn, nhà: 5.000 m2
-          Tổng số cột: 120, trong đó có 68 cột tròn, 52 cột vuông
-          Kiểu ngói: Âm dương. Kiểu gạch: Lục giác, chất liệu đất nung.

THÔNG TIN THÊM VỀ TUYẾN DU LỊCH:
-          Từ TP.HCM, bạn theo tỉnh lộ 50, đi khoảng 35 km về Thị trấn Cần Đước (Long An). Tại đây sẽ có bảng hướng dẫn khách rẽ vào một hương lộ nhỏ, đi về kênh Nước Mặn (Cần Đước – kênh Nước Mặn: 7 km)
-          Qua phà kênh Nước Mặn, đi chừng 3km nữa là đến Nhà Trăm Cột, cách cửa biển Soài Rạp khoảng 1 km.
-          Có thể liên lạc với chủ nhân hiện nay của Nhà Trăm Cột, ông Trần Văn Ngộ (xã Long Hựu Đông, Cần Đước, Long An  - ĐT: (072) 3 88 44 05) để được thông tin chi tiết về dịch vụ lữ hành.

Di tích lịch sử - văn hóa Quốc gia
“ Nhà Trăm Cột”
I. Tên gọi của di tích:
Nhà Ông Cả trước đây có tên gọi là Nhà Ông Hội Đồng vìông Trần Văn Hoa là người xây dựng ngôi nhà này lúc đó giữ chức Hội Đồng. Sau đó ông Trần Văn Miên (con ông Trần Văn Hoa) giữ chức Hương cả. Từ đó ngôi nhà này được gắn với cái tên của ông Miên (Hương cả Đô) thường gọi là ông Cả.
Ngôi nhà còn được gọi là nhà trăm cột vì được làm bởi rất nhiều cột (120 cột)
II. Địa điểm phân bố - đường đi đến di tích:
Nhà Ông Cả nằm ở ấp Trung xã Long Hựu, nay gọi là LongHựu Đông, huyện Cần Đước, tỉnh Long An, cách thị trấn Cần Đước 10km về hướng Đông.
Từ thị trấn Cần Đước đi theo tỉnh lộ 50, 3km đến ngã ba kinh, đi theo hương lộ 23, 4km đến đò kinh, qua đò đi tiếp 3km nữa đến Ủy ban nhân dân xã Long Hựu Đông. Từ đây có con đường đi vào ấp ở phía tay phải khoảng 200m là đến ngôi nhà.
III. Sự kiện- nhân vật lịch sử và thuộc tính của di tích:
Theo lời kể của ông Trần Văn Ngộ, chủ nhân hiện tại của ngôi nhà thì nhà Ông Cả đã tồn tại được 91 năm. Người xây dựng ngôi nhà này là ông Trần Văn Hoa cư ngụ tại địa phương, lúc bấy giờ đang giữ chức Hội Đồng Quận.
                Đầu tiên ông Hoa phải bỏ ra vài trăm để chuẩn bịnguyên vật liệu, mua gỗ từ trên rừng về, mua gạch ngói ở Bình Dương (Sông Bé).Sau đó ông thuê một nhóm thợ chạm nổi tiếng ở Miền Bắc (15 người) vào làm ròngrả trong 3 năm thì hoàn thành. Ngôi nhà được làm bằng loại gỗ tốt (cẩm lai vàgỗ đỏ) nên rất bền. Từ khi xây dựng cho đến nay ngôi nhà được sửa chữa một lần vào năm 1969 do ông Trần Văn Miên đời con ông Hoa làm. Thời gian sửa chữa 10ngày và chi phí hết 4 lượng vàng. Chủ yếu sửa chữa phần trước ngôi nhà, xây lạitường, lắp các cánh cửa, lát gạch tráng men ở hàng hiên và làm lan can phíatrước.
Ở phía sau ngôi nhà lớn này, trước đây còn có một ngôi nhà ngang dài 20m, rộng 8m. Nhà có khoảng 30 cây cột gỗ cẩm lai, mái lợp ngói âm dương, được xây dựng đồng thời với ngôi nhà lớn năm 1952 Ông Trần Văn Miên(Tự Đô) đã bán cho người hoa ở kinh nước mặn với giá 20 ngàn đồng. Khoảng đất đó hiện nay vẫn bỏ trống không được xây dựng gì.
Từ đó đến nay, ngôi nhà đã trảiqua năm đời con cháu cai quản theo thứ tự sau:
- Ông Trần Văn Hoa – đời ông
- Ông Trần Văn Miên (Hương cả Đô) – đời con
- Ông Trần Văn Ngộ - đời cháu
Vào thời điểm lúc bấy giờ khi mà nhân dân lao động xung quanh còn ở những mái nhà lợp lá thì ngôi nhà ông Cả nổi bật lên vì vẻ đẹp và sự sự sang trọng của nó. Ngôi nhà khẳng định địa vị của chủ nhân là một quanchức quan trọng trong xã hội, nó cũng tỏ thanh thế uy quyền của ông chủ đối với nhân dân trong vùng.
Nhà ông Cả được xây dựng lên với mục đích chủ yếu là để có chứ không thể cúng thần nào cả.
IV. Loại di tích:
Nhà Ông Cả là một di tích kiếntrúc nghệ thuật thuộc loại hình kiến trúc dân dụng.
V.Khảo tả di tích:
Nhà Ông Cả nằm ở ấp Trung, xã Long Hựu Đông, bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc, đều giáp với các hộ dân cư ở ấp này toàn bộ diện tích của ngôi nhà, luôn cả đất vườn xung quanh là 3.456m. Riêng diện tích của ngôi nhà là 460,81m2 nhà được xây dựng theo kiểu chữ đinh(j) có hai cổng đi vào ở hướng Đông và hướng Nam. Cổng được xây bằng xi măng bên trên có mái che (hiện nay mái che không còn nữa) lối đi từ cổng vào đến bậc thềm được lát gạch. Nền nhà cao 92cm, được cẩn đá hộc và xi măng, xung quanh có5 bậc tam cấp để lên xuống. Nền nhà được lát gạch hình lục giác màu nâu. Ngôi nhà có tất cả là 120 cột bằng gỗ cẩm lai (68 cột tròn và 52 cột vuông) các cột  tròn được phân bổ thành 6 hàng ngang; cột được bào nhẵn. Hàng cột cao nhất (có trang trí bao lam) cao 4,90m, đường kính 25cm, còn cột vuông được phân bố chủ yếu ở các vạch tường và hai bên chái phía sau.
Nhà gồm có 5 gian, 2 chái, ở phía sau 2chái nhà đối xứng nhau qua 1 cái hồ khô không nước, có diện tích là 69,52m2.Bờ thành của hồ cũng chính là chiều cao của nền nhà ở phần này (8,5cm). Một bức vách chạy ngang nhà (ở phần giữa) ngăn ngôi nhà lớn ra thành phần trước và phầnsau, được thông nhau qua một cái cửa phía bên trái. Mái nhà được lợp ngói âm dương, bên dưới lợp ngói thì có quét vôi cho đẹp. Các bức vách xung quanh đềubằng gỗ. Mỗi đầu gồm kèm nhiều chạm khắc hình rồng. Ở phần giữa của cây kèo,nơi tiếp với đầu cột, chạm một bông hoa nổi lớn, các thanh xà đều trang trí hoa văn.
Ở hàng cột cao nhất phía trước ngôi nhà,giữa các khung cột  được trang trí 3 bao lam, phần trung tâm của bao lam ở giữa chạm hình chim phụng, hai bên thì chạm hình mai liên điểu. Ở phần trung tâm hai bao lam hai bên chạm hình con chimcông và hai bên là hình chim muông thú hao lá cỏ cây rất công phu. Phía trêncác bao lam là một tổ hợp chạm trổ điêu khắc gồm nhiều mảnh gỗ hình vuông, hình chữ nhật ghép lại thành bức vách, các mảnh này được chạm khắc hình chim muông thú cỏ cây rất điêu luyện. Một vài mảnh được khắc xà cừ rất đẹp.
Tóm lại, toàn bộ phần trang trí là một bứctranh sinh động. Nhìn vào đó chúng ta có cảm giác như đang đứng trước một khung cảnh thiên nhiên hết sức tươi đẹp. Bàn tay nghệ nhân điêu khắc đã thay nhà họa sĩ biến những mảnh gỗ vô tri vô giác thành những sinh vật có linh hồn. Chính mảnh điêu khắc này là nơi tập trung cao nhất về giá trị nghệ thuật của ngôi nhà vì nó đã được nghệ nhân tập trung toàn bộ tài năng để thực hiện.
VI.Các hiện vật trong di tích:


Những đồ vật trong ngôi nhà ông Cả có niên đại với nó đều được làm bằng loại gỗ rất quí (cẩm lai và gỗ đỏ) và được chủn hân qua các đời bảo quản rất tốt.
Phần chính của ngôi nhà được bày 3 bàn thờ bằng gỗ, bên trên có đặt các lư hương bằng đồng và đặt các tấm ảnh những người đã khuất. Hai bên có câu đối bằng chữ nho. Bên tả “ Thiên địa náo trường xuân mậu trúc mai thanh khai hảo cảnh” (tạm dịch: trong sự vận động của trời đất vào mùa xuân, mầm trúc nhú lên, cây mai thanh mảnh tạo nên 1 cảnh đẹp), “ Hương sơn y thắng cuộc liễu phi điểu khảo tráng kỳ quan” (tạm dịch: nhìn về núi dựa vào những cảnh đẹp cùng với những cảnh chim bay cũng tạo thành một kỳ quan).
Ở phía trước bàn thờ được bố trí một bộ phận ghế trường kỷ, một bộ bàn tròn và 2 bộ bàn ghế hình chữ nhật. Phía bên phải có đặt một bộ bàn tròn, một bộ sa-long (mặt bàn hình hạt xoài). Có 4 bộván, 7 cái tủ, 3 cái giường đôi được bố trí rải rác trong nhà. Ngoài ra còn 3 tủ sắt để đựng tiền đã bị hư. Ở gian thờ trên 1 thanh sàn có 3 tấm liễn mà người ta tặng ông chủ lúc ăn tân gia. Tấm giữa được sơn son thiếp vàng có 4 chữ nho: “ Sơn trang cổ tận” (núi cao không dứt). Hai tấm 2 bên có dòng chữ giống nhauđược khảm xà cừ “ Thiện cực lạc” làm việc thiện rất vui). Các đồ vật này hiệnnay vẫn còn được giữ nguyên vẹn trong di tích
VII.Giá trị di tích:
Nhà ông Cả là một ngôi nhà tư nhân được xây dựng lên., với mục đích là để ở. Nó không gắn với sự tín ngưỡng của một tôn giáo nào cả. Nhưng nó lại có giá trị nghệ thuật kiến trúc điêu khắc. Từ việc chọn những con vật, cái cây hoa lá để thể hiện, cho đến các đường nét chạm khắc mềm mại, mảnh mai đến hồi hộp, người thợ đã gởi tất cả tâm hồn yêu thiên nhiên của mình vào đây, nó thu hút người xem và tạo cảm giác thanh thoát, nhẹ nhàng đồng thời cũng tạo một tấm lòng cảm phục trước sự điêu luyện tài tình của bàn tay người thợ điêu khắc đã bài trí trên khung cảnh nghệ thuật này.
Ngôi nhà của ông Cả là tư liệu rất phong phú, sinh động cho việc nghiên cứu của những người làm công tác nghiên cứu về loại hình nghệ thuật điêu khắc. Ngoài ra ngôi nhà còn có giá trị về mặt niênđại, nó đã tồn tại gần một thế kỷ nay (91 năm) chỉ trừ phần sau còn phần trước của ngôi nhà, các cột, kèo, xà, các bức vách gần như còn nguyên vẹn.
VIII.Tình trạng bảo quản di tích:
Ngôi nhà của ông Cả sở dĩ tồn tại được lâu như vậy là do được làm bằng loại gỗ tốt. Hơn nữa ngôi nhà luôn có người ở. Các đời con cháu ông nối tiếp nhau ở đây và giữ ngôi nhà. Tuy vậy do thời gian quá lâu, ngôi nhà thì lớn mà chủ nhân không có biện pháp chống mối mọt một cách liên tục nên để cho tình trạng ngôi nhà xuống cấp một cách đáng tiếc. Chỉ cóphần trước ngôi nhà là được bảo quản tốt. Còn phần sau thì chái bên phải còn sử dụng để ở. Chái bên trái thì gần sụp đổ nên chủ nhân bỏ hoang không ở nữa. Ởphần này ngói bị vỡ gần hết, gỗ bị mối ăn, sàn gạch bị bong lên, có nơi sàn bịsụp xuống. Nhìn chung, ở phần sau ngôi nhà này đã bị sụp xuống trầm trọng.
Riêng ở phần trước của ngôi nhà, năm 1969 ông Trần Văn Miên đã cho sửa chữa lại. Các bức tường xây bằng xi măng quét vôi trắng, lắp thêm các cánh cửa bằng gỗ sơn màu xanh, làm thêm hàng lan can ở hiênnhà và sàn hiên được lát gạch trán men.
IX.Các phương án bảo vệ và sử dụng di tích:
Với giá trị đã nêu ở trên của ngôi nhà, thì việc bảo vệ giữ gìn ngôi nhà là rất cần thiết. Nhà ông Cả chủ yếu sẽ được sử dụng vào việc nghiên cứu về lọai hình nghệ thuật chạm trỗ điêu khắc ở đầu thế kỷ XX này.
X. Cơ sởpháp lý để bảo vệ di tích:
Ngày 7 tháng 5 năm 1992 lần đầu tiên ngôi nhà được Hội đồng bảo vệ di tích bao gồm các đồng chí đại diện cho chính quyền xã Long Hựu Đông và các cán bộ quản lý di tích Nhà Bảo tàng tỉnh Long An lập biên bản qui định khu vực bảo vệ di tích. Biên bản đã được chính quyền xã Long Hựu Đông chứng thực.

Với giá trị ấy, năm 1997 Nhà Trăm cột đã được Bộ Văn hóa – Thông tin xếp hạng là Di tích lịch sử - văn hóa Quốc gia (số2890-VH/QĐ/27.09.1997).

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét