Thứ Tư, 17 tháng 1, 2018

Chùa Bồ Đề (Thiên Sơn Tự)


  • delicious
  • googleplus
  • google
  • linkedin
  • live
  • reddit
Chùa Bồ Đề tên chữ Thiên Sơn Tự, được xây từ thế kỷ 15 trên bờ sông Hồng thuộc đất thôn Phú Viên, xã Bồ Đề, huyện Gia Lâm. Xếp hạng: Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia (1990). Địa chỉ hiện nay: ngõ 92 Phú Viên, phường Bồ Đề, quận Long Biên, Hà Nội. Toạ độ: 21°2’8"N 105°52’0"E, cách Hồ Gươm chừng 3km về hướng đông. Điểm dừng xe bus gần nhất: bến Bồ Đề (bus 47, 47b), cách đầu cầu Chương Dương khoảng 500m về hướng nam.
JPEG - 40.3 kb
Tam bảo chùa Bồ Đề trước kia. Ảnh: Võ Văn Tường 2007

Lược sử

Ngày xưa, từ Bồ Đề có hai đường thiên lý, một đường đi qua Phú Thị để sang trấn Kinh Bắc; một đường đi qua Như Quỳnh xuống Hải Dương—Hải Phòng, tức quốc lộ QL5 hiện nay. Còn nếu đi dọc đường đê thì có thể xuống làng Bát Tràng. Đoạn sông Hồng có bến Bồ Đề từng được gọi là sông Bồ Đề, sử cũ có ghi việc vua Mạc Mậu Hợp bị chém chết tại bến này năm 1592.
JPEG - 27.9 kb
Tháp cũ chùa Bồ Đề. Ảnh NCCong ©2007
Chùa Bồ Đề nhìn ra sông Hồng hơi chếch về hướng tây. Tương truyền chùa được xây trên đất dinh Bồ Đề của Lê Lợi. Vua đóng đại bản doanh ở nơi này để tiện quan sát và chỉ huy chiến dịch bao vây quân Minh do Vương Thông cầm đầu cố thủ trong thành Đông Quan năm 1427.
JPEG - 42.6 kb
Nhà Tổ chùa Bồ Đề trước kia. Ảnh: Võ Văn Tường 2007
Dinh được đặt tên là Bồ Đề vì lúc ấy trong khuôn viên có hai cây bồ đề to. Sử cũ còn ghi: “Vua làm lầu nhiều tầng ở dinh Bồ Đề trên bờ sông, cao bằng tháp Báo Thiên, hàng ngày ngự trên lầu quan sát vào trong thành xem giặc làm gì”… Bồ Đề cũng đã đi vào trong câu hát đồng dao của trẻ em:
“Nhong nhong ngựa ông đã về
Cắt cỏ Bồ Đề cho ngựa ông ăn.”
Tấm bia cổ dựng năm Hoằng Định thứ 15 (1614) đời Lê Kính Tông có chép việc dựng lại chùa và ghi rõ “Đại công đức Bồ Đề” của vua Lê Thái Tổ.

Lối vào chùa Bồ Đề. Panorama ©2014 NCCong
JPEG - 79.5 kb
Chùa Bồ Đề sau năm 2013. Ảnh ©2014 NCCong
Thế nhưng cũng có ý kiến cho rằng chùa được xây từ cuối đời nhà Trần, trên một gò đất cao gọi là Núi Trời nên mới có tên chữ Thiên Sơn tự. Sau này, do bị chiến tranh tàn phá nên năm 1614, chùa được trùng tu tôn tạo trên nền chùa cũ và công đức khắc in vào hai quyển Pháp Hoa kinh để lưu hành.
Đến giữa thế kỉ 18, chùa lại tiếp tục bị chiến tranh huỷ hoại. Năm Giáp Tuất đời Tự Đức 27 (1874), đại sư Thích Nguyên Biểu, tự hiệu Nhất Thiết đại sư (1835—1906) đến trụ trì và ngài đã trùng tu, tôn tạo trên nền chùa cũ gồm thượng điện rộng 5 gian, cho thỉnh thêm tượng Phật mới, chùa Hộ, nhà Thiêu hương, nhà Pháp bảo và cổng Tam quan.
JPEG - 37.5 kb
Bến Bồ Đề ngày nay. Ảnh ©2014 NCCong
Đầu thế kỉ 20, chùa Bồ Đề trở thành trung tâm đào tạo tăng ni của thành phố Hà Nội, do Hoà thượng Thích Trí Hải (1906 -1979) đảm trách. Năm 1946, Pháp trở lại gây chiến, trung tâm đã phải dời đi nơi khác. Năm 1951, nước sông Hồng dâng cao, chùa bị lũ lụt gây sạt lở, chỉ còn lại toà thượng điện. Năm 1971, chùa một lần nữa được trùng tu, kê kích toàn bộ thượng điện, nâng cao nền chùa và xây dựng lại hậu cung phía sau. Sau lại có Hoà thượng Thích Tâm Tịch (1915 -2005) đến trụ trì chùa trước khi trở thành đệ nhị pháp chủ GHPGVN.
Với vị trí lịch sử, chùa Bồ Đề đã trở nên nổi tiếng và là một danh thắng thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước từ nhiều năm gần đây. Trước sân chùa có bến đỗ dành cho tàu thuyền của những người đến tham quan theo đường thuỷ. Ngày 28 tháng 9 năm 1990 chùa đã được xếp hạng Di tích kiến trúc nghệ thuật quốc gia.

Sân trước chùa Bồ Đề. Panorama ©2014 NCCong
JPEG - 107.7 kb
Trong chính điện chùa Bồ Đề. Ảnh ©2014 NCCong

Kiến trúc

Dấu tích cũ của chùa Bồ Đề hầu như chỉ còn ở mấy ngôi mộ. Diện mạo chùa hiện nay chủ yếu hình thành từ những đợt sửa sang và mở rộng từ cuối thế kỷ 20. Năm 1986, chùa cho xây dựng nhà Tổ, hậu liêu, nhà khách, nhà ni, nhà bếp cũng như khu vực nhà ở của các cô nhi. Năm 1999, chùa tiếp tục xây trước tiền đường một lầu bát giác và dựng tượng Quán Thế Âm Bồ Tát cao 3,2m.
JPEG - 95.9 kb
Pho tượng Quan Âm ở sân chùa Bồ Đề. Ảnh ©2014 NCCong
Năm 2013 chùa chính được xây lại thành 3 tầng trên nền cũ mở rộng và bỏ đi mái tháp trên nóc hậu cung cũ, tô đúc và đặt tượng vào thượng điện ở tầng hai, tầng dưới thì làm hội trường. Kiến trúc chùa chính vẫn giữ theo hình chuôi vồ, bên cạnh việc xây lại toà nhà phía bắc thành 4 tầng. Vườn tháp mộ cũng được sửa sang cùng với những ngôi nhà khác nhỏ hơn ở phía nam.

Di tích lân cận

Bản đồ trực tuyến


Đông Tỉnh

Ngôi chùa bên sông Hồng và số phận bi oán của nàng công chúa Ngọc Hân

  Nhà văn Uông Triều 
ANTD.VN - Nằm sát bờ sông Hồng, ngay cạnh cầu Chương Dương bên phía Long Biên là chùa Bồ Đề và đền Ghềnh. Hẳn là vị trí của những nơi linh thiêng này có liên quan tới sự chuyển dòng của sông Hồng, khi mà bên hữu ngạn trở thành bên bồi và bên tả ngạn thành bên lở cùng với một lịch sử chứa chất những thăng trầm khôn xiết.

ảnh 1Tượng thờ Vua Quang Trung và Bắc Cung Hoàng hậu Ngọc Hân tại xã Ninh Hiệp (Hà Nội)  
Bồ Đề là một ngôi chùa lớn. Ở các quận nội thành Hà Nội, khi phố phường ngày càng đông đúc thì những nơi linh thiêng như chùa miếu cũng phải thu hẹp dần nhưng Bồ Đề vẫn có một không gian rộng rãi. Sân chùa như một quảng trường nhỏ, có lẽ là lợi thế nằm ngay cạnh sông Hồng nên sự chen lấn cũng có phần ái ngại - đó là ấn tượng đầu tiên khi đến chùa Bồ Đề và thấp thoáng những tháp mộ dưới bóng những tán cây mát rượi.
Dinh Bồ Đề: Đại bản doanh của nghĩa quân Lam Sơn
Sở dĩ chùa có tên là Bồ Đề vì tương truyền vùng đất này xưa có hai cây bồ đề to lớn. Độ cao của hai cây này sánh ngang với tháp Báo Thiên dựng phía kinh thành Thăng Long bên kia sông Hồng. Mà từ sự so sánh này ta có thể rút ra một điều thú vị, tháp Báo Thiên có lẽ là công trình kiến trúc cao nhất suốt thời Lý, Trần, Lê - là vật đối chứng để so sánh với các công trình khác, vì Bồ Đề là giống cây lớn, thân to nhiều người ôm mới xuể. Cái tên Bồ Đề còn gắn với một câu ca dao lưu truyền trong dân gian mà truy nguồn gốc thì nó gắn liền với lịch sử một thời:
“Nhong nhong ngựa ông đã về
Cắt cỏ Bồ Đề cho ngựa ông ăn” 
Câu ca dao xuất phát từ việc đóng quân của Lê Lợi xưa. Chính ở bến Bồ Đề này Lê Lợi đã cho dựng doanh trại ở đây trước khi cho quân vượt sông đánh vào thành Đông Quan (Thăng Long). Chính ở nơi này, chỉ cách kinh thành một con sông mà nghĩa quân Lam Sơn có thể dò tìm được tin tức đối phương khi tận dụng hai đỉnh ngọn cây Bồ Đề làm nơi quan sát, theo dõi động thái của giặc.
ảnh 2Mộ tháp chùa Bồ Đề
Dinh Bồ Đề trở thành đại bản doanh của nghĩa quân Lam Sơn khi vây bức thành Đông Quan và chính ở dinh Bồ Đề, Nguyễn Trãi đã vâng mệnh Lê Lợi thảo thư chiêu hàng gửi sang cho tướng giặc là Vương Thông và cuối cùng không chịu được áp lực vây thành, đánh du kích và những lời lẽ mạnh như cả một đạo quân của Nguyễn Trãi, giặc Minh đã xin hàng, trả lại thành Đông Quan, xin rút quân về nước. Đây là một trong những chiến thắng lớn và quan trọng bậc nhất của nghĩa quân Lam Sơn trong việc quét sạch giặc Minh ra khỏi bờ cõi sau 20 năm đô hộ.
ảnh 3Ngay bến sông Hồng, rất gần với chùa Bồ Đề là đền Ghềnh thờ Công chúa Ngọc Hân (1770-1799)
Những góc khuất lịch sử
Vinh quang là thế nhưng ở khu vực này cũng từng chứng kiến không ít những đắng cay của lịch sử. Bến Bồ Đề chính là nơi chúa Trịnh Tùng đã cho xử trảm vị vua thứ 5 của nhà Mạc là Mạc Mậu Hợp (1560-1592) sau 3 ngày treo sống, chặt đầu và đóng đinh vào mắt, trong thời kỳ loạn lạc phân tranh.
Nhưng sự đắng cay của lịch sử còn ghi thêm một bước nữa ở ngay bến sông này, rất gần với chùa Bồ Đề là đền Ghềnh thờ Công chúa Ngọc Hân. Tại sao Công chúa lừng lẫy nhất của nhà Lê, vợ của Hoàng đế Quang Trung lại được thờ ở một ngôi đền khiêm tốn ngay bờ sông này. Lịch sử có những góc khuất và những nỗi đau mà mỗi lần lật giở lại thấy nhói lên không yên.
Ai cũng biết rằng khi Nguyễn Huệ ra Bắc, Công chúa Ngọc Hân (1770-1799) sớm trở thành người vợ yêu của người anh hùng áo vải. Nhưng Nguyễn Huệ mất quá sớm, sự nghiệp dở dang và dẫn đến những bi kịch đau lòng. Bắc cung Hoàng hậu Ngọc Hân mất ở trong Huế và được an táng trong Phú Xuân nhưng mẹ của Ngọc Hân là bà Chiêu nghi Nguyễn Thị Huyền đã không yên lòng khi người con gái của mình vùi xương nơi đất người.
Bà đã bí mật nhờ người đưa xương cốt của Ngọc Hân trở về quê cũ là làng Nành, Phù Ninh, nay là xã Ninh Hiệp, Gia Lâm, Hà Nội chôn cất. Tưởng ra đất Bắc gửi nắm xương tàn ở quê mẹ thì được yên thân nhưng sự đời lại không yên thấm như thế. Số là sau nhiều năm, ngôi miếu chôn cất Ngọc Hân dưới một cái tên khác đã bị đổ nát thì một ông tú trong làng vì thương xót mẹ con nàng đã cho dựng lại khang trang.
ảnh 4Chùa Bồ Đề (Thiên Sơn tự) được xây từ thế kỷ XV trên bờ sông Hồng thuộc đất thôn Phú Viên, xã Bồ Đề, huyện Gia Lâm (Trong ảnh: Toàn cảnh chùa Bồ Đề ngày nay) 
Nhưng một kẻ xấu bụng trong làng biết việc ấy đã làm đơn tố cáo với triều đình Huế rằng vẫn có nơi dung thờ thân nhân của “ngụy Huệ”. Việc trở thành một vụ án lớn. Ông tú người làng Nành bị trọng tội và Tổng đốc Bắc Ninh Nguyễn Văn Giai bị giáng chức. Nhưng đau xót nhất là mộ Công chúa Ngọc Hân bị quật lên ném xuống sông Hồng và khu vực đền Ghềnh bây giờ chính là nơi xương cốt nàng công chúa bạc mệnh được ném xuống.
Dân làng Ái Mộ thương tiếc Ngọc Hân cho lập một đền thờ nàng và để tránh những con mắt nhòm ngó, Ngọc Hân được gọi là “mẫu Thoải” và tượng của nàng được đặt sâu trong khám kín. 

Những dòng thơ đầy thương xót
Sông Hồng thay đổi dòng chảy, phía bên tả ngạn trở thành bên lở, một lần lũ lớn, ngôi đền bị cuốn đi nhưng có một người đàn bà tên là Đặng Thị Bản đã quyên góp hảo tâm xây dựng một ngôi đền mới. Gọi là đền Ghềnh vì trước đây khu vực này có một cái ghềnh nước xoáy, có lẽ sau này do sự thay đổi dòng chảy mà ghềnh không còn nữa.
Chùa Bồ Đề giờ đã khang trang thoáng mát với tòa ngang dãy dọc. Còn đền Ghềnh, nổi tiếng là linh thiêng luôn có rất nhiều người đến lễ bái và đặc biệt trong Lễ hội đền Ghềnh có một phần mô phỏng lại cuộc đời truân chuyên của Ngọc Hân khi xưa.
Tôi đến đền Ghềnh một buổi chiều muộn. Ngõ nhỏ. Ngôi đền ẩn mình dưới những tán cây rậm rạp, nhìn ra sông Hồng cuồn cuộn chảy mà nhớ rằng Công chúa Ngọc Hân đã từng viết những dòng thơ đầy thương xót để đưa tiễn chồng là Hoàng đế Quang Trung về nơi chín suối. Đọc những đoạn trong bài “Ai tư vãn” của nàng trong bóng chiều chạng vạng trong ngôi đền cổ mà lòng thêm cảm thương cho người phụ nữ tài hoa, bạc mệnh.
“Giờ sao bỗng thờ ơ lặng lẽ!
Tình cô đơn, ai kẻ xét đâu?
Xưa sao gang tấc gần chầu,
Trước sân phong nguyệt, trên lầu sinh ca,
Giờ sao bỗng cách xa đôi cõi,
Tin hàn huyên khôn hỏi thăm nhanh!
Nửa cung gẫy phím cầm lành,
Nỗi con côi cút, nỗi mình bơ vơ!
Nghĩ nông nỗi, ngẩn ngơ đòi lúc,
Tiếng tử qui thêm giục lòng thương!
Não người thay cảnh tiên hương!
Dạ thường quanh quất mắt thường ngóng trông…”.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét