Chuyển đến nội dung chính

Cựu giáo chức Việt khen giáo dục thời Pháp 'chất lượng, khai phóng'

Chương trình giáo dục Pháp được những người từng học nhận xét dù nặng nhưng sắp xếp khoa học, khuyến khích sự say mê và tư duy sáng tạo.


Nhiều học sinh theo chương trình phổ thông Pháp ở Việt Nam trước 1954 hiện là những cựu giáo chức tóc bạc da mồi. Họ vẫn nhớ kỷ niệm thời cắp sách đến trường 60-70 năm trước.
Ngày học hai buổi, thầy giáo rất nghiêm khắc
Ông Võ Văn Mậu (84 tuổi, ngụ quận 5, TP HCM), nguyên giáo viên trường Pétrus Ký, nay là THPT chuyên Lê Hồng Phong, từng theo chương trình tiểu học Pháp ở huyện Mỏ Cày (Bến Tre). Sáu tuổi bước vào lớp đồng ấu (lớp 1), thầy giáo đã dạy tiếng Pháp và đây là ngôn ngữ chính suốt cấp học.
cuu-giao-chuc-viet-khen-giao-duc-thoi-phap-chat-luong-khai-phong
Ông Võ Văn Mậu. Ảnh: Mạnh Tùng
Học sinh cấp một học một tuần năm ngày, mỗi ngày hai buổi, sáng từ 7h30 đến 11h, chiều từ 13h30 đến 16h30. Mỗi tuần có thêm vài giờ tiếng Việt với các môn học thuộc lòng, ngữ pháp, chính tả.
Ông Mậu kể, mỗi huyện khi đó mới có một trường tiểu học, mỗi trường có 4-5 lớp đồng ấu (khoảng 30 em) nhưng rơi rụng dần khi lên lớp cao hơn như dự bị, lớp ba, lớp nhì, lớp nhất. Lý do chương trình học nặng và khó, thi cử đánh giá rất nghiêm ngặt.
Thầy giáo thời đó rất nghiêm, phần học trò thì kính nể và sợ uy của thầy. Trong lớp học không có chuyện trò nghịch ngợm, làm ồn bởi thầy nhắc nhở nhiều lần thì có quyền đuổi trò hư ra khỏi lớp. Trường hợp nghiêm trọng, giáo viên có thể đề nghị hiệu trưởng cho thôi học.
Đến lớp ba, học sinh nào không thể giao tiếp bằng tiếng Pháp sẽ bị cho nghỉ. Kết thúc mỗi lớp học đều có kỳ thi sát hạch với hai phần viết và vấn đáp. "Phần thi vấn đáp là khó nhất, bởi mấy giám khảo là ông Tây, bà đầm hỏi đủ kiến thức", ông nhớ lại.
Hết chương trình tiểu học, học sinh phải nắm vững kiến thức lịch sử Đông Dương, đọc sách và nói chuyện những sự kiện chính của Pháp, cuộc cách mạng công nghiệp, những phát minh lớn và cuộc khám phá vùng đất mới... Môn văn phải nắm được tác phẩm kinh điển thế kỷ 17-18.
Trung bình mỗi kỳ thi cấp chứng chỉ tiểu học tỷ lệ đậu chỉ chừng 20-25%. Khóa thi của ông Mậu chưa đầy 20 học trò ở huyện Mỏ Cày đậu tiểu học, ở xã quê ông chỉ được vài người.
cuu-giao-chuc-viet-khen-giao-duc-thoi-phap-chat-luong-khai-phong-1
Một lớp tiểu học chương trình Pháp ở Châu Đốc. Ảnh tư liệu
Sau đó, ông Mậu lên Sài Gòn theo chương trình bậc thành chung ở trường Thực nghiệp Sài Gòn, học song song với chương trình sư phạm. Học sinh được cấp học bổng 200-350 đồng mỗi tháng, hỗ trợ chi phí ăn ở, nhưng phải cam kết sau khi tốt nghiệp làm công tác giảng dạy ít nhất 10 năm.
Tốt nghiệp sư phạm, ông và nhiều đồng môn được sắp xếp nơi làm việc, người nào giỏi được quyền lựa chọn trường về dạy.
Đánh giá về chương trình giáo dục Pháp đã trải qua, ông Mậu nhận xét ngắn gọn "chất lượng tốt, phân hóa rõ ràng". Chương trình học đã tạo động lực "ép" học sinh phải chăm chỉ, say mê học tập bởi chỉ cần xao nhãng, không theo kịp bạn bè, người đó sẽ bị đào thải.
Ngoài ra, hệ thống đánh giá chất lượng của Pháp minh bạch, không cào bằng. "Mỗi tháng, mỗi quý họ đều có kỳ kiểm tra, phân loại và xếp hạng học trò. Người nào kém thì nhìn vào đó, biết mình đang ở đâu đặng tiến lên theo kịp người ta".
Dạy học, ra đề, chấm thi theo hướng mở
Cùng chương trình Pháp song ông Nguyễn Minh Nhựt (74 tuổi, ngụ tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu), nguyên giáo viên THPT ở TP HCM, lại tiếp thu nó trên đất Campuchia bởi ông được sinh ra ở đây và có cha công tác ở sở Hỏa xa Đông Dương.
Chương trình tiểu học Pháp được áp dụng cho toàn Đông Dương, ngôn ngữ giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Pháp. Bạn bè trong lớp xuất thân từ nhiều hoàn cảnh, có người con công chức cao cấp, hay viên chức bậc trung và cả con cháu Hoàng gia Campuchia.
Đến bậc thành chung và tú tài, ông về Việt Nam và theo học ở Chasseloup Laubat (trường THPT Lê Quý Đôn ngày nay), vẫn học theo chương trình tiếng Pháp nên gần như ông không biết đọc, viết tiếng Việt, chỉ giao tiếp ở mức sơ cấp.
Ông phải tự học tiếng Việt cùng sự giúp đỡ của nhiều thầy cô ở Đại học Sư phạm Sài Gòn với nguyện vọng công tác ở Việt Nam. Ra trường năm 1968 làm giáo viên Sử - Địa, ông được phân công dạy ở nhiều trường như Thoại Ngọc Hầu (An Giang), Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu), Pétrus Ký, Trần Khai Nguyên (Sài Gòn)... 
"Có đi dạy học, hiểu được nghề mình mới nhận ra nhiều giá trị quý giá của nền giáo dục Pháp hồi nhỏ mình theo học", ông giáo chia sẻ. Theo ông Nhựt, phương pháp giáo dục của Pháp là học tại chỗ, học trò được ôn luyện ngay trên lớp, về nhà sẽ có bài tập riêng được sửa trong buổi học sau.
Đầu tiên, các trò đổi chéo bài làm cho nhau để kiểm tra, sau đó một vài người sẽ được lên bảng trình bày bài giải. Tiếp đó thầy giáo cho học trò tranh luận xem bạn mình đúng sai, hay dở ra sao rồi sẽ kết luận bài học.
Trong lớp, học sinh có thể giơ tay phát biểu bất cứ lúc nào nếu cảm thấy không hiểu bài hoặc không đồng ý với quan điểm của thầy. Thầy sẽ lắng nghe để giải thích cho trò và bảo vệ quan điểm của mình, cho đến khi trò bị thuyết phục.
Cho học trò quyền tự do tranh luận nhưng không có nghĩa giáo viên dễ mà trái lại rất nghiêm. Chẳng hạn với môn tiếng Pháp bậc tiểu học, mỗi ngày thầy giáo dạy nhuần nhuyễn cho học trò 10 từ vựng. Bài học hôm sau, thầy có thể kiểm tra bất kỳ học trò nào về từ cũ đã học, ai không thuộc sẽ bị phạt roi và chép phạt.
Sở dĩ giáo viên có thời gian dành cho học trò nhiều mà không sợ "cháy" giáo án, bởi giáo án dạy học của Pháp không mang tính áp đặt. Chương trình dạy được sắp xếp có trình tự theo dạng cuốn chiếu, các chuỗi kiến thức liên kết chặt chẽ với nhau.
cuu-giao-chuc-viet-khen-giao-duc-thoi-phap-chat-luong-khai-phong-2
Học sinh trung học trong một giờ Hóa học chương trình Pháp đầu thế kỷ 20. Ảnh tư liệu
Theo ông Nhựt, chương trình Pháp nặng bởi yêu cầu kết quả đạt được cao nhưng không ôm đồm. Họ đi từng bước một miễn sao học trò học tới đâu phải nắm chắc tới đó.
Ông Nhựt kể, thế hệ học sinh của mình gần như không biết đến quay cóp trong giờ thi, bởi "có giở sách vở hoặc xem bài bạn cũng chẳng làm được bài". Lối ra đề của Pháp theo hướng tổng hợp, vận dụng kiến thức chung, sẽ không có câu hỏi nào chỉ nằm gói gọn trong một đơn vị bài học.
Tới khâu chấm thi, giáo viên không cho điểm trên cơ sở đáp án, đúng sai mà dựa vào lập luận trong bài làm thuyết phục hay không. "Từ lúc dạy học đến cho đề rồi chấm thi của họ thời đó đều theo hướng mở. Sẽ không có một nút thắt ở bất cứ vấn đề nào để khai phóng học sinh có thể phản biện tiếp, từ đó nảy ra cái mới hơn", ông giáo nhận xét.
Bằng kinh nghiệm mấy chục năm dạy học, ông Nhựt cho rằng, ngành giáo dục Việt Nam có thể chắt lọc và học tập một số ưu điểm giáo dục Pháp từ trước để hoàn thiện mình.
Mạnh Tùng  

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA ĐẸP VÀ SÀNH ĐIỆU NHƯ THẾ NÀO?

Váy suông, bó sát, váy xòe… du nhập vào các đô thị miền Nam những năm 60, 70 và nhanh chóng được phụ nữ đón nhận. Nhiều người đến Sài Gòn lúc ấy đều ngạc nhiên về nét đẹp hiện đại và ăn mặc hợp mốt của những quý cô thành thị. Thời trang của phụ nữ Sài Gòn xưa Phụ nữ Sài Gòn – Đi về phía trước
Đôi mắt to sáng lấp lánh, khuôn miệng nhỏ xinh lanh lợi và đôi má bầu bĩnh là nét đẹp
đặc trưng của thiếu nữ Sài Gòn xưa. Đội thêm một chiếc mũ bê rê được ưa chuộng
thời điểm này làm tăng nét cá tính cho cô gái trẻ. Phong cách của người phụ nữ xinh đẹp trong bộ váy xòe chấm bi bồng bềnh, thắt
eo gọn cùng kiểu tóc sang trọng vẫn không hề lỗi mốt cho đến bây giờ. Nữ sinh lớp Đệ Tam (tương đương lớp 10) trường Quốc Gia Nghĩa Tử, Sài Gòn năm 1968. Áo dài nữ sinh trên đường Lê Lợi, đoạn trước Công ty xe hơi Kim Long
(bên cạnh thương xá Tax) năm 1965. Phụ nữ Sài Gòn năm 1963. Thời đó, vào mỗi chiều cuối tuần,
phụ nữ Sài Gòn thường đi dạo, bát phố trên đường Lê Lợi, Tự Do. Ảnh chụp vào tháng 12 năm 1967.

CHÂN DUNG CÁC MỸ NHÂN SÀI GÒN TRÊN BÌA TẠP CHÍ VIỆT NAM TRƯỚC 1975

Cùng nhìn lại ảnh của các “hotgirl” Sài Gòn để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng những năm tháng cũ ấy. Tạp chí “Vietnam” là ấn phẩm quốc tế được phát hành ở Sài Gòn trước năm 1975 và có rất nhiều trang bìa chụp các người đẹp nổi danh khi ấy của đất phương Nam. Có thể kể đến những cái tên như ca sĩ nổi tiếng Phạm Thị Hiếu, hotgirl Sài Gòn Nguyễn Thi Kim Anh hay nữ nghệ sĩ Bạch Lan Thanh đều góp mặt ở đây. Hãy cùng nhìn lại các mỹ nhân thời xưa để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng của những năm tháng cũ ấy. Túy Phượng Nguyễn Thị Túy Phượng – người nhận được giải thưởngtrang phục đẹp nhất tại Liên hoan nhạc Pop tổ chức tại Sài Gòn ngày 30/1/1972. Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu, cùng tuổi với các nữ tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui và nữ nghệ sĩ Bích Sơn. Ở tuổi 14, 15 Túy Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai diễn nhí nhảnh, hồn nhiên. Đến tuổi 16, 17, khi nghề nghiệp đã định hình, diễn xuất có chiều sâu, Phượng thu hút người xem tr…

Vị bánh cuốn gốc Bắc hơn nửa thế kỷ ở Sài Gòn

Dĩa bánh nóng hổi, thơm phức được tráng theo công thức truyền thống của một gia đình gốc Bắc di cư vào Sài thành từ những năm 50.

Bánh cuốn là món ăn có tiếng ở miền Bắc, đặc biệt là đất Hà thành. Từ thôn quê, thứ bánh dân dã len lỏi vào giữa phố xá, trở thành món "ruột" của người thành thị. Không rõ món ăn này du nhập vào Sài Gòn chính xác từ khi nào, tôi chỉ biết trong một con hẻm nhỏ có quán bánh cuốn do một gia đình gốc Bắc lập ra, từ khi vào Sài Gòn ngót nghét hơn 63 năm trước. Quán bánh tên Song Mộc, mở cửa chính xác vào năm 1954. Những túp lều xanh cạnh bên những tán cây tại quán Song Mộc. Ảnh: Phong Vinh. Bánh cuốn ở quán luôn nóng hổi vì người đứng bếp chỉ tráng bánh khi có khách. Lớp bánh được tráng chín tới, có độ mỏng vừa phải, mềm dai nhưng không dễ rách. Nhân bên trong không mướt như thường thấy mà hơi khô, được nêm nếm theo công thức gia truyền nên có vị khác lạ. Sau khi bánh cuốn nhân xong thì được xếp gọn ghẽ trên dĩa, rắc thêm một nhúm hành phi giòn, vàng …