Chuyển đến nội dung chính

Trường đại học được hình thành từ thời Pháp ở Sài Gòn

Bắt đầu từ lớp cao đẳng dự bị, qua nhiều lần sáp nhập, trường phát triển và giờ trở thành Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.

Đầu thập niên 50 của thế kỷ 20, do tình hình chính trị phức tạp, Pháp bỏ tên Đại học Đông Dương, tập hợp các trường Y khoa, Luật và Khoa học thành Viện Đại học hỗn hợp Việt - Pháp. Viện trưởng là một người Pháp, viện phó là người Việt. Họ còn mở thêm chi nhánh ở Sài Gòn với một số lớp đại học và cao đẳng dự bị, do nhu cầu theo bậc đại học ở Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ phát triển mạnh.
Ngôi trường trên nền cũ của thành lũy, đồn binh
Lớp Cao đẳng dự bị Văn chương Pháp mở ra nhằm giúp thanh niên người Việt và Pháp chuẩn bị điều kiện cần thiết để tiếp tục theo học đại học ở Pháp, do ông Nguyễn Thiệu Lâu làm Tổng thư ký.
Lớp Văn chương Pháp phát triển thành Ban dự bị Văn khoa Pháp năm 1955 rồi trở thành Cao đẳng dự bị Văn khoa Pháp. Lúc này, lớp phải mượn tạm lớp học của trường Kỹ nghệ thực hành ở đường Hồng Thập Tự (nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai) để học vào buổi tối.
Khi lớp học dời về trường Pétrus Ký thì sinh viên được học vào ban ngày. Cao đẳng dự bị Văn khoa Pháp sau đó sáp nhập với Đại học Văn khoa từ Hà Nội chuyển vào trở thành Đại học Văn khoa, trực thuộc Viện Đại học Quốc gia Việt Nam (tức Viện Đại học hỗn hợp Việt - Pháp từ Hà Nội chuyển vào, sau đó được chuyển giao cho Chính phủ Quốc gia Việt Nam). Trụ sở trường ở góc đường Nguyễn Trung Trực và Gia Long, nơi diễn ra lễ khai giảng đầu tiên năm 1957.
dh-khoa-hoc-xa-hoi-va-nhan-van-duoc-thai-nghen-tu-thoi-phap
Đại học Văn khoa trong ngày đầu thành lập. Ảnh tư liệu Đại học Văn khoa.
Muốn theo học ở Đại học Văn khoa, ứng viên phải có bằng tú tài toàn phần Việt Nam hoặc bằng tú tài ở nước ngoài. Đến năm học tiếp theo 1958-1959, ứng viên phải có bằng tú tài văn chương. Khi nhập học, sinh viên phải qua một năm dự bị và suốt quá trình học ở trường, họ không phải đóng học phí. Sau khi trúng tuyển kỳ thi cuối năm dự bị, sinh viên học tiếp các chứng chỉ cử nhân.
Mỗi năm học, sinh viên được ghi tên học tối đa hai chứng chỉ cử nhân và có thể dự thính những chứng chỉ khác với tư cách bàng thính viên (ngồi nghe, không được coi là chính thức). Có 16 chứng chỉ cử nhân Đại học Văn khoa đào tạo trong năm học đầu tiên gồm: Văn chương Việt Nam, Hán học cổ kim, Hán học kim văn, Văn chương Pháp, Ngữ học Pháp, Văn chương và văn minh Anh, Ngữ học Anh, Sử Việt Nam, Tâm lý học...
Từ năm 1964, Đại học Văn khoa dời về đường Cường Để (đường Đinh Tiên Hoàng ngày nay) trong khuôn viên thành Cộng Hòa cũ. Đây vốn là doanh trại quân sự khép kín, được Pháp cho xây kiên cố bằng bêtông cốt thép từ năm 1870 theo phong cách kiến trúc pháo đài phòng thủ.
Tại đây, các chàng trai cô gái Văn khoa được sống trong khung trời mơ mộng với ngôi trường cổ kính và những con đường rợp bóng cổ thụ. Sát bên trường Văn khoa là Thảo Cầm Viên như một khu rừng thu nhỏ giữa lòng thành phố và ngôi trường Trưng Vương với những nữ sinh duyên dáng mỗi buổi tan trường.
"Hỡi người tình Văn khoa, bóng người trên hè phố; Lá đổ để đưa đường, hỡi người tình Trưng Vương" là những câu hát trong bài Con đường tình ta đi của nhạc sĩ Phạm Duy đã trở nên quen thuộc với sinh viên Văn khoa ngày đó.
Khu "tam giác sắt" ở trung tâm Sài Gòn
Đại học Văn khoa là một trong những trung tâm của phong trào đấu tranh của sinh viên Đô thành Sài Gòn - Chợ Lớn trước 1975. Ngày 1/5/1957, sinh viên đại học này tổ chức xuống đường cùng hàng nghìn công nhân đưa yêu sách gồm 39 điều của Tổng liên đoàn lao động, trong đó điều cuối cùng đòi thống nhất đất nước bằng phương pháp hòa bình.
Trong năm đó, Ban Cán sự học sinh, sinh viên do Hồ Hảo Hớn chỉ đạo cử đại diện lên Nha Học chính, đòi mở thêm trường công, thực hiện chuyển ngữ ở đại học. Tiếp đó, phong trào đòi dùng tiếng Việt ở bậc đại học ra đời, lan rộng ra các trường đại học ở miền Nam.
ngoi-truong-tren-dau-tich-thanh-co-hon-140-nam-tuoi-giua-sai-gon-1
Một cuộc biểu tình của sinh viên Sài Gòn trước 1975. Ảnh tư liệu Đại học Văn khoa.
Trước khi Mỹ đổ quân viễn chinh vào miền Nam Việt Nam, không khí chính trị ở đô thành Sài Gòn nóng dần lên, nhất là ở các đại học. Các giáo sư Nguyễn Đăng Thục, Tôn Thất Dương Kỵ, Nguyễn Văn Kiết, Nghiêm Thẩm… đứng ra cảnh báo tình hình nghiêm trọng của đất nước, giúp sinh viên có thêm động lực cho các hoạt động chống chiến tranh, đòi hòa bình, thống nhất.
Ở Sài Gòn khi đó hình thành một khu "tam giác sắt" ngay trung tâm thành phố, như một căn cứ địa do sinh viên làm chủ, trong đó Đại học Văn khoa là mũi nhọn. Giữa năm 1968, chính quyền Sài Gòn bao vây trụ sở Tổng hội sinh viên Sài Gòn ở số 4 đường Duy Tân và tuyên bố xóa sổ trụ sở.
Cuối năm đó, Tổng hội dời về trường Nông Lâm Súc. Từ đó, trường Nông Lâm Súc, Dược khoa và Văn khoa trên đường Cường Để tạo thành trung tâm của phong trào sinh viên Sài Gòn. Suốt những năm tháng ấy, hầu như ngày nào cũng có biểu tình, đấu tranh ở khu vực này và khu công trường trước Hạ viện cho đến ngày thống nhất đất nước.
Cùng với phong trào đấu tranh chống quân sự hóa học đường, sinh viên Văn khoa ngày ấy quyết liệt chống đàn áp học sinh, sinh viên. Họ cùng hàng nghìn sinh viên Sài Gòn đã thức trắng đêm 24/4/1970 để tang Việt kiều bị chính quyền Lon Nol khủng bố.
ngoi-truong-tren-dau-tich-thanh-co-hon-140-nam-tuoi-giua-sai-gon-2
Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn ngày nay. Ảnh: hcmussh.edu.vn
Năm 1976, Đại học Văn khoa và Đại học Khoa học từ Viện Đại học Sài Gòn được sáp nhập thành Đại học Tổng hợp TP HCM, chuyên đào tạo cán bộ nghiên cứu khoa học tự nhiên và xã hội, giảng viên giảng dạy khoa học cơ bản cho các trường trong khu vực.
Khi đó, trường có 16 khoa Toán, Vật lý, Hóa, Sinh, Địa lý, Địa chất, Ngữ văn, Lịch sử, Triết học, Kinh tế, Thư viện, Ngữ văn Anh, Ngữ văn Pháp, Ngữ văn Nga, Đông Phương học và bộ môn Luật.
20 năm sau đó, Đại học Tổng hợp được tách ra thành Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn và Đại học Khoa học Tự nhiên thuộc hệ thống Đại học Quốc gia TP HCM.
Hiện, đại học này có hơn 20.000 người học, với hàng trăm học viên nước ngoài, trở thành trung tâm đào tạo nhân lực ngành khoa học xã hội và nhân văn lớn ở phía Nam.
Mạnh Tùng 

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

PHỤ NỮ SÀI GÒN XƯA ĐẸP VÀ SÀNH ĐIỆU NHƯ THẾ NÀO?

Váy suông, bó sát, váy xòe… du nhập vào các đô thị miền Nam những năm 60, 70 và nhanh chóng được phụ nữ đón nhận. Nhiều người đến Sài Gòn lúc ấy đều ngạc nhiên về nét đẹp hiện đại và ăn mặc hợp mốt của những quý cô thành thị. Thời trang của phụ nữ Sài Gòn xưa Phụ nữ Sài Gòn – Đi về phía trước
Đôi mắt to sáng lấp lánh, khuôn miệng nhỏ xinh lanh lợi và đôi má bầu bĩnh là nét đẹp
đặc trưng của thiếu nữ Sài Gòn xưa. Đội thêm một chiếc mũ bê rê được ưa chuộng
thời điểm này làm tăng nét cá tính cho cô gái trẻ. Phong cách của người phụ nữ xinh đẹp trong bộ váy xòe chấm bi bồng bềnh, thắt
eo gọn cùng kiểu tóc sang trọng vẫn không hề lỗi mốt cho đến bây giờ. Nữ sinh lớp Đệ Tam (tương đương lớp 10) trường Quốc Gia Nghĩa Tử, Sài Gòn năm 1968. Áo dài nữ sinh trên đường Lê Lợi, đoạn trước Công ty xe hơi Kim Long
(bên cạnh thương xá Tax) năm 1965. Phụ nữ Sài Gòn năm 1963. Thời đó, vào mỗi chiều cuối tuần,
phụ nữ Sài Gòn thường đi dạo, bát phố trên đường Lê Lợi, Tự Do. Ảnh chụp vào tháng 12 năm 1967.

CHÂN DUNG CÁC MỸ NHÂN SÀI GÒN TRÊN BÌA TẠP CHÍ VIỆT NAM TRƯỚC 1975

Cùng nhìn lại ảnh của các “hotgirl” Sài Gòn để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng những năm tháng cũ ấy. Tạp chí “Vietnam” là ấn phẩm quốc tế được phát hành ở Sài Gòn trước năm 1975 và có rất nhiều trang bìa chụp các người đẹp nổi danh khi ấy của đất phương Nam. Có thể kể đến những cái tên như ca sĩ nổi tiếng Phạm Thị Hiếu, hotgirl Sài Gòn Nguyễn Thi Kim Anh hay nữ nghệ sĩ Bạch Lan Thanh đều góp mặt ở đây. Hãy cùng nhìn lại các mỹ nhân thời xưa để thấy nét đẹp dung dị, dịu dàng của những năm tháng cũ ấy. Túy Phượng Nguyễn Thị Túy Phượng – người nhận được giải thưởngtrang phục đẹp nhất tại Liên hoan nhạc Pop tổ chức tại Sài Gòn ngày 30/1/1972. Túy Phượng tên thật là Nguyễn Thị Kim Phụng, sinh năm 1939 tại Bạc Liêu, cùng tuổi với các nữ tài tử: Thẩm Thúy Hằng, Kiều Chinh, Kim Vui và nữ nghệ sĩ Bích Sơn. Ở tuổi 14, 15 Túy Phượng đã được khán giả yêu thích qua những vai diễn nhí nhảnh, hồn nhiên. Đến tuổi 16, 17, khi nghề nghiệp đã định hình, diễn xuất có chiều sâu, Phượng thu hút người xem tr…

Vị bánh cuốn gốc Bắc hơn nửa thế kỷ ở Sài Gòn

Dĩa bánh nóng hổi, thơm phức được tráng theo công thức truyền thống của một gia đình gốc Bắc di cư vào Sài thành từ những năm 50.

Bánh cuốn là món ăn có tiếng ở miền Bắc, đặc biệt là đất Hà thành. Từ thôn quê, thứ bánh dân dã len lỏi vào giữa phố xá, trở thành món "ruột" của người thành thị. Không rõ món ăn này du nhập vào Sài Gòn chính xác từ khi nào, tôi chỉ biết trong một con hẻm nhỏ có quán bánh cuốn do một gia đình gốc Bắc lập ra, từ khi vào Sài Gòn ngót nghét hơn 63 năm trước. Quán bánh tên Song Mộc, mở cửa chính xác vào năm 1954. Những túp lều xanh cạnh bên những tán cây tại quán Song Mộc. Ảnh: Phong Vinh. Bánh cuốn ở quán luôn nóng hổi vì người đứng bếp chỉ tráng bánh khi có khách. Lớp bánh được tráng chín tới, có độ mỏng vừa phải, mềm dai nhưng không dễ rách. Nhân bên trong không mướt như thường thấy mà hơi khô, được nêm nếm theo công thức gia truyền nên có vị khác lạ. Sau khi bánh cuốn nhân xong thì được xếp gọn ghẽ trên dĩa, rắc thêm một nhúm hành phi giòn, vàng …